DIỄN ĐÀN VIỆT NAM NGÀY MAI. VIETNAM TOMORROW

VIỆT NAM NGÀY MAI  là diễn đàn của giới trí thức, các nhà nghiên cứu, bậc thức giả, những thanh niên sinh viên yêu nước, những công nhân đang bị bóc lột sức lao động với đồng lương ít ỏi không đủ sống, những đồng bào dân oan trên cả nước đã bị tước doạt tài sản, nhà cửa ruộng vườn không còn chỗ nương thân, của tất cả người Việt Nam yêu nước đang ưu tư về tương lai của dân tộc.

Hơn một thế kỷ qua, dân tộc chúng ta phải  tranh đấu giành lại độc lập dân tộc, quyền dân chủ tự do của nhân dân Việt Nam. Cuộc đấu tranh cho dân chủ tự do vẫn còn đang tiếp tục cho đến khi giành lại được quyền tự do dân chủ, quyền làm người cho 85 triệu đồng bào Việt Nam khốn khó của chúng ta.  

DÂN TỘC VIỆT  là một dân tộc có lịch sử lâu đời với gần năm ngàn năm văn hiến. Lịch sử Việt là lịch sử trường kỳ đấu tranh để lập quốc và bảo vệ đất nước trước kẻ thù truyền kiếp Hán tộc xâm lăng Trung Quốc ngày xưa và đế quốc Trung Cộng bành trướng ngày nay.

Chúng tôi mong rằng bạn sẽ xem VIỆT NAM NGÀY MAI là của tất cả chúng ta, những người Việt Nam yêu nước. Đã đến lúc chúng ta phải đặt quyền lợi tối thượng của dân tộc lên trên hết, dù ở trong nước hay ở hải ngoại, chúng ta hãy nắm chặt tay nhau,  cùng chung lưng đấu cật tranh đấu cho một Việt Nam ngày mai không còn Cộng Sản, một Việt Nam ngày mai thật sự độc lập, thật sự tự do và thật sự hạnh phúc.

Đại nghĩa tất thắng hung tàn

Chí Nhân phải thay cường bạo !!!

Việt Nam Ngày mai xán lạn huy hoàng sẽ sớm đến với dân tộc chúng ta.

Dân tộc Việt Nam Độc lập
Đất nước Việt Nam phú cường
Tổ quốc Việt Nam trường tồn bất diệt
Nhân dân Việt Nam sung túc An lạc.

Trân trọng,
TM Nhóm Chủ Trương Việt Nam Ngày Mai
Quốc Việt Phạm Trần Anh

Mọi ý kiến đóng góp, liên lạc xin vui lòng gửi về địa chỉ : 10095 Larson Ave., Garden Grove, CA 92843, ĐT: 714-603-9291, hay e-mail về địa chỉ: quocvietanhpham@yahoo.com

bia-SHNB-FINAL

Công Bố Văn Kiện Lịch Sử gửi Toà Án Quốc Tế về Luật Biển

Công Bố Văn Kiện Lịch Sử gửi Toà Án Quốc Tế về Luật Biển VAC-NORCAL v. PRC

Kính thưa đồng hương Việt Nam,

Kính thưa các cơ quan truyền thông báo chí,

Kính thưa các vị lãnh đạo tinh thần các tôn giáo,

Kính thưa các cộng đồng người Việt tị nạn cộng sản trên thế giới,

Kính thưa cộng đồng Việt Nam Bắc Cali:

 

Ngày 10 tháng 12, 2009, Cộng đồng Việt Nam Bắc California (VAC-NORCAL) đã gửi đến Toà Án Quốc tế về Luật Biển tại Hamburg, Đức quốc (ITLOS) một Đơn kiện Trung Cộng (PRC) về việc Trung Cộng hằng năm ra Lệnh Cấm đánh bắt cá (Fishery Ban) bất hợp pháp trên Biển Đông và việc tàn sát, phá hủy tài sản, phương tiện sinh sống, hạ nhục và bắt giữ trái phép vô cớ ngư dân Việt Nam vô tội khi họ đang hoạt động đánh bắt hải sản sinh sống trong vùng biển Di Sản Việt Nam Cộng Hòa (Bạch Thư VNCH 1975). Trong một sự ngẫu nhiên vì theo đúng thủ tục các điều khoản của Luật biển quốc tế (UNCLOS1982) việc nộp đơn kiện của chúng ta trùng hợp vào mùa Giáng Sinh 2009, và chúng tôi cố gắng sắp xếp sao cho kịp trước đêm Thánh Lễ Giáng Sinh 2009 để phổ biến đến cùng đồng bào Việt Nam khắp nơi trên thế giới để tường.

 

Kính thưa quý vị,

Vào đêm Giáng Sinh khi người theo Ki tô giáo trên thế giới cầu nguyện cho gia đình, quê hương và hòa bình trên toàn thế giới, thì chính giờ phút ấy quê hưong chúng ta vẫn triền miên ngập tràn nỗi đau khổ vô biên, khi đất nước thân yêu còn nằm dưới gông cùm nô lệ, sự thối nát của tập đoàn thống trị cộng sản và sự nô lệ hèn hạ của chúng trước sự xâm chiếm, cướp đoạt đất đai của Trung Cộng. Còn gì đau khổ hơn khi những ngư dân vô tội Việt Nam đánh bắt hải sản mưu sinh ngay trên vùng biển thân yêu của quê cha đất tổ lại bị Hải quân Trung Cộng bắt bớ đánh đập bắn giết vô cớ, hạ nhục nhân phẩm, phá hủy mọi phương tiện mưu sinh, kể cả các phao cứu sinh chúng cũng đâm lủng bể. Khi những con tàu đánh cá, có khi phải bỏ lại dưới lòng biển khơi, thay vì đem theo cá tôm trở về bến cũ làng xưa thì lại mang về xác chết của những thân nhân trả lại cho gia đình. Con cái, vợ hiền, anh chị, cha mẹ phải nhìn xác họ mà than khóc. Rõ ràng, Trung Cộng đã thực sự hiện nguyên hình những con người dã thú, coi thường tiếng nói lương tâm công chính; Phỉ báng, xem thường luật lệ quốc tế và sự công bằng con người. Sự đau khổ vô cùng ấy thấu đến cả trời cao, bất cứ con người không phân biệt quốc gia, tôn giáo nào, ai còn lương tâm, còn trí óc không thể không chạnh lòng bật khóc.

Mùa Giáng Sinh năm nay, kính xin quý vị không phân biệt tôn giáo, chính kiến hãy cùng dâng lời cầu nguyện cho quê hương, cho đất nước sớm có hoà bình, dân chủ, tự do; Cầu nguyện cho linh hồn các anh hùng Hải quân VNCH đã hy sinh bảo vệ đất đảo Hoàng Sa của chúng ta, xin các Anh linh phò trợ cho công cuộc đấu tranh vì công lý, vì lương tâm và công bằng cho dân tộc. Chúng ta cũng dâng lời cầu nguyện giải thoát những oan hồn của đồng bào ruột thịt đã bỏ xác trong biển Đông khi đi tìm tự do, cầu siêu cho oan hồn 71 lính Hải quân cộng sản Việt Nam đã bị Trung Cộng tàn sát trên bãi đá san hô Garma ngày 14 tháng 3, 1988 và giải oan cho linh hồn tất cả ngư dân Việt Nam vô tội đã bị Trung Cộng tàn sát từ năm 2005 đến 2009 vừa qua.

Những hồi chuông giáo đường đêm Giáng Sinh sẽ mang lời nguyện cầu nồng ấm tình người của chúng ta vang vọng khắp nơi trên hành tinh, đến tận những hang cùng ngõ hẽm, những nơi đèo heo hút gió trên vùng cực bắc, hay đến tận mũi đất cuối cùng của đất nước, đến những thôn, bản làng nghèo khó trên mọi miền cao nguyên giá lạnh, đến những hải đảo xa xôi nhất của tổ quốc, lời cầu nguyện của chúng ta cũng sẽ đem lại an ủi cho từng người Việt Nam sống xa xứ còn nặng hoài bão cho quê hương ngời sáng; Và đến những ai còn đang bị giam cầm trong các trại tù cộng sản vì bất đồng chính kiến, cùng xót thương cho những linh hồn oan khiên người Việt chết thảm trên Biển Đông vì bạo lực và gian ác.

Văn kiện lịch sử VAC-NORCAL gửi Toà Án Quốc Tế về Luật Biển ngày 10 tháng 12, 2009 đánh dấu một chuyển hướng đấu tranh vì tự do dân chủ cho quê hương Việt Nam. Nó thể hiện một sự thách thức ngoại giao trước quốc tế về sự tồn tại của một thực tế Việt Nam Cộng Hòa và thực thể bạo lực cộng sản Việt Nam hiện nay. Nó chứng minh sự kiên trì của những người con thân yêu của Việt Nam vẫn luôn ngưỡng mộ sự hy sinh cao cả của những chiến sĩ Hải quân VNCH và trên hết luôn noi theo tấm gương trung trinh tiết liệt của những anh hùng tên tuổi hay vô danh đã tuẫn tiết trong bất cứ không gian thời gian nào để các thế hệ mai sau noi theo sự hy sinh vì lòng yêu nước và công chính của họ. Chúng ta luôn tôn kính sự hy sinh cao cả đó.

Sự hy sinh cao cả đó là sức mạnh quật ngã tất cả mọi quyền lực dựa trên gian ác, khủng bố và bạo lực mà cộng sản VN đang thực hiện tại quê hương. Sự hy sinh cao cả đó là thước đo lòng tốt, sự bao dung, rộng lượng của chúng ta đối với ngay chính kẻ thù của chúng ta dưới các điều kiện công lý và luật pháp. Và sau cùng sự hy sinh cao cả đó là kim chỉ nam, là phương hướng trong đêm tối của lịch sử giúp chúng ta vượt qua mọi khó khăn để thu hồi lại sự toàn vẹn lãnh thổ và danh dự cho quê hương dân tộc.

Chúng ta cùng dâng lời cầu nguyện trong khát vọng để mùa Giáng Sinh hôm nay và kế tiếp, để đất nước chúng ta sẽ trở về lại với chúng ta, toàn dân Việt sẽ tràn ngập hạnh phúc ấm no và phú cường trong nền dân chủ công chính.

 

Trân trọng,

Nguyễn Ngọc Tiên

23/12/2009 (ngày Hoa Kỳ)

24/12/2009 (ngày Việt Nam)

—– Forwarded Message —-
From: viettrade.net <viettrade_net@yahoo.com>
To: tiengdanweekly@yahoogroups.com
Sent: Mon, December 21, 2009 6:52:47 PM
Subject: Công Bố Văn Kiện Lịch Sử gửi Toà Án Quốc Tế về Luật Biển VAC-NORCAL v. PRC

 Email Box: http://groups.yahoo.com/group/tiengdanweekly/
Subject: Công Bố Văn Kiện Lịch Sử gửi Toà Án Quốc Tế về Luật Biển VAC-NORCAL v. PRC                http://newsforce1.com/itlos/itlos_hamburg121009/vacnorcal_request121009.html

Kính mong tất cả quý độc giả và thân hữu hãy giúp chuyển email này đến tất cả bằng hữu và các tổ chức hội đoàn.

Nhân mùa Giáng Sinh năm 2009 Kính xin tất cả các tôn giáo Việt Nam hãy cùng hợp lòng cầu nguyện cho đất nước chúng ta, cùng nhau cầu nguyện Ơn phước lành đến với dân tộc Việt Nam khốn khó của chúng ta vượt qua mọi thử thách khó khăn và các cộng đồng bạn, các quốc gia thân hữu sẳn lòng hổ trợ chúng ta xây dựng một quê hương Việt Nam giàu mạnh và xinh đẹp không còn chủ nghĩa cộng sản vô nhân, vô thần, vô đạo đức.

Trân trọng,

Sông Hồng

 

+++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++

Thư VAC-NORCAL gửi Thẩm phán Jose Luis Jesus Chủ tịch Tòa Án Quốc Tế tại Hamburg, Đức quốc ngày 10 tháng 12, 2009

 

 

The Republic of Vietnam

 

The Vietnamese American Community of Northern California (VAC-NORCAL)

2129 S. 10th Street

San Jose, CA 95112

(408) 242-4056, (408) 966-0777

 

December 9, 2009

 

Judge José Luis Jesus

President of the International Tribunal for the Law of the Sea

Am Internationalen Seegerichtshof 1, 22609 Hamburg,

Germany

 

Dear President and Members of the International Tribunal for the Law of the Sea (ITLOS):

 

On behalf of the Vietnamese American Community of Northern California (VAC-NORCAL),

I convey the voice and the will of the Vietnamese Community members to you and the members of the ITLOS our deepest and most sincere thanks for your time reading our VAC-NORCAL’s Statement of Claim and Request for ITLOS’ prescription for the provisional measures for the urgency of the status in the East Sea.

Mr. President and members of the ITLOS, I take this opportunity to express and consolidate our community’s expectation for the peace, the conscience, and the trustworthiness that the ITLOS has been carrying out its mission for years to settle the sea disputes among the coastal States. VAC-NORCAL is not a State, it did not sign in the UNCLOS 1982; however, inherited the political tradition and legitimate civic procedures of the Republic of Viet Nam (RVN), VAC-NORCAL believes that the ITLOS will accept our Statement of Claim and Request for provisional measures for the urgent state of the East Sea.

The dispute of the East Sea between the PRC and the RVN began in 1974 when the People’s Liberation Navy (PLAN) attacked and seized the Paracel islands on January 19, 1974. Consequently, The Foreign Affair Ministry of The RVN government instantly issued the Proclamation of the RVN Sovereignty in the East Sea and the two archipelagoes and published its White Book in 1975. The historic documents were welcomed and supported by the RVN’s friendly states all over the world. However, the state of the East Sea becomes worse and worse, and today the PRC considered its sovereignty over the East Sea and arrogantly announced the annexation of the two archipelagoes into Hainan provincial administrative system. Furthermore, the PLA issued the fishery ban every year from June to August and deliberately killed the innocent Vietnamese fishermen even they were fishing in their territorial sea. The killings of the Vietnamese innocent fishermen originated from the disputes over the East Sea and the two archipelagoes that the PRC aggressively seized from the Vietnamese people who can prove their undisputable sovereignty by historic documents and artifacts. The killings of the Vietnamese innocent fishermen are unbearable and so painful that nobody who has a little conscience can accept the wrongful deeds of the PLA. That is why VAC-NORCAL has to recourse to the ITLOS for help, and calls upon the international communities and the UN organizations to support us.

Mr. President and members of the ITLOS, we believe that for the sake of the human goodness, the human precious values, the human conscience and morality, the ITLOS will consider our Statement of Claim and the Request for provisional measures for the East Sea in its urgent state.

VAC-NORCAL avails itself of this opportunity to renew its highest honor and respect to Mr. President and the members of the ITLOS.

 

Sincerely,

Tien Nguyen

President of VAC-NORCAL

 
Subject: Công Bố Văn Kiện Lịch Sử gửi Toà Án Quốc Tế về Luật Biển VAC-NORCAL v. PRC

Xin vui lòng tham khảo tại địa chỉ: http://newsforce1.com/itlos/vacnorcal_request.html,

    http://newsforce1.com/itlos/itlos_hamburg121009/vacnorcal_request121009.html                                                                                                                   

(Please refer to this link address): http://newsforce1.com/itlos/vacnorcal_request.html 

   http://newsforce1.com/itlos/itlos_hamburg121009/vacnorcal_request121009.html

 

INTERNATIONAL TRIBUNAL FOR THE LAW OF THE SEA

 

 

 

 

IN THE DISPUTE CONCERNING

THE FISHERY BAN AND

THE KILLINGS OF THE INNOCENT VIETNAMESE FISHERMEN

BY THE PEOPLE’S REPUBLIC OF CHINA

IMPINGING UPON THE VIETNAMESE PEOPLE’S RIGHTS

IN THE EAST SEA

INCLUSIVE OF THE PARACEL AND SPRATLY ARCHIPELAGOES

 

 

                                                                                           VAC-NORCAL v. PRC

 

 

 

 

 

REQUEST FOR PROVISIONAL MEASURES

 

 

 

10 DECEMBER 2009


REQUEST FOR PROVISIONAL MEASURES

1.1.        Pursuant to Article 290(5) of the United Nations Convention on the Law of the Sea (‘the 1982 Convention’), VAC-NORCAL requests that the International Tribunal for the Law of the Sea (‘the ITLOS’) prescribe the provisional measures specified below in VAC-NORCAL’s dispute with The People’s Republic of China (‘PRC’) over the PRC’s Fishery Ban and the Killings of the innocent Vietnamese fishermen inclusive of the disputes over the East Sea and the Paracel and Spratly archipelagos.

2.        VAC-NORCAL has requested the submission of its dispute with the PRC to an arbitral tribunal established under Annex VII of the Convention by written notification in the form of a diplomatic Notes conveyed to the PRC Consulate General in San Francisco on 5 August 2009 (Annex A), and to the PRC Consulate General in New York on 3 September, 2009 (Annex B), the third diplomatic note by email to the PRC-MFA Web site and main news agencies on 01 October, 2009 (Annex C), and the Final diplomatic note by email to the PRC-MFA Web site and main news agencies on 13 November, 2009 (Annex D). The written notifications was accompanied by a statement of VAC-NORCAL’s claim and the grounds upon which it is based in accordance with Annex VII, Article 1 (“the Statement of Claim”) (Annex E).

 

THE FACTS

3.2.                     The facts of the dispute are as set out in the VAC-NORCAL’s Statement of Claim.

 

THE DISPUTE

4.3.                     The history of the dispute is set out in section 1 The Reason and Submission of the VAC-NORCAL’s Statement of Claim, and may be traced from the correspondence which is set out in Annex E.

  4.4.                   Following the deadly incidents after the PRC’s fishery ban order in the East Sea , on 5 August 2009 , VAC-NORCAL sent a diplomatic Note to the PRC Consulate General in San Francisco , the full text of which is finally updated and emailed to the PRC’s Web site and main news agencies on 13 November, 2009 at Annex E. That Note reads as follows:

 

The Vietnamese American Community of Northern California

2129 S. 10th St.

San Jose, CA 95112

(408) 242-4056, (408) 966-0777

 

November 12, 2009

 

Yang Jiechi

Minister of Foreign Affairs of the PRC

 

Dear Foreign Minister:

 

On October 3, 2009 , VAC-NORCAL sent the PRC-MFA a Diplomatic Note in which we believe that you would have it through the PRC-MFA Web site address and the operator of SINANEWS.com conveyance. VAC-NORCAL would like to send you the fourth Diplomatic Note today November 12, 2009 to reaffirm that VAC-NORCAL has done everything to contact PRC-MFA and to prove that all means has been searched to invite PRC-MFA to negotiate the current situation of the East Sea .

This VAC-NORCAL’s Diplomatic Note on November 12, 2009 is to re-affirm VAC-NORCAL’s sovereignty in the East Sea in accordance with the heritage and historic and political documents we have inherited from the Republic of Vietnam . We include herein the previous Diplomatic Note on October 3, 2009 as well as the Statement VAC-NORCAL’s claims, the appendices 1, and 2 about the Proclamation of the Urgent Status in the East Sea and the Table of the Estimate Damages and Losses caused by the PRC to the Vietnamese people in the East Sea through many years since 1974.

VAC-NORCAL believes that we shall have your attention and your reply as soon as possible to this Diplomatic Note. VAC-NORCAL is entitled to seek a remedy, including by way of ITLOS provisional measures. Nonetheless, VAC-NORCAL is willing to make one last attempt to find out peaceful ways to resolve the issue. VAC-NORCAL is ready to hold any negotiation conference with the PRC-MFA to resolve the killings of the Vietnamese innocent fishermen in the East Sea as well as other issues.

VAC-NORCAL accordingly calls upon the government of the PRC to indicate forthwith its proposed bilateral agreement:

a. To suspend indefinitely all plans and schemes of building and transforming the natural rocks, reef, or islands into military bases for the war purpose; causing harms to the maritime environment.

b. To end the killings and shootings that aim directly to the Vietnamese innocent fishermen.

c. To compensate the damages and losses the Vietnamese victims suffered for years.

d. It is essential that the PRC should stop immediately any proceedings to the installation of news devices and war exercises while the negotiation is proceeding.

This proposal is made without prejudice to the legal positions of VAC-NORCAL and the PRC.

VAC-NORCAL avails itself of this opportunity to renew to the Government of the PRC the assurances of its highest consideration.

 

Thank you,

Tien Nguyen,

VAC-NORCAL President

 

6.                     At the time that Note was delivered, VAC-NORCAL indicated that this is the last attempt to find a bilateral settlement relating the dispute and an early reply would be appreciated, but no specific date was indicated in the Note

 

7.                     As of December 6, 2009 , VAC-NORCAL has not received the PRC’s response to its diplomatic Note.

 

The Jurisdiction and Admissibility

 

8.                 The Socialist Republic of Vietnam (SRV) which annexed the Republic of Vietnam (RVN) into the Democratic Republic of Vietnam (DRV) after the successful invasion in 1975 has executed illegitimate procedures to violate the international law by breaking the Paris Accord 1973. The illegal annexation which the SRV propagated as a re-unification does not represent the total Vietnamese people’s voice and approval. The SRV Congress is not composed of the Vietnamese deputies through clean and open and fair elections. The SRV’s Constitution does not represent the will of the Vietnamese people and thus, the jurisdiction that sets out the limits and power does not reflect the Vietnamese people’s approval. The treaties the SRV signed with other coastal states; therefore, are to be re-examined by the Vietnamese people when a new political regime by the people and for the people comes to substitute the SRV administrative system.

 

9.                VAC-NORCAL is the Vietnamese American Community of Northern California in the USA and is one of many Vietnamese communities around the world who declined the communism and inherited the RVN’s political and civic heritage. VAC-NORCAL is non-beneficial, non-profit, independent, and mutual assistant among its volunteered-members. VAC-NORCAL is not a government, a state, or any administrative system working for another country, but is part of American society under the law, and abides to the law of the US government. However, because its heritage is the RVN’s political backgrounds such as democracy and freedom and human rights, VAC-NORCAL believes that calling upon the international organizations to support its just cause and for the human conscience to stop the PLAN’s wrongful deeds killing the Vietnamese innocent fishermen in the East Sea is the demonstration of the continuing heritage of the RVN, a de facto, that was destroyed by the SRV’s illegitimate invasion in 1975 and is the verity, the human conscience that nobody can deny.

Inherited the RVN’s political and civic heritage; consequently, VAC-NORCAL has its jurisdiction and authority over the sea and land issues of Vietnam and legally calls upon the international organizations for full consideration of its sovereignty requests.

VAC-NORCAL believes that its Request for a prescription of the Provisional Measures from ITLOS versus the PRC’s wrongful deeds killing the Vietnamese innocent fishermen is admissible by the ITLOS.

 

 

REQUEST FOR PROVISIONAL MEASURES

9.                In its Note of 23 November 2009 , VAC-NORCAL requested that, pending the constitution of the Arbitral Tribunal under Annex VII, it will request the Tribunal’s prescription for provisional measures specified in the Note and repeated in section 3 Conclusion of the Statement of Claim.  Indeed, the PRC denied all Notes VAC-NORCAL sent to them on this issue. PRC’s denials are contrasted with all foreign affairs speeches the PRC’s officials used to state that the East Sea dispute should be settled bilaterally between PRC and another coastal State.

10.              VAC-NORCAL’s aim has throughout been to seek to establish a proper system of consultation, notification and exchange of information with respect to the major points set out in the Statement of Claim.  In an attempt to advance this aim, it agreed to a meeting with the PRC to settle the disputes in the East Sea in order that the fishery ban order will be lifted, but the PRC denied the request

11.              Considerably more than two weeks having elapsed since the date on which VAC-NORCAL made its request to the PRC for provisional measures, and no agreement having been reached between the parties either as to the substance of the provisional measures sought or as to the procedure to be followed, in accordance with Article 290(5) of UNCLOS, VAC-NORCAL submits its request for provisional measures to the Tribunal.

 

PROVISIONAL MEASURES REQUESTED

13.              Pending the constitution of the Arbitral Tribunal, VAC-NORCAL requests that the Tribunal prescribe the following provisional measures:

(a)    The PRC stops immediately their illegal fishery ban, removes  

        immediately all installations of naval ports, bases for the military activities  

        in the East Sea and while the East Sea is the Vietnamese sovereign sea,

        and return to the Vietnamese people.

(b)    The People’s Liberation Army Navy (‘PLAN’) is responsible for all killings

        they have done to the Vietnamese people, damaging of their ships and properties, leaving never-healed wounds on their bodies or in their souls of all Vietnamese victims, thus lead to painful living conditions and cause harm to marine environment since the PRC proceeded their illegal aggressive wars in 1974. Compensation thereof the PRC must be responsible for the damages of the natural resources, loss of lives, the marine environment destruction on the Paracel and Spratly archipelagoes of the East Sea by the Chinese installing their military bases, the cost evaluated from Jan 19, 1974 up to now 2009 when the Vietnamese people lost these islands and the East Sea . VAC-NORCAL calls for the PRC to negotiate bi-laterally to settle peacefully the disputes of the East Sea pursuant to the spirit of UN Charter and UNCLOS 1982.

(c)    The PRC is responsible for all deaths, costs and damages they have done to the Vietnamese people and the natural resources they destroyed or removed on the islands and the East Sea since January 19, 1974 .

(d)    The PRC is responsible for all cost and expenses incurred by VAC-NORCAL’s submission of this package and all of VAC-NORCAL’s related legal procedures including but not limiting to the expense for the judges and lawyers before the Tribunal to the finish of the case.

 

THE REASONS FOR WHICH THE REQUEST IS MADE

14.              The reason for requesting provisional measures is that the PRC’s action in engaging in military build ups in the Paracel and Spratly archipelagoes is causing and has the potential to cause serious and irreversible damages to the marine environment and serious prejudice to the rights of VAC-NORCAL. The PRC’s military build-ups are evidently intended to be permanently and fixed involved military activities to make the construction irreversible and the natural forms of the Vietnamese islands irreparable. The PRC also destroyed the Vietnamese natural resources, historic artifacts, landmarks and monuments and caused harms to the natural amenities on these islands.

15.             The Fishery ban issued by the PRC and the killings of the innocent Vietnamese fishermen continues year after year in the East Sea , the death toll is not sufficiently confirmed yet. In 1988 the PLAN massacred 71 Vietnamese people on Garma island of the Mischiefs reef in the Spratly archipelago. In 1974 the PLA killed 54 Republic of Vietnam Navy soldiers on the Paracel archipelagos.

16.              Under Article 290(1), as applied to the present application by Article 290(5), the Tribunal “may prescribe any provisional measures which it considers appropriate under the circumstances to preserve the respective rights of the parties to the dispute or to prevent serious harm to the marine environment”.  Both conditions for the prescription of provisional measures exist here.

(a)          Serious harm to the marine environment

17.       The VAC-NORCAL’s concerns about the reliable source of news and its reports The Urgency of the State of the East Sea annexed to the Statement of Claim, to which the Tribunal is respectfully referred, demonstrate that the structures of the PRC’s military and naval bases on the two archipelagos are causing and threatening to cause harm to the marine environment, producing major changes to the shape of the islands, changes in natural resources and migrating the Chinese people come to dwell on the Vietnamese islands, the PRC’s activities consequentially impact the social and political Vietnamese history and effect the Vietnamese coastal navigation and access to the East to the Pacific Ocean.

(b)       Prejudice to the rights of VAC-NORCAL under UNCLOS

18.              The rights of the VAC-NORCAL which it seeks to preserve by the grant of provisional measures are those relating to the maintenance of the marine and coastal environment and the preservation of its rights of maritime access to its coastline, in particular via the eastern entrance of the Pacific Ocean and the coastal states which is the main sea line to support the survival of the Vietnamese fishermen in their sovereignty East Sea.

POSSIBLE CONSEQUENCES OF NOT GRANTING PROVISIONAL MEASURES

20.              VAC-NORCAL believes that provisional measures are necessary to ensure that any final decision of the Annex VII Arbitral Tribunal can be implemented effectively and is not meaningless.  A failure to prescribe provisional measures would prejudice the rights of the Vietnamese people.

 

THE URGENCY OF THE SITUATION

22.              The situation is urgent because it takes some time the Annex VII Arbitral Tribunal will be established and able to decide the provisional measures for this case.  The PRC has not responded to VAC-NORCAL’s diplomatic Notes so far, and the situation gets worse and worse while the PRC continues their naval power to fortify their occupation on the Vietnamese islands.

 

PRIMA FACIE JURISDICTION OF ANNEX VII TRIBUNAL

23.              VAC-NORCAL is not a party to UNCLOS.  The Tribunal may prescribe provisional measures if, inter alia, it considers that, prima facie, the tribunal to be constituted would have jurisdiction pursuant to Article 290(5) of UNCLOS.  An Arbitral Tribunal constituted pursuant to Annex VII would have jurisdiction over this dispute pursuant to Article 288(1) of UNCLOS.

24.              UNCLOS Part XV Section 2 provides a mechanism by which a party may invoke compulsory procedures for the resolution of the dispute where no settlement has been reached by recourse to Part XV section 1. Article 286 permits these compulsory procedures to be invoked by any party to the dispute by submitting the dispute to a court or tribunal having jurisdiction under section 2.

25.              VAC-NORCAL’s dispute with the PRC also concerns the interpretation or application of UNCLOS.  Relevant provisions of UNCLOS have been raised consistently in diplomatic Notes with the PRC since the commencement of this dispute. As VAC-NORCAL has not made a written declaration pursuant to Article 287(1), VAC-NORCAL is deemed by operation of Article 287(3) to have accepted arbitration in accordance with Annex VII as the means of settling disputes between VAC-NORCAL and the PRC concerning the interpretation or application of UNCLOS.

27.              UNCLOS Article 286 also provides that a dispute can only be submitted at the request of any party to the court or Tribunal having jurisdiction under Part XV Section 2 where no settlement has been reached by recourse to Part XV Section 1. That condition is met in the present case.

 

APPOINTMENT OF AGENT AND ADDRESS FOR SERVICE

28.              VAC-NORCAL appoints as its Agent Sông Hồng

29.              The Agent address for service:

VAC-NORCAL

2129 S. 10th Street

San Jose, CA 95112

 

Telephone: (408) 242-4056

30.              The Agent may be contacted in the USA :

       Telephone: (408) 966-0777

          Email: viettrade_net@yahoo.com,

                     nguyenngoctien_6@yahoo.com

 

 

 

 

VAC-NORCAL’s President

 

Nguyen Ngoc Tien

 

10 December 2009


ANNEXES

 

Annex A        VAC-NORCAL’s diplomatic Note to the PRC 05 August 2009

Annex B        VAC-NORCAL’s diplomatic Note to the PRC 03 September 2009

Annex C        VAC-NORCAL’s diplomatic Note to the PRC 01 October 2009

Annex D        VAC-NORCAL’s Final diplomatic Note by email to the PRC-MFA Web site and main news agencies on 13 November, 2009

 

In addition the following are provided under separate cover:

 

Annex E        VAC-NORCAL’s Statement of Claim

Annex F        VAC-NORCAL’s Urgent Requests to The Tribunal

Annex G      The RVN’s The White Book 1975 and the Proclamation of the RVN’s Ministry of Foreign Affairs 1974

Annex H        The documentary CD contains more information about the maps of the Vietnamese outer limits of the continent shelf and the Executive Summary for reference.

Annex I        Photocopies of the US Post Office receipts and the mails denied

Tuổi Trẻ Việt Nam vươn lên

 

 

Tuổi Trẻ Việt Nam vươn lên

 

Buổi nói chuyện của
Chương trình Từ Cánh Đồng Mây với

LUẬT SƯ

 

 

LÊ VĂN LỢI
(trong nước)

 “Chúng tôi kỳ vọng một sự thay đổi thật sư”



 

Ông tâm tình: “Sàigòn vào mùa Giáng Sinh, nhưng mọi người có nỗi niềm man mác và buồn. Cuộc sống phải có ý chí có nghị lực vươn lên. Sau 30 tháng 4, tất cả tài sản của gia đình tôi đều bị mất hết. Thời gian từ 75 đến 86 là thời gian cực kỳ khó khăn vì kinh tế bao cấp. Chủ nghĩa Max-Lenin không còn hợp thời nữa. Hãy hỏi 86 triệu dân thì biết xã hội chủ nghĩa còn thích hợp hay không? Có nhiều người bỏ quê hương tìm tự do thì bị gọi là lũ phản quốc, còn bây giờ thì được vinh danh là Việt kiều yêu nước. Chúng tôi được học lý thuyết không còn phù hợp, bao giờ mới tiến được với văn minh nhân loại. Chúng tôi xuống đường bày tỏ lòng yêu nước về việc quan đảo Hoàng Sa và Trường Sa nhưng họ đuổi chúng tôi đi về. Sao không cho chúng tôi thể hiện lòng yêu nươc? Khát vọng của tuổi trẻ chúng tôi xin được sống là một con người. Chúng tôi kỳ vọng một sư thay đổi thật sự! “

www.ledinh.ca

 

Direct link
http://www.ledinh.ca/Bai%20PV%20LS%20Le%20Van%20Loi%202009.html

(Xin bấm link để nghe)



 

 

 

Tuổi Trẻ Việt Nam như Lê Thị Công Nhân, Nguyễn Văn Đài, Lê Thi Kim Thu, Huỳnh Văn Đông hay Lê Văn Lợi, hoặc hàng trăm ngàn tuổi trẻ tại quê hương sống trăn trở trong bất mãn, trong những suy tư bất khuất với chế độ nặc nô độc tài toàn trị CSVN, một chế độ dựa vào những gian manh của bạo lực, những khủng bố thất nhân tâm. Tuổi Trẻ Việt Nam là rường cột của nước nhà và Tuổi Trẻ Việt Nam sẽ quyết định tương lai của dân tộc, xin đồng bào hải ngoại hãy dang tay mở rộng cho Tuổi Trẻ Việt Nam Cộng Hòa sống với ước mơ vàng son của một thuở kiêu hãnh của Việt Nam Cộng Hòa hiên ngang bảo vệ chủ quyền trên các hải đảo do tổ tiên ta để lại.

 

 

 

 

 

 

Xin mời netters lắng nghe tiếng nói trí thức tại quê hương, một hậu duệ của Việt Nam Cộng Hòa, xây dựng ước mơ về lý tưởng tự do dân chủ cho Việt Nam . VHLA.

  

http://www.ledinh.ca/Bai%20PV%20LS%20Huynh%20Van%20Dong.html

 

http://www.ledinh.ca/Bai%20PV%20Dan%20Oan%20Le%20Thi%20Kim%20Thu.html

 

 

 

 

 

 

 

Lê Thị Công Nhân, nữ anh hùng thời đại mới

 

 

 

 

 

Ls Lê Thị Công Nhân,

Anh hùng đấu tranh dân chủ

Trước ngưỡng cửa thế kỷ 21, nhiều bông hoa rực rỡ của tuổi trẻ đã trỗi lên trong phong trào dân chủ Việt Nam . Đó là những Phạm Hông Sơn, Nguyễn Vũ Bình, Lê Chí Quang, Trần Khải Thanh Thuỷ, Nguyễn Khắc Toàn, Đỗ Nam Hải, Nguyễn Chính Kết, v.v… Đặc biệt từ cao trào dân chủ năm 2006, đã bừng nở rộ thêm nhiều đoá hoa tươi thắm, chói lọi của tuổi trẻ dấn thân trên con đường đấu tranh cho Tự do, Dân chủ và Nhân quyền, trong đó nổi bật nhất là hai luật sư Nguyễn Văn Đài và Lê Thị Công Nhân.

Công Nhân sinh năm 1979, là nhà dân chủ rất trẻ. Cô lớn lên trong một gia đình gia giáo tốt đẹp. Mẹ của cô là một trí thức, bà nuôi dạy con vừa theo truyền thống đạo đức dân tộc, vừa theo phong cách tự do, dân chủ của xã hội văn minh. Chính vì thế, dù Công Nhân được “đào tạo dưới mái trường xã hội chủ nghĩa” nặng tính nhồi sọ ý thức hệ cộng sản, theo lề thói áp đặt tư duy của tập đoàn thống trị, nhưng cô sớm có tư tưởng độc lập, sớm có khát vọng tự do, dân chủ, sớm hiểu được nỗi đau của người dân vô quyền, bị tước đoạt tự do và nhân quyền trong chế độ độc tài toàn trị. Cô học hành chăm chỉ và khá thành đạt về mặt học vấn cũng như nghề nghiệp. Mới 24 tuổi đời, cô đã là một luật sư thành danh có chân trong Đoàn luật sư Hà Nội. Một tương lai xán lạn mở rộng ra trước mắt cô luật sư trẻ trung đầy sinh lực! Nhưng, là một trí thức có ý thức trách nhiệm công dân trước nỗi đau của đất nước đang chìm đắm dưới chế độ cực quyền cộng sản, trước nỗi đau của đồng loại vô quyền đang quằn quại trong chế độ đầy tham nhũng, bị bọn quan tham ô lại và cường hào mới sách nhiễu áp bức, tóm lại, cô biết đau nỗi đau của đất nước và đồng loại, nên đã coi nhẹ giàu sang, phú quý, quyền lợi, địa vị và tiền đồ riêng tư để dấn thân vào con đường đấu tranh đầy chông gai và gian khổ vì Tự do, Dân chủ và Nhân quyền cho đất nước và dân tộc.

Ngày 8 tháng 4 năm 2006, Công Nhân đã đặt bút ký tên mình dưới bản Tuyên Ngôn Tự Do Dân Chủ Cho Việt Nam 2006. Đó là bản tuyên ngôn lịch sử đầu tiên của 118 chiến sĩ dân chủ trong nước đi tiên phong, công khai đòi quyền tự do, dân chủ và nhân quyền, chống lại chế độ độc tài toàn trị của Đảng cộng sản (ĐCS) bằng phương thức bất bạo động. Sau đó, cô tham gia Khối 8406, rồi là thành viên và phát ngôn nhân của Đảng Thăng Tiến Việt Nam, một chính đảng dân chủ công khai, chủ trương đấu tranh ôn hoà. Đến tháng 10 năm 2006, cô tham gia Liên Minh Dân Chủ Nhân Quyền Việt Nam, một kết hợp của nhiều trí thức dân chủ và nhiều tổ chức, đảng phái dân chủ trong và ngoài nước.

Công Nhân là một luật sư có trình độ hiểu biết cao, cô nhận thức rõ luật pháp dưới chế độ độc tài toàn trị của ĐCS chỉ là một mớ văn bản để làm như tuồng chế độ của họ có luật pháp đàng hoàng và có tính dân chủ, nhưng thực ra mớ văn bản ấy chỉ để che đậy thủ đoạn của ĐCS tước đoạt quyền tự do, dân chủ của người dân. nên cô thấy cần thiết phải nghiên cứu sâu luật pháp trong nước đồng thời đối chiếu với công pháp quốc tế – mà nước Việt Nam đã đặt chữ ký bên dưới – để vạch ra những thủ đoạn bóp nghẹt tự do, dân chủ của kẻ cầm quyền.

Hồi cuối tháng 10 năm 2006, khi cô được mời đến Warszawa, thủ đô Ba Lan, để tham gia Hội nghị yểm trợ Công Đoàn Độc Lập Việt Nam, cô đã chuẩn bị bài tham luận, nhưng đến phút chót kẻ cầm quyền đã ngăn cản, không cho cô lên máy bay. Tại hội nghị, bài tham luận của cô đã được tuyên đọc, trong đó cô phân tích rõ Tổng Công Đoàn Việt Nam tuy mang danh là tổ chức cúa công nhân lao động, nhưng thực ra chẳng bảo vệ gì quyền lợi cho công nhân lao động cả, trái lại hùa theo cán bộ ĐCS để bảo vệ quyền lợi của giới chủ nhân, chính vì thế công nhân lao động cần thành lập tổ chức riêng của mình là các công đoàn tự do để bảo vệ quyền lợi cho mình. Đó là một việc làm hoàn toàn hợp lý và hợp pháp. Cô còn kêu gọi mọi người, mọi tổ chức ra sức yểm trợ cho Công Đoàn Độc Lập mới ra đời trong nước.

Vào tháng 12 năm 2006, khi trả lời phỏng vấn của Đối Thoại Online về chỉ thị số 37 CT-TTg ngày 29.11.2006 của Thủ tướng CHXHCNVN, Công Nhân đã thẳng thắn nói: Chỉ thị này nhằm chính thức hoá thông báo số 41 của Bộ chính trị ĐCS ra ngày 11.10.2006, nó có hai nội dung, một là tăng cường quản lý triệt để tất cả các báo chí ở trong nước thuộc quyền quản lý của nhà nước, và hai là xác nhận lại một lần nữa thái độ ấu trĩ và ngoan cố của nhà cầm quyền Việt Nam nhất quyết không cho có báo chí tư nhân tại Việt Nam. Cô nhấn mạnh: Trước mặt tôi là Hiến pháp nước CHXHCNVN năm 1992 hiện đang có hiệu lực. Có thể nói ngắn gọn một câu thôi là chỉ thị 37 này là thể hiện sự độc tài tuyệt đối của đảng CSVN trên hệ thống bộ máy nhà nước của Việt Nam hiện nay, đặc biệt là hệ thống hành pháp (tức chính phủ) cũng như hệ thống tư pháp. Gần như tất cả các hệ thống này, kể cả lập pháp (quốc hội) đều nằm hoàn toàn dưới quyền cai trị của đảng CSVN mà cơ quan có quyền lực nhất chính là Bộ Chính trị. Sau khi đưa ra các điều 33, 69 trong Hiến pháp CHXHCNVN năm 1992, và điều 19 Công ước LHQ về quyền dân sự và chính trị năm 1966 để đối chiếu, cô kết luận: “Là một luật sư, tôi xin khẳng định với những hiểu biết cá nhân của mình rằng chỉ thị 37/TTg ngày 29.11.2006 là hoàn toàn vi hiến… Tôi nghĩ rằng chỉ thị 37 này là một sự bất công rất lớn đối với báo giới Việt Nam ”.

Luật sư Lê Thị Công Nhân cũng đã viết một bài công phu, phân tích việc bỏ Nghị định 31 CP về quản chế hành chính, mà thực ra là nhà cầm quyền đã đưa việc quản chế hành chính vào các văn bản pháp lý khác.

Chính việc làm thẳng thắn đó của một luật sư chân chính đã làm cho kẻ cầm quyền vô cùng căm tức cô. Họ đã cho công an sách nhiễu cô bằng nhiều cuộc hỏi cung liên tiếp. Trong một cuộc phỏng vấn của đài RFA (Đài Á châu Tự do), cô kể lại: “… Họ vẫn nói tôi phạm điều 79 bộ Luật hình sự Việt Nam là lật đổ chính quyền, và Đảng Thăng Tiến phạm điều 4 Hiến pháp… qua những ngày làm việc với khá nhiều cán bộ an ninh điều tra, vì một mình tôi làm việc với bốn năm người… tôi thấy đó là do miếng cơm manh áo nên họ phải làm thế là đương nhiên. Tôi cũng cảm nhận một thiểu số nhỏ trong họ có nhận thấy tình hình hiện nay”.

Đầu tháng 12 năm 2006, luật sư Nguyễn Văn Đài và luật sư Lê Thị Công Nhân tổ chức một hội thảo dân chủ và nhân quyền tại Văn phòng luật sư Thiên Ân. ĐCS cầm quyền cho rằng họ mở lớp huấn luyện những phần tử chống đảng và chống chế độ, nên đã ra lệnh xoá bỏ tên cô và anh Nguyễn Văn Đài khỏi danh sách Đoàn luật sư Hà Nội và chuẩn bị bắt giam hai luật sư trẻ tuổi này.

Trong những ngày gian nguy hết sức căng thẳng, Công Nhân vẫn dành thì giờ để tham gia Diễn đàn Dân chủ, và lúc 3 giờ 40 phút sáng ngày 26.02.2007, tức là vài ngày trước khi bị bắt, cô đã tuyên bố rất chân thành:
“… Tôi là thành viên cuối cùng trong bốn thành viên của đảng Thăng Tiến Việt Nam được công an triệu tập làm việc chính thức, tính từ sau Tết âm lịch đến nay. Và thật sự tôi cũng không đoán trước được cụ thể những việc gì có thể xẩy ra với tôi. Nhưng tôi xin khẳng định bằng tất cả lương tâm, trách nhiệm và tình cảm của mình đối với đất nước Việt Nam và dân tộc Việt Nam là: tôi sẽ chiến đấu tới cùng cho dù chỉ còn một mình tôi, trước hết là giành lấy nhân quyền cho chính mình và giành lấy nhân quyền, dân chủ và tự do cho người Việt Nam. Và Cộng sản Việt Nam đừng có mong chờ bất cứ một điều gì dù chỉ là thoả hiệp, chứ đừng nói là đầu hàng về phía tôi. Tôi không thách thức, nhưng Cộng sản Việt Nam nếu đã hạ quyết tâm thực hiện những hành vi tội ác bằng cách chà đạp lên nhân quyền của người dân Việt Nam và muốn tiếp tục dìm đất nước Việt Nam trong một sự tăm tối về mặt chính trị, nghèo nàn về mặt kinh tế, lạc hậu về mặt văn hóa kéo dài cho tới tận đời con cháu của chúng ta cũng như của chính người Cộng sản thì tuỳ họ và họ có quyền hành xử với những cái gì họ có. Gia đình tôi đã chuẩn bị cho trường hợp xấu nhất có thể xảy ra, đó là tôi có thể bị khởi tố và có thể đi tù. Nhưng tôi xin khẳng định một lần nữa: đó là chưa phải là điều tồi tệ nhất có thể xẩy ra”.

Đến ngày 06.03.2007, kẻ cầm quyền đã ra lệnh bắt giam cô tại Hà Nội. Sau hơn hai tháng tạm giam, vào tháng 5 năm 2007 hai luật sư Nguyễn Văn Đài và Lê Thị Công Nhân bị đưa ra xét xử tại toà án sơ thẩm. Trong cáo trạng, người ta buộc tội cô vi phạm điều 88 bộ Luật hình sự, tức là tuyên truyền chống phá chế độ xã hội chủ nghĩa. Cả hai người đều khẳng định trước toà rằng họ không hề phạm tội gì, mà họ đã bị trừng trị chỉ vì niềm tin của họ, họ bị bỏ tù chỉ vì nói lên ý kiến bất đồng với chính phủ và ĐCS. Công Nhân còn xác nhận thêm là cô luôn luôn khuyến khích đấu tranh bất bạo động để đòi dân chủ. Thực ra, những việc làm của hai luật sư trẻ là hoàn toàn vô tội, họ chỉ sử dụng quyền hiến định của công dân để phát biểu ý kiến của mình, thế mà toà vẫn kết án luật sư Đài 5 năm tù giam, 4 năm “tù” quản chế, luật sư Công Nhân 4 năm tù giam, 3 năm “tù” quản chế!

Họ đã chống án. Và ngày 27.11.2007, hai luật sư Nguyễn Văn Đài và Lê Thị Công Nhân bị đưa ra xét xử lại tại toà phúc thẩm ở Hà Nội. Trước ngày mở phiên toà, dư luận trong nước, cũng như dư luận thế giới đều rất xôn xao. Liên đoàn luật gia quốc tế có ý định mời bà Trần Thị Lệ đến Paris để tiếp xúc, nhưng giới cầm quyền đã không cho bà đi. Các luật gia quốc tế muốn gửi luật sư bào chữa cho Nguyễn Văn Đài và Lê Thị Công Nhân đều không được chấp nhận. Họ chỉ cho một số luật sư trong nước bào chữa mà thôi. Tại phiên toà phúc thẩm Nguyễn Văn Đài và Lê Thị Công Nhân đều khẳng định họ không phạm tội gì hết, họ chỉ thực thi quyền được phát biểu ý kiến của mình, mà quyền đó thì có ghi rõ trong hiến pháp hiện hành. Các luật sư bào chữa cũng đều nói: những bài viết và bài nói của các bị cáo là ý kiến riêng của họ, mà quyền phát biểu ý kiến thì không có luật nào ghi là có tội cả. Họ cũng vạch rõ những sai phạm của toà sơ thẩm, nhất là “đã hạn chế đến mức đã ngăn cản việc tranh luận. Đánh giá chứng cứ cần tranh luận, nhưng không được thực hiện. Định tội, lượng hình cũng không được tranh luận”. Thế nhưng, toà phúc thẩm vẫn giữ nguyên lời buộc tội ghi trong cáo trạng là vi phạm điều 88 bộ Luật hình sự, chỉ có giảm mức án cho mỗi người bớt đi môt năm tù ngồi, còn mức án quản chế thì vẫn giữ nguyên như trước!

Trong nhà tù, Công Nhân vẫn tiếp tục đấu tranh. Những ai đã từng biết nhà tù cộng sản, đều hiểu rõ tính chất độc ác, phi nhân của nó. Vì ĐCS và kẻ cầm quyền muốn dùng nhà tù để đày đoạ tù nhân về thể xác và tinh thần, bắt họ phải sống trong cảnh chật hẹp, bẩn thỉu, nóng bức, mất vệ sinh, bắt phải làm việc vất vả, phải chịu đựng những cảnh bạo hành, đâm chém, cướp giật diễn ra hàng ngày trong tù, lại thường xuyên bị đám cai tù (mệnh danh là quản giáo) trấn áp về mặt tinh thần và tâm lý cốt đè bẹp ý chí phản kháng của tù nhân chính trị, bắt họ phải khuất phục, đầu hàng. Xin các bạn cứ thử hình dung một tù nhân chính trị mà bắt phải sống chung với đám tù hình sự, trong đó không ít kẻ lưu manh tay đã từng nhuốm máu tội ác! Một người con gái mảnh mai như Công Nhân, quen sống trong môi trường có văn hoá, có giáo dục, tâm hồn trong trắng nay bị đày đoạ trong một cuộc sống kinh khủng như vậy thì đủ hiểu thấu tâm trạng của cô khi phải ở tù. Kẻ thù muốn cô cúi đầu khuất phục, nhưng cô vẫn hiên ngang ngẩng cao đầu.

Bị nhốt chung với đám tù hình sự, cô còn bị cai tù xúi giục đám người này khích bác, hạ nhục bằng những lời lẽ thô bỉ, còn bị cho thức ăn thiu gây tiêu chảy và bị tịch thu Kinh Thánh mà cô coi như “cuốn sách gối đầu giường” quý báu, nên cô đã quyết định tuyệt thực từ ngày 27.12.2007 để phản đối. Bọn cai tù bỏ mặc Công Nhân vật vã, ốm đau trong những ngày tuyệt thực. Chẳng những thế khi cô tuyệt thực đã bảy ngày, đang ốm yếu đến kiệt sức mà ban quản trị trại tù còn ra lệnh chuyển tù đưa cô đến nơi khác trên một chặng đường xa 225 km, bắt cô phải nằm trong chiếc xe tù bịt bùng kín mít, ngột ngạt đến nỗi cô đã ngất xỉu, khi đến nơi phải khiêng cô xuống, làm mọi người tưởng là cô đã chết. Biết bao đoạ đày, khốn khổ, gian truân kẻ cầm quyền đã giáng xuống cái thân hình mảnh mai, nhỏ bé của Công Nhân, nhưng cô không hề chùn bước, cô vẫn giữ vững khí tiết bất khuất của mình. Những lời nói nồng nhiệt của cô sáng ngày 26.02.2007 vẫn còn mãi mãi âm vang:
“…Nhưng tôi xin khẳng định bằng tất cả lương tâm, trách nhiệm và tình cảm của mình đối với đất nước Việt Nam và dân tộc Việt Nam là: tôi sẽ chiến đấu tới cùng cho dù chỉ còn một mình tôi, trước hết là giành lấy nhân quyền cho chính mình và giành lấy nhân quyền, dân chủ và tự do cho người Việt Nam. Và Cộng sản Việt Nam đừng có mong chờ bất cứ một điều gì dù chỉ là thoả hiệp, chứ đừng nói là đầu hàng về phía tôi…”.

Đúng là trái tim hồng nóng bỏng của cô bơm trong huyết quản dòng máu hào kiệt của Hai Bà Trưng, Bà Triệu và của muôn nghìn vị Anh hùng tiên liệt của Tổ quốc Việt Nam . Dòng máu đó đã giúp cô đứng vững trước cơn bão táp bạo tàn mà ĐCS và giới cầm quyền toàn trị đã trút xuống đầu cô. Giới trẻ Việt Nam ngày nay có quyền tự hào là đã có một nữ anh hùng kiệt xuất trong thời đại đấu tranh cho Tự do, Dân chủ và Nhân quyền để mà noi gương. Dân tộc Việt Nam cũng tự hào đã có một người con trung kiên như thế biết yêu nước, thương dân rất mực.

Chính vì thế, khi được tin Mạng Lưới Nhân Quyền Việt Nam đã tiến cử luật sư Lê Thị Công Nhân – người đã từng được Mạng Lưới Nhân Quyền Việt Nam trao Giải Nhân Quyền năm 2007 nhân Ngày Quốc Tế Nhân Quyền 10 tháng 12 năm 2007, cùng với luật sư Nguyễn Văn Đài và giáo sư Hoàng Minh Chính – làm ứng viên Giải Nhân Quyền Gwangju 2008 của Nam Hàn thì mọi người dân chủ trong và ngoài nước đều nhiệt liệt hoan nghênh, đều cầu mong cho ứng viên Lê Thị Công Nhân sẽ được trúng giải.

Giải Nhân Quyền Gwangju 2008 sẽ là nguồn khích lệ lớn lao cho chính người tù chính trị và lương tâm Lê Thị Công Nhân đang phải chiến đấu thân cô thế cô trong ngục tù cộng sản, sẽ là nguồn khích lệ cho mọi người thân yêu của Công Nhân, trước hết là cho bà mẹ hiền của cô – bà Trần Thị Lệ – đã hết lòng hết dạ vì con gái yêu quý và đã quyết định theo con đến cùng trong thời gian con bị đoạ đày trong tù ngục, cũng như trong cuộc đấu tranh ôn hoà của con để chống lại bạo quyền vì Công lý, vì Tự do. Đó cũng sẽ là nguồn khích lệ lớn lao cho giới trẻ và trí thức dân chủ Việt Nam, cổ vũ họ mạnh dạn dấn thân vào cuộc đấu tranh bất bạo động vì Tự do, Dân chủ và Nhân quyền cho nhân dân. Đó cũng sẽ là nguồn động viên mạnh mẽ cho phong trào dân chủ đang cố vươn lên sau trận khủng bố ác liệt vừa qua của ĐCS và giới cầm quyền toàn trị…

 

Nguyễn Minh Cần
23/03/2008

 

Những Nấm Mộ Không Tên

 
     Kính gửi đến quý vị trưởng thượng và quý anh chị những cảm xúc được ghi lại khi nghe và đọc bài tường trình của phóng viên Đinh Quang Anh Thái (Little Saigon Radio và tuần báo Việt Tide) cũng như được xem những hình ảnh về chuyến trở lại thăm các trại tị nạn cũ ở Mã Lai và Nam Dương của một phái đoàn VN gồm khoảng 150 người đến từ nhiều quốc gia, nhân dịp đánh dấu 30 năm miền Nam rơi vào tay Việt Cộng.
      Cùng với Biển Đông (là mồ chôn tập thể lớn nhất), các nghĩa trang rải rác trong tỉnh Terengganu (Mã Lai) cũng như trong các trại Bidong, Galang … đã đón nhận thân xác của rất nhiều người tị nạn bất hạnh. Trong số đó, có những người qua đời sau khi đã đến được nơi tạm trú và đang đợi đi định cư, và có những người khác kém may mắn hơn đã chết ngoài biển và xác được vớt hay bị sóng đánh tắp vào bờ. Có nhiều ngôi mộ vô danh (cá nhân hay tập thể) mà trên bia mộ chỉ vỏn vẹn ghi ngày tử nạn và số của con tàu mà thôi . Có lẽ chẳng bao giờ chúng ta biết được tên tuổi của những đồng bào xấu số đó, những người đã quyết đánh đổi sinh mạng để trốn chạy chế đô. Cộng sản với niềm hy vọng sẽ được thở một chút không khí tự do .
 

 

       Những Nấm Mộ Không Tên

 

                                              (Kính dâng anh linh những đồng bào
                                              đã bỏ mình trên đường tìm tự do)

 

 

Đêm ốm yếu, đục ngà như váng sữa,
Rừng Bidong không đốm lửa ấm lòng,
Ngọn dừa già thao thức ngóng Biển Đông,
Xác tàu sắt phập phồng sau kẽ lá .

 

Đồi Tôn Giáo, nóc nhà xưa tơi tả,
Vách tường xiêu, Thánh giá nghẹn cơn sầu .
Chùa Từ Bi, tượng Phật cũ mất đầu,
Đài tưởng niệm dãi dầu ngâm gió lạnh.

 

Đất chôn nhờ hiu quạnh,
Màu bất hạnh âm u .
Trời Terengganu,
Mịt mù mây ly biệt.

 

Ngậm ngùi thân xác Việt,
Dập vùi trong khắc nghiệt lãng quên.
Những nấm mộ không tên,
Lặng lẽ thu mình bên cỏ dại .
                            


Đây có phải mộ phần người con gái,
Tàu không may gặp hải tặc Thái Lan,
Đành can trường chịu ngọc nát vàng tan,
Thân liễu yếu gửi theo làn cuồng nộ.

 

Hay là mộ người đàn bà khốn khổ,
Khi hay chồng đã chết rũ rừng sâu,
Cắn răng rời miền quê cũ thương đau,
Mang con nhỏ đánh liều trao số phận.

 

Đó phải mộ người mẹ già lận đận,
Đời tang thương trải mấy bận long đong,
Đứa con tù “cải tạo” mới chôn xong,
Đã đeo cháu trên lưng còng vượt biển.

 

Hay là mộ chàng trai chưa biết diện,
Không muốn mình đi chiến địa Cao Miên,
Giết người cho một chủ nghĩa cuồng điên,
Nên chấp nhận xuôi theo triền sóng bạc.

 

Kia phải mộ đứa bé còn ngơ ngác,
Điểm hẹn khuya tan tác lạc người thân,
Đành hoang mang theo kẻ lạ đưa chân,
Cùng gánh chịu chung số phần oan trái.

 

Hay là mộ của người tù trốn trại,
Một ra đi, bỏ lại vợ, con thơ,
Đất tự do chưa thấy được bến bờ,
Xương trắng đã vật vờ trên bãi cạn.

 

Quanh mảnh vụn xác con tàu gặp nạn,
Cỏ hao gầy, đá sạn cũng ủ ê ,
Thương cho người tức tưởi chết xa quê,
Nương dâu cũ,  ngõ về đà mất lối . 

 

Người nằm đó có bao giờ tiếc hối,
Vì tự do, đã đánh đổi cuộc đời,
Đã cam lòng chịu lá rụng hoa rơi,
Nhắm mắt vượt trùng khơi tìm lẽ sống.

 

Đời vẫn bảo: màu xanh, màu hy vọng,
Nhưng đêm đen, giữa con sóng chập chùng,
Trong tận cùng đáy biển cả mông lung,
Chỉ thấy một màu hãi hùng tang tóc.

 

Phút giây cuối cuộc hành trình đơn độc,
Người có còn đỏ lệ khóc quê hương,
Có nhớ về bóng dáng của người thương,
Đang lây lất chốn đoạn trường thống khổ.

 

Mờ mờ vết chân thiên cổ,
Nghĩa trang buồn, con sóng vỗ từng đêm.
Mộ không tên, người cũng mãi không tên,
Đường định mệnh khéo gập ghềnh trắc trở. 
                               

Ngày tháng nhạt, biết mấy ai còn nhớ,
Kẻ ra đi trót lỡ bến xa bờ,
Chết âm thầm trên biển cả bơ vơ,
Mặc quê cũ ai trông chờ sớm tối .

 

Đất hoang lạnh đã lạ mùi nhang khói,
Trời tự do, le lói lửa âm phần.
Đêm năm canh, ai mắt dõi mây Tần,
Chốn tạm trú, ai vùi thân vĩnh viễn.

 

Tiếng than khóc vọng về từ đáy biển,
Bóng oan hồn còn lưu luyến lênh đênh,
Bao năm qua trong chua xót bập bềnh,
Vẫn chưa viết được tên mình lên mộ.


                 Trần Văn Lương
            Cali, mùa Quốc Hận, 4/2005

 

Hành vi nhỏ …DÃ TÂM LỚN của Đế quốc Trung Cộng

Bài viết của Vũ Cao Đàm: Hành vi nhỏ… dã tâm lớn

Lướt nhanh trên mạng những ngày này, chúng ta luôn tìm được nhiều thông tin đắt giá:

Thương lái Trung Quốc (dân thường nói ngắn gọn, là bọn Tàu) về các chợ nông thôn Việt Nam thu mua móng trâu với giá rất cao, thậm chí những cái móng từ 4 chân của một con trâu được bọn Tàu mua với giá hơn hẳn một con trâu. Thế là nông dân Việt Nam và bọn “trâu tặc” ra sức chặt móng trâu đem bán,… vẫn còn lãi một con trâu thịt mang bán ở chợ. Chỉ một thời gian rất ngắn, bọn chúng đã triệt phá tan hoang sức kéo của nông dân nghèo Việt Nam. Tiếp đó, dân loan tin cho nhau, hàng lũ lái trâu từ bên Tàu tràn qua biên giới để “tiếp thị” bán trâu. Trong cái lũ thương lái mới này còn có cả kẻ tiếp thị bán trâu sắt (máy kéo). Dân tình vỡ lẽ: Thì ra chúng thu mua móng trâu là vì như thế!

Ở một nơi khác, thương lái Tàu đi các chợ thu mua rễ hồi, thế là những bọn “hồi tặc” mở chiến dịch triệt phá rừng hồi, một dược liệu quý hiếm của Việt Nam; chúng mua râu ngô non, xúi giục nông dân triệt phá nương ngô mang bán, đánh vào trúng cái dạ dày của những người mà bọn Tàu gọi là “đồng chí tốt” Việt Nam; chúng thu mua mèo nhằm triệt phá một nguồn trừ chuột cắn lúa; rồi chúng mua ốc bươu vàng, xúi giục nông dân nuôi ốc bươu vàng tràn ngập đồng ruộng phá hoại mùa màng, tấn công vào chiến lược an ninh lương thực của quốc gia “láng giềng tốt” Việt Nam..

Hàng tốp thương lái Tàu xuất hiện từ Hà Giang cho đến Lâm Đồng để thu mua chè vàng, là thứ chè chặt thô phơi tái, không cần chế biến. Thương lái Tàu mua chè vàng với giá rất cao, kích thích nông dân chặt trụi đồi chè mang bán. Thế là thương lái Tàu đã triệt hạ vùng nguyên liệu cho các nhà máy chè Việt Nam. Không còn con đường nào khác, các doanh nghiệp chè Việt Nam phải sang mua chè nguyên liệu từ Trung Quốc. Đến khi nông dân Việt Nam cần trồng lại đồi chè, thì các “đồng chí tốt” từ bên kia biên giới, vì tình quốc tế vô sản lại lọ mọ xuất hiện, “giúp” mua giống chè từ Trung Quốc chở qua cho nông dân Việt Nam.

Thâm độc hơn, chúng mở chiến dịch thu mua dây đồng vụn với giá cao “trên trời”, đẩy từng đoàn “đồng tặc” lùng sục chặt trộm dây đồng từ các đường điện cao thế, băm nát mạng lưới điện quốc gia của nước “láng giềng tốt” để nước này đốt đèn dầu đi theo họ “hướng tới tương lai”. Có nơi, bọn “đồng tặc” lẻn vào kho ăn cắp từng cuộn dây đồng mới “coong” mang bán, thì “các đồng chí tốt” lên mặt đạo đức: “Ấy chết, cái ngộ không mua cái cuộn dây tôồng ăn cắp tài sản xã hội chủ nghĩa của các tôồng chí tâu lố!” (Chúng tôi không mua cái cuộn dây đồng ăn cắp tài sản xã hội chủ nghĩa của các đồng chí đâu nhé).

Cho đến khi bọn thương lái Tàu đi thu mua cáp quang phế liệu, thì các nhà đương cục của chúng ta mới được phen ngớ ra, không hiểu bọn chúng mua cái “của nợ” này để làm gì. Vì mua dây đồng thì còn có thể hiểu là chúng lấy nguyên liệu, nhưng cáp quang thì thật không thể hiểu được chúng mua để làm gì? Đến khi dân nghèo lặn xuống biển chặt phá mạng cáp quang viễn thông, thì mới “ngã ngửa” ra, là chúng đang phá hoại con đường huyết mạch thông tin của Việt Nam… Chắc là các “đồng chí Việt Nam” nghĩ mãi không biết xử thế nào với những người “đồng chí tốt” bên nước vô sản Trung Hoa, đành phải đưa ra tòa vài thằng dân nghèo “trót dại” lặn xuống biển chặt trộm cáp quang.

“Láng giềng tốt” giúp… xây dựng các công trình thủy lợi

Sau 1954, Việt Nam được Trung Quốc giúp xây dựng nhiều công trình thủy lợi. Tôi đã tiến hành một cuộc phỏng vấn với Giáo sư TTA, Viện trưởng một viện nghiên cứu thủy lợi ở Hà Nội về sự giúp đỡ thủy lợi của người “đồng chí tốt”, vị Giáo sư kéo tôi vào phòng làm việc và cho xem một video clip quay suốt dọc dòng sông biên giới Việt – Trung.

Trời ơi, chúng ta không thể tưởng tượng được, người “đồng chí tốt” đã làm những trò gì đâu! Các “đồng chí” xây 120 cái kè chắn chéo dòng nước trên các dòng sông biên giới, tạo những luồng nước xoáy để làm sạt lở bờ phía Việt Nam, ăn cắp đất mang về phía đất nước “láng giềng tốt” bên kia biên giới. Đất bồi sang phía bắc đến đâu, các đồng chí xây nhà cao tầng và kéo giai cấp vô sản quốc tế Trung Hoa đến đó.

Xem xong clip của Giáo sư TTA, tôi bàng hoàng… Tất cả các triều đại Đường, Nguyên, Tống, Minh, Thanh, chưa có bất kỳ một triều đại nào trước Triều đại cộng sản Trung Hoa sử dụng những biện pháp tồi tệ như vậy với Việt Nam.

Việt Nam đã đối đầu với những đế quốc lớn, đã đối mặt với đủ loại thủ đoạn tàn bạo của nhiều loại đế quốc, nhưng có lẽ đây là ngón đòn xâm lược thâm hiểm và bẩn thỉu nhất của một loại đế quốc mới nổi: Đế quốc Trung Cộng.

Tôi hỏi Giáo sư TTA: “Ông có thể cho biết, có công trình thủy lợi nào mà Cộng sản Trung Hoa giúp Việt Nam không chứa đựng những “yếu tố đểu” tương tự như vậy không?”. Ông chau mày trầm ngâm suy nghĩ hồi lâu…

“Tôi khó trả lời anh quá”, Giáo sư nói với tôi như vậy.

Đến hành vi gây ô nhiễm môi trường “gien” Việt Nam
>

> Trên đường phố và sân bay Việt Nam hôm nay tràn ngập người Trung Quốc. Tôi vừa ngồi ở sân bay Đà Nẵng. Tôi đến hơi trễ, hỏi anh bạn ngồi bên phải tôi: “Máy bay Hà Nội gọi vào chưa?”, thì nghe câu hỏi lại bằng tiếng Tàu “Shen ma?” (Cái gì?). Tôi quay bên trái hỏi, thì lại nghe “Shen ma?”. Tôi quay phía sau hỏi, lại thấy “Ni shuo shen ma?” (Ông nói cái gì?)… Tôi ngỡ ngàng, tưởng mình lạc vào sân bay Bắc Kinh.

Làng sinh viên HACINKO (Phố Ngụy Như Kontum) không còn chỗ cho thuê vì hơn 500 người Trung Quốc đã “trấn” ở đó. Họ chen lấn trong thang máy và trong nhà ăn, thậm chí chiếm đứt thang máy để chơi đùa leo lên leo xuống, không cho bất kỳ ai sử dụng thang máy. Người Tàu đến đó mở hàng ăn, hàng bán quần áo, mua bán tấp nập như một chợ Tàu. Tối tối sinh viên Tàu trượt patin và la ó huyên náo một góc phố… Họ làm cho tôi liên tưởng tới hai mươi vạn quân Tàu Tưởng tràn vào Việt Nam năm 1945,… ghẻ lở, bẩn thỉu, ngông nghênh và láo xược.

Sao mà người Trung Quốc thắng thầu lắm thế? Chuyện bauxite Tây Nguyên đã có quá nhiều người nói rồi. Tôi đơn cử vài chuyện vặt vãnh khác: Chỉ ở một tỉnh ở rất gần Hà Nội thôi, Trung Quốc chưa làm xong Nhà máy điện HB, hàng ngàn công nhân Tàu chưa kịp rút, thì Tàu đã thắng thầu làm Nhà máy điện MK, và hàng ngàn công nhân Tàu lại xuất hiện. Những người Tàu từ các cơ sở sản xuất này lan tỏa khắp nơi để gieo rắc “hạt giống đỏ” cho cách mạng vô sản Trung Hoa, đỡ cho các công ty xuất khẩu lao động Việt Nam và các công ty môi giới hôn nhân khỏi phải xuất con gái qua Tàu… Tôi có dịp trao đổi với các chị phụ trách hội phụ nữ ở mấy tỉnh Tây Nguyên, thì được biết, các chị đang rất lo ngại, chưa biết xử lý thế nào với nạn con gái Tây Nguyên có bầu với công nhân Tàu (!).

Chúng ta nhìn thấy một cảnh tượng đang đến gần: Đội quân thứ 5 của Trung Cộng đang ngày càng được mở rộng. Cần cảnh báo: Khi Trung Cộng mới sáp nhập Tân Cương vào Trung Quốc, dân Hán ở đây chỉ chiếm chừng 4-5%. Sau nửa thế kỷ, dân Hán đã lên tới 45%. Tôi nhớ đã đọc ở đâu đó, chúng ta có thể rất cần đặt câu hỏi: “Bao giờ dân tộc Việt Nam trở thành dân tộc thiểu số trên chính đất nước mình?”.

Và rồi xoa dịu bằng mấy công trình văn hóa?

Gần đây chắc là Trung Nam Hải đã nhận ra sự phẫn nộ của dân chúng Việt Nam trước những hành vi xâm lược của họ, họ đã “kỷ niệm” cho dân Việt Nam mấy pha ngoạn mục: Trước hết là 30 triệu USD xây dựng ký túc xá cho Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh để đào tạo cán bộ cho Đảng. Tiếp đó là Cung Văn hóa hữu nghị Việt – Trung, chắc rồi đến Viện Khổng Tử,… và rồi không biết còn những thứ gì nữa.

*

Viết đến đây, tôi chợt nhớ cái thời lớp thanh niên chúng tôi say mê theo các nghệ sỹ ca ngợi,… những cánh hoa mộc miên bay tới đâu, tình hữu nghị của dân tộc Trung Hoa lan tỏa đến đó… Sao mà lãng mạn.

Ngẫu nhiên, tôi ngồi để hồi tưởng tâm tình lãng mạn theo những “Cánh hoa mộc miên” với Giáo sư Phạm Huy Tiến, một nhà địa chất, cũng có thời đi tu nghiệp “tiến tu Giáo sư” ở Học viện Địa chất Bắc Kinh (đối diện Học viện Khoáng nghiệp của tôi). Giáo sư Tiến cười rũ ngắt lời tôi: “Các bố nhầm hết rồi. Các nghệ sỹ cũng nhầm rồi. Cánh rừng mộc miên khi xưa nằm trên đất Việt Nam. Bọn địa chất chúng tôi lăn lộn ở đó quá nhiều. Cả đỉnh thác Bản Giốc nữa, cánh địa chất chúng tôi từng lên đó nấu cơm ăn… Nhưng rồi Trung Quốc lấn chiếm, nuốt toàn bộ cánh rừng mộc miên vào lòng Tổ quốc Trung Hoa”… Và thế là những cánh hoa mộc miên lại hồn nhiên bay “từ đất Trung Hoa”, lan tỏa tình hữu nghị “vạn cổ trường sinh” giữa hai dân tộc.

Ấy thế mà, trong khi tôi được nghe các bạn nghệ sỹ của chúng ta ca ngợi “Hoa mộc miên mọc đến đâu, lan tỏa tình thữu nghị của dân tộc Trung Hoa đến đó”, thì, trong một trang mạng nào đó, tôi lại nghe những người cộng sản Bắc Kinh lập luận: “Hoa mộc miên bay đến đâu gieo hạt đến đó; Cây mộc miên mọc ở đâu, đất trung Hoa ở đó. Việt Nam chỉ có cây tre, làm gì có cây hoa mộc miên!”.

*

Trung Hoa là một đất nước có một đảng lãnh đạo toàn diện, tuyệt đối. Như vậy có thể suy luận, mà không sợ sai lầm: Tất cả những sự kiện nêu trong bài viết này đều do các nhà lãnh đạo cộng sản Trung Quốc đưa đường chỉ lối.

Chính những người cộng sản Trung Hoa đã làm tan vỡ hoàn toàn tình cảm nồng ấm của những người thuộc thế hệ chúng tôi với một đất nước đã sinh ra Đức Tổ Vũ Hồn của dòng tộc của tôi, một đất nước, mà có thời tôi đã coi là Tổ quốc thứ hai của mình.

VCĐ

Lễ Trao Giải Nhân-Quyền 2009 của Mạng Lưới NQVN

Lễ Trao Giải Nhân-Quyền 2009 của Mạng Lưới NQVN, lần đầu tiên tổ-chức ở Hoa-Thịnh-Đốn



• Tâm Việt

Lễ Trao Giải Nhân-Quyền 2009 của Mạng Lưới NQVN, lần đầu tiên tổ-chức ở Hoa-Thịnh-Đốn , thành công vượt bực

• Tâm Việt

Thứ Năm 10 tháng 12 năm nay đánh dấu 61 năm bản Tuyên-ngôn Quốc-tế Nhân-quyền ra đời. Mạng Lưới Nhân Quyền Việt Nam, có trụ-sở ở Westminster, California, đã nhân cơ-hội này quyết-định trao Giải Nhân Quyền hàng năm cho hai người tranh đấu nhân-quyền nổi tiếng ở trong nước tại Hoa-thịnh-đốn để đánh động dư-luận quốc-tế về tình-trạng nhân-quyền ngày càng tồi tệ ở quê nhà.

 

Quang cảnh buổi lễ trao giải Nhân Quyền Việt Nam 2009
(ờ Washington Count Hotel) ngày 10/12/2009

Buổi lễ diễn ra từ 2 giờ đến 4 giờ chiều tại Washington Court Hotel, một địa-điểm rất gần Thượng-viện Hoa-kỳ, được đặc-biệt chú ý bởi đã có sự hiện diện của một số dân-biểu và thượng-nghị-sĩ Hoa-kỳ, đến để chia xẻ với chúng ta những cảm nghĩ của họ về tình-hình nhân-quyền ở quê nhà và những phương-thức nào có thể đem lại kết-quả hơn trong mục-đích cải thiện tình-hình này.

Thượng-nghị-sĩ Sam Brownback

Người đầu tiên được mời lên phát biều là TNS Sam Brownback, thuộc đảng Cộng-hoà TB Kansas. Ông cho biết ông đã quan-tâm từ nhiều năm nay đến vấn-đề nhân-quyền VN vì không có lý-do gì mà người Việt ở trong nước lại không có thể được hưởng những quyền căn-bản của con người như người Việt ở hải-ngoại. Ông hỏi có bao nhiêu người là thuyền-nhân trong số những người dự hôm nay. Khi nhiều cánh tay giơ lên, ông bảo ông rất kính phục những vị này bởi họ đã ra đi mà không quay lưng lại những người còn lại ở quê nhà, những người không được hưởng những quyền như chúng ta có ở ngoài này. Ông cũng cho biết, ông tự hứa là vào Thượng-viện ông sẽ chỉ ở hai nhiệm-kỳ, tức tổng-cộng 12 năm, vì vậy sang năm sẽ là năm cuối của ông ở Thượng-viện, ông sẽ không ra tranh cử nữa. Tuy-nhiên, ông vẫn mong là trước khi rút lui, ông sẽ được thấy Dự-luật Nhân-quyền VN năm 2009 thành luật sau khi được thông qua ở Thượng-viện. Để đạt được mục-tiêu, ông cho rằng tất cả chúng ta cần phải chủ-động hơn nữa trong việc vận-động với các nghị-sĩ ở tiểu-bang nơi ta trú ngụ để cho dự-luật có thể được thông qua nhanh chóng.

Hai dân-biểu Ed Royce và Cao Quang Ánh

Lên diễn-đàn sau ông Brownback là Dân-biểu Ed Royce, một ủng-hộ-viên hàng đầu của Đài Á Châu Tự Do và một người rất quan-tâm đến các vấn-đề truyền thông, Đài ACTD, Internet. Ông Ed Royce cho biết năm 2004, sở dĩ VNCS bị đưa vào danh-sách CPC (Countries of Particular Concern, các Quốc gia đáng quan-tâm đặc-biệt) là vì có một cuộc gặp gỡ của một số lãnh-đạo trong cộng-đồng người Mỹ gốc Việt với Tổng-thống Bush yêu-cầu chuyện đó. Rồi với sự tiếp tay của Quốc-hội, VNCS trong hai năm (2004-2006) đã nằm trong danh-sách CPC. Nhưng sau đó vì những lý-do chính-trị, khi Hà-nội được đưa ra khỏi danh-sách này, lập-tức Hà-nội trở lại những nếp đàn áp tự do tôn-giáo tệ hại hơn bao giờ hết. “Chính giờ này, trong khi ta đang đứng đây, các tu-sinh Bát Nhã một lần nữa bị xua đuổi khỏi một tu-viện thứ hai cho họ tá túc. Cũng chính giờ này, sự đàn áp vẫn tiếp-diễn với các thành-phần dân-chủ ở VN.” Do đó, ông kêu gọi cộng-đồng VN cần làm mạnh hơn nữa để đòi hỏi đưa VNCS trở lại trong danh-sách CPC. “Quyền-lực,” ông nói, “nằm với Quý Vị.” “Quyền-lực,” ông nói tiếp để động-viên chúng ta, “nằm ở trong phòng này.”

Đến lượt Dân-biểu Cao Quang Ánh, ông cho rằng những sự đàn áp tồi tệ về nhân-quyền thì ta biết cả rồi. Nhưng làm cách nào để cải thiện tình-hình đó mới là vấn-đề. Ông cho rằng chúng ta không thể cứ chống đánh xuôi, kèn thổi ngược mà có kết-quả được. Ông cho rằng 1 triệu rưởi người Mỹ gốc Việt là một sức mạnh ghê gớm lắm. Nếu ta biết bảo nhau, theo một chính-sách thống nhất (không nhất thiết mọi người phải ở trong cùng một tổ-chức, chỉ cần làm việc hài-hoà, nhịp nhàng với nhau cho cùng một mục-tiêu) là ta có thể có một tiếng nói ghê gớm lắm, ghê gớm hơn ta tưởng. Và lúc bấy giờ người ta mới nghe mình. Ông mong là cộng-đồng VN ở Mỹ chóng đến ngày làm việc được với nhau như thế.

Tiến-sĩ Sophie Richardson của HRW

Tiến-sĩ Richardson thuộc tổ-chức phi-chính-phủ Human Rights Watch, khi được mời lên nói chuyện, chia xẻ với cử-toạ một phần bản báo-cáo hằng niên của HRW sẽ được công-bố trong khoảng một tháng nữa. Cô đặc-biệt nhấn mạnh đến tình-trạng của các đồng-bào Thượng Tây-nguyên mà theo cô hiện còn ít nhất 300 người đang bị tù tội mà không được mấy ai đoái hoài. Cô cũng cho biết là các sư sãi người Miên Nam-bộ (Khmer Krom), như ở Sóc-trăng, đã bị mất hết các quyền căn-bản của họ mà cũng không được mấy người biết đến để can-thiệp cho họ.

Tiến-sĩ Scott Flipse của Uỷ-hội Hoa-kỳ về Tự do Tôn-giáo Quốc-tế

Đến lượt ông, Tiến-sĩ Scott Flipse kể là ông đã đi VN nhiều lần, đã gặp Đại-lão Hoà-thượng Thích Quảng Độ, L.M. Nguyễn Văn Lý, Luật-sư Nguyễn Văn Đài và Luật-sư Lê Thị Công Nhân ngay trong tù, v.v. Ông kể có lần HT Quảng Độ bảo: “Ông biết nhiều về VN thế, kiếp trước chắc ông phải là người Việt.” Rồi ông kể: Năm ngoái, phái-đoàn của Uỷ-hội Hoa-kỳ về Tự do Tôn-giáo Quốc-tế thăm Lê Thị Công Nhân trong tù trước khi phái-đoàn được Thủ-tướng Nguyễn Tấn Dũng tiếp. Biết thế, cô Lê Thị Công Nhân bảo: “Ông nói giùm với ông Dũng là ra tù vẫn còn Lê Thị Công Nhân và càng ngày càng có nhiều người trẻ như chúng tôi vì chúng tôi chỉ muốn sống như những con người ra con người.”

Rồi có lần, ông đến Sơn-la, ông bí-thư tỉnh-uỷ tuyên-bố là ở Sơn-la không có người Công-giáo. Nhưng rồi ông đến gặp khoảng 400 người, ông hỏi: “Ở đây có ai Công-giáo không?” Hầu hết mọi người đều giơ tay, ông Flipse quay lại ông bí-thư và hỏi: “Thế bây giờ ông có nghĩ là ở Sơn-la có người Công-giáo không?” Ông bí-thư bèn phải nói thật: “Có lẽ tôi sẽ phải đổi ý-kiến của tôi.”

Ông Flipse nói xong, bà Jackie Bông hỏi: “Thế bây giờ ông muốn tên VN của ông là gì?” Ông ta chưa biết trả lời ra sao thì cử-toạ đồng-thanh hô to: “Tên Nam.” Ông rất vui vẻ nhận tên này.

Mấy diễn-giả VN

Vì năm nay, vì mục-đích chính nhắm vào dư-luận quốc-tế và có nhiều diễn-giả người Mỹ nên phần phát biểu của các quan-khách người Việt được giữ ở mức tối-thiểu. Sau phần ông Đỗ Hồng Anh, chủ-tịch Cộng-đồng DC-MD-VA, lên nói ngắn gọn về ý-nghĩa của Tuyên-ngôn QT Nhân-quyền và phần BS. Nguyễn Quốc Quân lên chúc mừng hai vị được giải năm nay, anh Shandon Phan Quốc Cường, một luật-sư trẻ, đã lên thay mặt Uỷ-ban Cứu Ngưòi vượt biển nói về tình-hình của những người tỵ nạn gốc Việt hiện đang gặp khó khăn cả ở Căm-pu-chia lẫn Thái-lan: Cao-uỷ Tỵ nạn thì khó khăn, Phnom Penh thì cộng-tác với mật-vụ VN để đưa những người này về nước, còn Thái thì thờ ơ, bắt bí. Do đó nên anh kêu gọi chúng ta phải quan-tâm hơn nữa những trường-hợp này để giúp giải-quyết tình-trạng rất bi đát của họ.

Dân-biểu Loretta Sanchez: “Chúng ta đang làm lịch-sử”

Mặc dầu có một ngày thật bận rộn trên Quốc-hội, bà Loretta Sanchez cũng đã cố gắng đến với buổi lễ. Bà cho biết bà là trong 16 năm qua, bà đã là đại diện của một đơn-vị mà có lẽ đông người Việt nhất ở ngoài VN. Bà rất hãnh-diện về chuyện này và bà chào mừng con của nhà văn Trần Khải Thanh Thuỷ, cháu Đỗ Thuỷ Tiên, đã sang được kịp để lãnh giải cho mẹ cháu. Bà nói: “Đôi khi chúng ta không biết là ngồi đây, chúng ta đang làm lịch-sử. Mai kia khi Việt-nam tự do, dân-chủ, chúng ta sẽ nhớ lại ngày này để biết là giờ đây chúng ta đang làm lịch-sử.” Bà cũng cho biết là gần đây, nghị-quyết H.R. 672 về vấn-đề tự do trên Mạng (Internet freedom) do bà đề xuất đã được Hạ-viện Mỹ chấp thuận với đa-số tuyệt-đối. Và bà ca tụng hai vị được Mạng Lưới Nhân Quyền quyết-định trao giải năm nay.

Sau khi G.S. Đào Thị Hợi đọc tiểu-sử của Trần Khải Thanh Thuỷ trong tiếng Anh và bà Ngô Thị Hiền đọc trong tiếng Việt, ông Nguyễn Bá Tùng, Chủ-tịch MLNQ, đã lên trao tấm lắc vinh danh nhà văn TKTT cho con của bà, tức cháu Thuỷ Tiên, hiện đang học ở Montpellier, Pháp, và kịp sang để nhận giải cho mẹ. Đáp lời, cháu Thuỷ Tiên, 23, đã xin lên phát biểu, ngắn ngủi nhưng dõng dạc, nói thay cho mẹ cháu để cám ơn Mạng Lưới. Cháu cũng cho biết là mẹ cháu đã quyết-định sẽ chia cái giải đó ra làm 10 để tặng lại cho một số những người tranh đấu cho nhân-quyền ở trong nước mà trong lúc này có thể gặp khó khăn hơn bà.

 

Ông Nguyễn Bá Tùng, Chủ-tịch MLNQ trao lắc vinh danh NV Trần Khải Thanh Thủy cho đại diện là cô Thủy Tiên, con gái NV TKTT.

Hòa thượng Thích Tâm Thọ thay mặt MS Nguyễn Công Chính nhận lắc vinh danh từ GS Nguyễn Thanh Trang, MLNQVN

Cuối cùng, G.S. Đặng Đình Khiết thuộc Uỷ-ban Liên-tôn vùng HTĐ đã được mời lên đọc tiểu-sử của Mục-sư Nguyễn Công Chính, người đồng được giải NQ năm nay bên cạnh nhà văn TKTT. Luật-sư Trần Thanh Hiệp từ Pháp qua đọc phần tiếng Việt (198 lần bị gọi lên thẩm vấn, 19 lần bị đánh đập, v.v. chỉ vì tranh đấu cho quyền làm người của các đồng-bào Thượng) và G.S. Nguyễn Thanh Trang (MLNQ) đã trao lại tấm lắc vinh danh Ms. Chính mà Hoà-thượng Thích Tâm Thọ đã nhận lãnh giùm.

Cuối buổi, học-giả Đỗ Thông Minh từ Nhật qua đã trình chiếu mấy đoạn video để chứng minh cái mà ông gọi là “vu oán giá hoạ” của Công-an VC đối với nhà văn Trần Khải Thanh Thuỷ và chồng bà, nhà giáo Đỗ Bá Tân.

Phải nói là buổi lễ, vì được sự hỗ-trợ hết mình của cộng-đồng người Việt ở trong vùng, nhất là của nhóm “các bà mẹ VN,” nên đã diễn ra một cách thật trang trọng và ý nghĩa. Ai cũng bảo là vì năm nay, Giải NQ được tổ-chức ở vùng thủ-đô nên đã rất có trọng-lượng lớn nhờ ở sự tham-gia tích-cực của các nghị-sĩ dân-biểu và đại diện các NGO chuyên lo về nhân-quyền.

 

Học gỉa Đỗ Thông Minh và con gái nhà văn Trần Khải Thanh Thủy

Vận-động hành-lang

Cũng cần nhắc là trong buổi sáng hôm thứ Năm, 10/12, những người ở xa về cũng đã nhân cơ-hội này phối-hợp với ban tổ-chức để đi vận-động hành-lang cho Dự-luật NQ Việt-nam 2009. Một phái-đoàn đi với G.S. Nguyễn Thanh Trang và G.S. Nguyễn Ngọc Bích đã đến gặp văn-phòng của TNS John Kerry, chủ-tịch Uỷ-ban Ngoại-giao Thượng-viện Hoa-kỳ, để thúc đẩy chuyện này. Kế đó là văn-phòng TNS Kirsten Gillibrand. Một phái-đoàn khác đi với bà Jackie Bông Wright và ông Nguyễn Bá Tùng, chủ-tịch MLNQ, đến các văn-phòng của Dân-biểu Chris Smith, TNS Johnny Isakson và bà TNS Barbara Boxer (cả hai phái-đoàn, hơn 10 người, gặp chung ở đây).

Ngày hôm sau, thứ Sáu, hai phái-đoàn sẽ còn gặp các văn-phòng như của TNS Dianne Feinstein (Cali), TNS B. Cardin và TNS. Jim DeMint.

Đi vận-động chung thì ngoài những người địa-phương (Maryland, Virginia) và người của MLNQ đến từ California còn có một phái-đoàn hùng hậu 5 người đến từ Boston, Massachusetts, do Dược-sĩ Trần Quang Tuấn và Tiến-sĩ Hà Văn Hải cầm đầu, và một phái-đoàn đến từ New Jersey do ông bà Trần Quán Niệm đảm trách.

Cảm-tưởng chung là những sự vi-phạm nhân-quyền quá lộ liễu gần đây của Hà-nội đang làm cho Hà-nội mất hầu như hết các đồng-minh trong Quốc-hội Hoa-kỳ, cả những người có thiện-cảm nhất đối với họ, như các TNS Kerry, McCain và Jim Webb nên khả-năng Dự-luật NQVN 2009, do bà Barbara Boxer đệ trình hồi tháng 5/2009, trở nên khá hiện-thực.

Tinh hinh chinh tri VN: Đối ngọai và đối nội roi beng

Posted on December 9, 2009 by 1945lactan

Mặc Lâm, phóng viên đài RFA, 2009-12-08

Luật Sư Trần Lâm, nguyên Thẩm phán Toà Án Nhân Dân Tối Cao, nguyên trưởng ban tuyên giáo tỉnh và hiệu trưởng trường Đảng trong nhiều chục năm. Ông được biết đến trong các vụ tranh cãi có liên quan đến dân chủ nhân quyền trong nước. Luật sư Trần Lâm vừa có bài viết nhận định tình hình chính trị hiện nay với nhiều chi tiết đang gây sự chú ý của dư luận trong và ngoài nước.

Photo courtesy nguyenthanhgiang.com Luật sư Trần Lâm và Tiến sĩ Nguyễn Thanh Giang (từ trái sang phải)

Mặc Lâm có cuộc phỏng vấn ông được chia làm hai phần. Phần đầu ông nói về cách hành xử của chính quyền trước các vấn nạn như Biển Đông, tình hình nông dân mất đất cũng như những hậu quả chính trị và xã hội xảy ra như thế nào.

Hợp tác với Trung Quốc là nắm giao đằng lưỡi

Mặc Lâm: Thưa ông, hiện nay mối lo ngại Trung Quốc đang âm ỉ và trong nội bộ Đảng có khuynh hướng chia ra nhiều ý kiến khác nhau. Một trong các ý kiến cho rằng nên hợp tác với Trung quốc để khai thác tài nguyên trong đó có cả quặng mỏ và dầu khí còn hơn là trực diện đối đầu với họ sẽ mang nhiều nguy hiểm hơn. Ý kiến của ông như thế nào thưa ông? 

Hợp tác với nhau để làm ăn thì vốn của hai người phải bằng nhau chứ! Không có vốn thì làm sao được? Thứ hai là phải có kỹ thuật. Người ta giỏi hơn mình còn mình thì kém hơn thì làm sao làm ăn? Thứ ba nữa là họ thông qua người cầm đầu của mình, họ chi phối. Điều này chỉ là cái vỏ thôi, còn bên trong thì người ta lấy hết rồi. 

Luật Sư Trần Lâm: Nếu nói hợp tác thì phải thế này: Điều thứ nhất là phải có nhiều tiền. Bởi vì tôi với ông hợp tác với nhau để làm ăn thì vốn của hai người phải bằng nhau chứ! Không có vốn thì làm sao được? Thứ hai là phải có kỹ thuật. Người ta giỏi hơn mình còn mình thì kém hơn thì làm sao làm ăn? Thứ ba nữa là họ thông qua người cầm đầu của mình, họ chi phối. Điều này chỉ là cái vỏ thôi, còn bên trong thì người ta lấy hết rồi.

Thí dụ như đánh cá ở ngoài biển thì nó nguy hiểm như thế này: Ngay chính bây giờ tàu đánh cá của mình còn mang bán cá cho Trung quốc cơ mà! Và ở ngoài bể thì biết đâu mà chia? Còn dầu khí thì nó bí mật lắm, mình biết được ngày hôm nay là bao nhiêu, nói ra bằng ấy thôi nhưng vì họ đã chi phối được mình rồi thì họ công khai 10 mà họ lấy 20 thì làm sao mình biết? Tình hình như thế cho nên cùng kinh doanh thì chỉ là hình thức mà thôi vì người ta đã nắm người cầm đầu của mình rồi thì mặc sức mà tung hoành! 

Bây giờ Trung quốc dùng những áp lực về quân sự, những áp lực về chính trị, những áp lực về kinh tế để nô dịch mình, để mà gậm nhấm mình tuy chưa thật rõ lắm, nhưng cái cách của họ là thế này: Họ chi phối người cầm đầu của mình. Thông qua người cầm đầu của mình họ đưa việc của họ vào, đấy là cách của họ. 

Bây giờ Trung quốc dùng những áp lực về quân sự, những áp lực về chính trị, những áp lực về kinh tế để nô dịch mình, để mà gậm nhấm mình tuy chưa thật rõ lắm, nhưng cái cách của họ là thế này: Họ chi phối người cầm đầu của mình. Thông qua người cầm đầu của mình họ đưa việc của họ vào, đấy là cách của họ ngày hôm nay như thế. Không phải dùng kinh tế, chính trị hay quân sự như người ta thường nghĩ.

Cách này thì các nhà nghiên cứu thế giới đã nói, nếu mà như thế thì sẽ khơi động sự chống đối ở trong nước đối với người cầm quyền chứ không phải chống đối Trung quốc. Bởi vì Trung quốc họ có hiện diện ở đây đâu mà mình chống đối được? Họ dùng người cầm quyền của mình thì mình phải trở lại chống người cầm quyền của mình, Thế hoá ra mình lại đánh mình! Tình hình hiện nay là như vậy đấy.

Nông dân bị bạc đãi, bóc lột

Mặc Lâm: Nông dân là thành phần đại đa số của xã hội Việt Nam và ông đã khẳng định trong bài viết của mình rằng thành phần này đã và đang bị bạc đãi một cách tồi tệ. Ông có thể cho thính giả biết một cách cụ thể hơn hay không?

Luật Sư Trần Lâm: Điều quan trọng nhất là mình không cho nông dân chuyển hoá ruộng đất, không cho họ làm gì cả họ vẫn như ngày xưa. Trên thực tế khi người ta làm nông nghiệp thì luôn luôn thừa nhân lực, lúc đó phải dạy nghề, hay đưa vào công trường, nhà máy thì mới cơ giới hoá, hiện đại hoá được. Thực ra một nước nông nghiệp chỉ có thể lấy nhân lực từ khu vực nông dân mà thôi. Thành phố có ít dân cư nên không thoả mãn được nhu cầu nhân lực. Lực lượng nhân lực từ nông dân rất lớn cho nên muốn đưa vào dầu khí, vào cơ khí hay khai mỏ…đều là con em của người nông dân chứ thành phố có mấy? Vì vậy không cải tạo nông nghiệp thì không rút được lao động ra. 

Thành phố có ít dân cư nên không thoả mãn được nhu cầu nhân lực. Lực lượng nhân lực từ nông dân rất lớn cho nên muốn đưa vào dầu khí, vào cơ khí hay khai mỏ…đều là con em của người nông dân chứ thành phố có mấy? Vì vậy không cải tạo nông nghiệp thì không rút được lao động ra. 

Mà lao động muốn sử dụng được thì phải có học hành như thành thị. Nông dân cứ bị kềm hãm như thế là một việc sai về nguyên lý rất rõ ràng. Cái sai thứ hai là cứ giữ không cho nông dân chuyển động ruộng đất của họ. Tôi đã từng chứng kiến một hộ nông dân nọ có một cái bìa ruộng quy định theo nhà nước.

Có cái một trăm mét vuông có cái 50 mét vuông mà có hộ có đến hơn 10 mảnh đất lẻ tẻ như vậy mà từ mảnh nọ đến mảnh kia có khi cách nhau cả hai cây số! Thế thì còn làm ăn gì được nữa? Không cho người ta mua bán sang nhượng cứ giữ người ta như thế. Ung nhọt như thế, bức bối như thế kềm hãm người ta đến mức như thế!

Mặc Lâm: Theo những ghi nhận của nhiều tổ chức quốc tế thì người nông dân đã có đời sống tốt hơn vì sản xuất lúa gạo tăng trưởng mạnh và nhất là sau thời kỳ mở cửa thì tình trạng khá hơn rất nhiều…

Luật Sư Trần Lâm: Đến khi ông ấy mở cửa…Mở cửa thì phải có đất để mở mang xí nghiệp, công trường rồi các công xưởng rồi làm đường làm xá…vì vậy cần phải có diện tích đất. Thế thì lại lấy của nông dân…Nông dân đã không có đất rồi mà lại mất đất thêm nữa! Mà lại khổ như thế này, cứ có miếng nào ngon nằm chỗ tốt nhất thì lại lấy để làm công xưởng! Các nước trên thế giới có luật riêng của họ về trưng dụng đất. Nếu lấy đất để làm công nghiệp thì phải ở những chỗ không sản xuất được hoặc thật xa khu dân cư thì mới chấp thuận. Còn ở ta thì ông nhà nước ông ấy lấy gần Hà Nội, ông ấy lấy gần Hải Phòng…toàn những hạng ruộng đất phì nhiêu, màu mỡ để làm công trường trong và đuổi người nông dân ra khỏi đất!

Mặc Lâm: Dư luận báo chí cho rằng vần đề đất đai đã đẻ ra tình trạng tham nhũng hiện nay, ông có chia sẻ như vậy hay không?

Luật Sư Trần Lâm: Nếu chỉ có thế thôi thì đẻ ra kìm hãm nông dân nhưng đồng thời lại đẻ ra cái thứ hai nữa là sử dụng đất của nông dân vừa lãng phí vừa không hợp lý làm cho nông dân đói khổ. Nhưng không phải chỉ hai cái đó, nó còn có cái thứ ba là tham nhũng. Lấy đất của người ta một mét vuông trả cho người ta nửa đô la một mét nhưng đến khi mình bán thì giá lại thì từ 20 cho tới 100 đô la một mét! Thế là tham nhũng đất của nông dân và bán chác lấy tiến. Người nông dân mất đất, nhà nước trở thành tham nhũng. Tham nhũng đất đai là tham nhũng lớn nhất của ta hiện nay, làm đảo lộn xã hội, làm suy đồi chính quyền.

Lấy đất của người ta một mét vuông trả cho người ta nửa đô la một mét nhưng đến khi mình bán thì giá lại thì từ 20 cho tới 100 đô la một mét! Thế là tham nhũng đất của nông dân và bán chác lấy tiến. Người nông dân mất đất, nhà nước trở thành tham nhũng. 

Chia rẽ giữa chính quyền và nông dân

Mặc Lâm: Và theo ông thì hậu quả chính trị dễ thấy nhất là gì khi tham nhũng tràn lan một cách không thể kiểm soát như vậy?

Luật Sư Trần Lâm: Việc này gây ra kẻ thù là người nông dân! Và đồng thời tự mình tha hoá. Tham nhũng thì hư đốn. Họ cướp bóc nên có tiền xây dựng nhà cửa ghê gớm lắm. Trước kia người ta vẫn nghĩ ai cũng là người Việt cả nhưng bây giờ thì không còn nữa, người Việt Nam chia ra rồi có còn như trước nữa đâu! Hai giai cấp rõ ràng giai cấp của tham quan có tiền thừa bạc để, giai cấp nông dân nghèo đói thê lương!

Bản thân chính sách và luật pháp cho nông nghiệp nó đã kìm hãm rồi. Thứ hai nữa khi mở cửa nó lại sinh ra việc lấy đất của nông dân vì thế cho nên mới xảy ra các vụ biểu tình. Những người trong Nam kéo ra Hà Nội để biểu tình. Từ các tỉnh kéo về…có lúc Hà nội một ngày có mấy cuộc biểu tình thành thử ra bây giờ chính trị cũng mất mà về kinh tế thì nông dân họ có muốn làm lụng gì đâu. Người nông dân còn bị những chuyện đau lòng ghê gớm nũa là vấn đề con cái.

Đặc điểm ở ngoài Bắc thì đa số đều muốn con cái có bằng cấp để có thể vào làm việc trong nhà nước, làm quan mà! Cái tư tưởng làm quan đã ăn sâu vào người Việt từ hàng ngàn năm rồi, đặc biệt là ở ngoài Bắc.

Thế nên có bao nhiêu tài sản đều đổ vào cho đứa con nó đi học nhưng nền giáo dục nó suy sụp đến mức báo động rồi. Học thì học nhưng con cháu tôi nó dốt lắm cơ! 

Bản thân chính sách và luật pháp cho nông nghiệp nó đã kìm hãm rồi. Thứ hai nữa khi mở cửa nó lại sinh ra việc lấy đất của nông dân vì thế cho nên mới xảy ra các vụ biểu tình. Những người trong Nam kéo ra Hà Nội để biểu tình. Từ các tỉnh kéo về…có lúc Hà nội một ngày có mấy cuộc biểu tình.

Chúng tôi học chẳng bao nhiêu nhưng thấy con cháu mình kém xa sự hiểu biết của thời chúng tôi đi học ngày xưa. Người nông dân bị đánh tứ phía, bị đánh đủ mọi mặt!

Tội phạm gia tăng

Mặc Lâm: Còn hệ quả xã hội thì theo ông có phải nó đang ăn mòn mọi giá trị đạo đức cũng như văn hoá theo như báo chí đánh động lâu nay hay không?

Luật Sư Trần Lâm: Người ta không có ăn vì thế mới đẻ ra là họ đi khắp nơi kiếm sống. Họ kiếm sống. Họ kiếm sống không được nên họ phá! Mà đã phá rồi thì trở thành tội phạm! Tôi cho một thì dụ: Người ta ngồi đọc báo Công An rồi người ta tỉ mỉ ghi dấu tất cả những vụ phạm tội thì thấy ra một điều, những kẻ phạm tội 95% đều đến từ nông thôn, đều từ nông thôn ra tỉnh hết.

Họ không có việc làm, họ đói nên phải bò đi. Không có nghề nghiệp mà lại đói thì bắt đầu phá! Phá thế cho nên tội phạm khắp nơi. Tại Hà Nội ngày nay người nông dân  đổ về đông không kể xiết. 

Thế bây giờ cứ hỏi tại sao lại bán dâm, tại sao lại bán phụ nữ ra nước ngoài, tại sao lại bán trinh…bây giờ nhé, người ta bị ốm, ốm mà không có tiền mua thuốc. Nếu không có thuốc thì chết thế thì có gì mà chả bán? 

Hà nội không còn cái kiều gì của Hà Nội cả nó lai căng y như kiểu dân nhập cư tại châu Âu! Có người đến Paris than rằng khổ lắm da đen nằm ở khắp nơi…đại để nó như thế. Thế bây giờ cứ hỏi tại sao lại bán dâm, tại sao lại bán phụ nữ ra nước ngoài, tại sao lại bán trinh…bây giờ nhé, người ta bị ốm, ốm mà không có tiền mua thuốc.

Nếu không có thuốc thì chết thế thì có gì mà chả bán? Việc bán con bây giớ rất thịnh hành ở Việt Nam, trước kia thì cũng có chứ không phải không nhưng mà nó rất lẻ tẻ không như bây giờ. Người không thuốc men sắp chết rồi thì đành phải bán con. Hay là có người nông dân chạy được một số tiền đem người nhà mình lên bệnh viện Hà Nội, người ta cho biết thuốc rất đắt phải hết bằng này tiền…thế nên người nông dân đành phải đưa người nhà mình về.

Đấy nó kéo theo hệ quả bao trùm tất cả, bởi vì nước ta bây giờ 75 tới 80% là nông dân mà tất cả 75% đều khốn đốn như thế thì có phải cả nước đang khốn đốn hay không?

Mặc Lâm: Xin cám ơn LS Trần Lâm.

Thưa quý thính giả LS Trần Lâm sẽ tiếp tục trình bày quan điểm của ông về việc chính quyền không coi trọng tự do ngôn luận cũng như cô lập các trí thức có phản biện. Ông cũng đưa ra lập luận làm cách nào để Đảng cầm quyền hiện nay hoạt động hiệu quả hơn, mời quý vị đón theo dõi phần hai cũng do Mặc Lâm thực hiện trong lần phát thanh tới. 

Copyright © 1998-2009 Radio Free Asia. All rights reserved.

Filed under: Diễn Đàn Thảo Luận, Tin Tức Việt Nam | Leave a Comment »

Bộ trưởng Quốc phòng Cộng Sản Việt Nam thăm Mỹ

Posted on December 9, 2009 by 1945lactan

BBC, ngày 8 tháng 12, 2009̃

Hai bộ trưởng đã có tiếp xúc tại Đối thoại Shangri-La (05/2009) 

Có tin Bộ trưởng Phùng Quang Thanh sắp thăm Hoa Kỳ, trong khi Việt Nam công bố Sách trắng Quốc phòng.

Nguồn tin của BBC cho hay Đại tướng Phùng Quang Thanh sẽ sang Mỹ từ 13/12-18/12 trong chuyến thăm đánh dấu bước tiến mới trong quan hệ quân sự song phương. Ông Thanh sẽ tiếp bước bộ trưởng tiền nhiệm Phạm Văn Trà, người có chuyến thăm lịch sử tới đất nước cựu thù trong bốn ngày hồi tháng 11/2003. Chỉ dấu về chuyến thăm của bộ trưởng quốc phòng Việt Nam đã được đưa ra trong một cuộc phỏng vấn của Đại sứ Việt Nam tại Hoa Kỳ, ông Lê Công Phụng, dành cho Thông tấn xã Việt Nam từ hồi tháng Tám. Lúc đó ông Phụng nói “hai bên đang bàn việc Bộ trưởng Quốc phòng Việt Nam thăm Hoa Kỳ” và nhấn mạnh rằng “hợp tác với Mỹ là hết sức cần thiết”.Hiện chưa rõ nghị trình chuyến đi của ông Phùng Quang Thanh nhưng trong một phỏng vấn mới đây, ông nói ông muốn tháng 12 này “đi thăm Mỹ, Pháp để tiếp tục đẩy mạnh hợp tác trên những lĩnh vực mà hai bên cùng quan tâm”.Ông đã có tiếp xúc với Bộ trưởng Quốc phòng Robert Gates tại Đối thoại về an ninh khu vực (Đối thoại Shangri-La) tại Singapore vào tháng Năm. Hôm 01/12, ông cũng có cuộc tiếp xúc thân mật với Đại sứ Mỹ tại Việt Nam Michael Michalak, mà người ta cho là để chuẩn bị cho chuyến đi tới.Kể từ khi cuộc chiến Việt Nam kết thúc, các bộ trưởng quốc phòng hai bên đã có nhiều chuyến thăm viếng lẫn nhau cho dù quan hệ mới được bình thường hóa năm 1995. 

Quan hệ ấm dần

Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ William Cohen là nhân vật đứng đầu Lầu Năm góc đầu tiên sang Việt Nam hồi tháng 03/2000.  Bộ trưởng Donald Rumsfeld cũng đã sang Việt Nam tháng 06/2006. Hoa Kỳ và Việt Nam đã mở đối thoại chiến lược chính trị-quốc phòng thường niên để thảo luận nhiều vấn đề hợp tác như gìn giữ hòa bình và chống khủng bố. Nhiều sỹ quan quân đội Việt Nam đã được đưa sang huấn luyện tại các trường võ bị Hoa Kỳ.Quân đội Mỹ cũng từng mở lớp hội thảo, tập huấn về quân y tại Việt Nam. Một số tàu hải quân Hoa Kỳ đã tới thăm Việt Nam kể từ tháng 11/2003, khi chiến hạm USS Vandegriff cập cảng Thành phố Hồ Chí Minh lần đầu tiên, kể từ sau khi chấm dứt chiến tranh hồi 1975. Hồi tháng Tư năm nay, quan chức quân sự cao cấp của Việt Nam có chuyến viếng thăm lần đầu tiên tới một hàng không mẫu hạm của Hoa Kỳ, cho thấy có “sự cải thiện rõ ràng” trong việc hợp tác giữa lực lượng hải quân hai nước. Trong khi đó, hôm thứ Ba 08/12, nhân dịp kỷ niệm 65 năm ngày thành lập Quân đội, Bộ Quốc phòng Việt Nam đã tổ chức họp báo công bố “Sách trắng Quốc phòng Việt Nam năm 2009″.Cuộc họp báo do Thứ trưởng Quốc phòng, Trung tướng Nguyễn Chí Vịnh, chủ trì. Đây là lần thứ ba Việt Nam ra sách trắng công bố cơ cấu và chiến lược quốc phòng trong thời kỳ mới. Hai lần trước là vào các năm 1998 và 2004.

Filed under: Tin Quốc Tế, Tin Tức Việt Nam | Leave a Comment »

Lê Công Định sẽ bị truy tố về tội: “Hoạt động nhằm lật đổ chính quyền nhân dân”

Posted on December 8, 2009 by 1945lactan

Dưới đây là những dàn dựng chụp mũ cáo buộc LS Lê Công Định của CSVN trên báo Quân Đội Nhân Dân ) để bắt bớ khủng bố và cầm tù các chiến sĩ dân chủ nhằm trấn áp phong trào dân chủ trong nước:

 Thật lạ! Cách gọi cái gọi là “nhà hoạt động dân chủ” dường như rất xa lạ với bạn đọc báo Việt Nam nói riêng và người Việt Nam nói chung. Phải chăng, khi cần che đậy một mục đích nào đấy, người ta cứ tùy tiện “phong đại” những người vi phạm pháp luật là “nhà dân chủ”?  

Trong khi đó, qua các phương tiện thông tin đại chúng, nhiều người đều biết các ông Lê Công Định, Trần Huỳnh Duy Thức, Nguyễn Tiến Trung và Trần Anh Kim là những người câu kết, làm tay sai cho các tổ chức phản động hữu danh vô thực ở nước ngoài như “đảng Việt Tân”, “đảng Nhân dân hành động”… để chống lại Nhà nước Việt Nam. 

Họ nhận tiền bạc của thế lực thù địch, họ được gọi ra nước ngoài để huấn luyện làm gián điệp, bàn cách thành lập “tổ chức”, lôi kéo kẻ xấu để lật đổ chính quyền. Tại sao có thể gọi những người chống lại nhân dân, vi phạm nghiêm trọng pháp luật Việt Nam là “những nhà hoạt động dân chủ?”. 

Cũng trên BBC Vietnamese, bài báo lại thêm một lần nữa có những nhận định thiếu thiện chí khi cho rằng, 3 ông Lê Công Định, Trần Huỳnh Duy Thức và Lê Thăng Long “bị bắt trong đợt trấn áp đầu mùa hè vừa qua”. “Trấn áp” ư? Sao lại có thể hồ đồ như vậy khi nhận định về hoạt động luật pháp của một nước? Những nhà báo chân chính thật khó đồng tình với một thái độ làm báo quá chủ quan, nếu không muốn nói là ác ý như vậy? 

Quay trở lại vụ án liên quan đến các ông Lê Công Định, Trần Huỳnh Duy Thức, Nguyễn Tiến Trung và Bùi Anh Kim có hành vi phạm tội chống Nhà nước Việt Nam. Để bạn đọc hiểu hơn thái độ của tác giả bài báo trên, chúng tôi xin dẫn ra đây những lời thú tội và xin được khoan hồng của những kẻ chống phá Nhà nước. 

Hãy nghe Lê Công Định khai rằng: “Đầu tháng 3/2009, tại Pattaya, Thái Lan, tôi đã bị tổ chức Việt Tân lôi kéo tham gia lớp huấn luyện “đấu tranh bất bạo động”. Tôi hiểu ý định của tổ chức Việt Tân là muốn những người tham gia lớp này có thể tổ chức những cuộc biểu tình bất bạo động như vậy ở Việt Nam trong tương lai. Tôi thấy những việc làm nêu trên của tôi có mục đích tuyên truyền chống Nhà nước Việt Nam và hành vi của tôi đã vi phạm luật pháp Việt Nam. Cụ thể là Điều 88, Bộ luật Hình sự như tôi bị khởi tố. Tôi rất hối hận về sai lầm của mình mà vì đó mà tôi đã bị bắt tạm giam như ngày hôm nay. Do vậy, tôi đã khai báo đầy đủ việc làm của mình cho cơ quan điều tra và mong muốn được hưởng các tình tiết giảm nhẹ và sự khoan hồng theo quy định của pháp luật”. 

Còn Nguyễn Tiến Trung thì thú nhận: “Đến nay sau một quá trình làm việc với cơ quan điều tra, tôi đã nhận thức được các hành vi của tôi là vi phạm pháp luật nghiêm trọng chống lại Nhà nước CHXHCN Việt Nam, tôi rất ân hận vì đã làm liên lụy đến gia đình, người thân và bạn bè và sẽ từ bỏ không tham gia vào đảng Dân chủ Việt Nam và tập hợp thanh niên dân chủ, chấm dứt các hoạt động chống lại Nhà nước CHXHCN Việt Nam, nay tôi cũng xin được sự khoan hồng của pháp luật, để tôi có thể sớm trở về với gia đình làm một người công dân tốt, sử dụng kiến thức của tôi để tham gia đóng góp vào sự phát triển của đất nước một cách tích cực”. 

Cũng một thái độ thành khẩn, Trần Huynh Duy Thức cũng xin được khoan hồng: “Tôi đã tự nhận thức và thông qua thời gian làm việc với cơ quan điều tra, tôi đã nhận rõ hành vi của mình vi phạm nghiêm trọng pháp luật của Nhà nước Việt Nam và tôi cảm thấy rất ân hận về các việc làm của mình, ân hận vì đã có quan hệ với ông Nguyễn Tâm và ông Lê Công Định trong việc có một số hành vi chống phá Nhà nước… đã có những suy nghĩ xuyên tạc, nói xấu và chia rẽ các vị lãnh đạo Nhà nước ở cấp cao, tôi thực sự ân hận về việc làm của mình và thông qua cơ quan an ninh điều tra mong muốn nhận được sự rộng lượng khoan hồng của Đảng và Nhà nước để tôi được miễn giảm hình phạt, để tôi sớm trở về với gia đình thành người công dân tốt để khắc phục được phần nào hậu quả cái hành vi phạm pháp của mình gây ra”. 

Và Trần Anh Kim thì sao? Ông ta cũng thừa nhận hành vi nhận tiền của bọn phản động nước ngoài chống phá Nhà nước khi thú nhận: “Trong quá trình như vậy tôi cũng có nhận tiền của một số người ở nước ngoài cũng như những người ở trong nước mua các phương tiện thông tin giúp mình tiện liên lạc đồng thời có cho một số người tiền bạc để họ vào tổ chức của chúng tôi, và quá trình làm việc như vậy sau khi tôi suy nghĩ lại thì tôi thấy những việc làm của tôi đã vi phạm pháp luật của Nhà nước CHXHCN Việt Nam, và tôi mong được Nhà nước CHXHCN Việt Nam xét và cho tôi hưởng khoan hồng”.

 Hẳn nhiều người đều đã được biết, 4 ông: Lê Công Định, Trần Huỳnh Duy Thức, Nguyễn Tiến Trung, Trần Anh Kim thú nhận, mục đích cuối cùng hành vi phạm tội của họ là câu kết với thế lực thù địch ở nước ngoài tiến tới lật đổ Nhà nước Việt Nam. 

Những ông “ếch ngồi đáy giếng” ảo vọng rằng, sau này sẽ “chia bánh” ai làm Bộ trưởng, ai là Thủ tướng (!?). Đấy là hành vi vi phạm pháp luật nghiêm trọng. Không thể đánh tráo khái niệm để “phong” cho họ là “nhà hoạt động dân chủ”! Những ai làm báo kiểu đánh tráo khái niệm với thái độ thiếu thiện chí như vậy sẽ khó nhận được sự đồng tình của dư luận.

Với những ép cung, bắt buộc phải thú nhận phạm tội đối với các chiến sĩ dân chủ trước khi xét xử, luật pháp của CSVN chỉ là công cụ đàn áp nhân dân của bè lũ cầm quyền độc tài phi nhân. Trước thời đại văn minh toàn cầu, hành động này của CSVN thật là ấu trĩ và lố bịch.

Filed under: Tin Quốc Tế, Tin Tức Việt Nam | Leave a Comment »

Đại sứ Thụy Điển: Việt Nam cần có tự do để phát triển

Posted on December 8, 2009 by 1945lactan

RFA, 2009-12-07

Tại Hội nghị các nước cấp viện cho Việt Nam, bên cạnh cam kết gia tăng viện trợ, quốc tế cũng kêu gọi Việt Nam hãy mở rộng tự do thông tin đế phát triển.

  AFP PHOTO/Hoang Dinh Nam Hội nghị các nước cấp viện cho Việt Nam nhóm họp tại Hà Nội hôm 3-12-2009.

Kết thúc Hội nghị tại Hà Nội, các nhà tài trợ quốc tế công bố mức cam kết viện trợ vốn ODA dành cho Việt Nam với hơn 8 tỷ USD.
Tuy nhiên, bên cạnh cam kết này các nước phương Tây cảnh báo rằng việc chính phủ hạn chế các phương tiện truyền thông và Internet, cũng như các trang mạng xã hội như Facebook, sẽ đe dọa tới sự phát triển kinh tế của Việt Nam.Mặc Lâm có cuộc phỏng vấn đặc biệt với ông Rolf Bergman, Đại sứ Thuỵ Điển tại Việt Nam, người tham dự hội nghị để biết thêm chi tiết về vấn đề này.

Mức Viện Trợ Kỷ Lục 

Mặc Lâm:  Thưa ông Đại sứ, kết thúc Hội nghị các nước cấp viện cho Việt Nam là cam kết hơn 8 tỷ đô la, số vốn ODA lớn nhất từ trước tới nay. Theo nhận xét của ông Đại sứ thì lý do nào đưa đến kết quả rất phấn khởi này thưa ông?

 Đại sứ Rolf Bergman:  Số tiền này được cam kết từ các nước cấp viện cho Việt Nam trong tài khóa 2010 nhưng thực tế thì một số đã được giải ngân trong tháng này lý do vì ngân sách của chúng tôi có những khác biệt.So sánh với con số 6 tỷ vào năm nay thì năm tới có nhiều hơn, do thành quả của Việt Nam đã khiến nhiều nước trong nhóm cấp viện có niềm tin cao hơn.Tuy nhiên tôi vẫn nghi ngờ số tiền mà các nước cam kết có đạt đến mức hơn 8 tỷ hay không vì tỷ giá thay đổi của năm nay so với năm tới, hơn nữa như tôi đã trình bày thì một số đã đươc giải ngân trong năm nay.

Việt Nam đã có những tiến triển rất khích lệ trong cách điều hành kinh tế của chính phủ cũng như những chính sách tài chánh tiền tệ phù hợp được đưa ra trong năm nay đã giúp thị truờng tương đối ổn định so với những nước khác trong khu vực.Đại sứ Rolf Bergman  

Đối với Việt Nam, tôi xác nhận một lần nữa những thành tựu mà nước này đã đạt được thì không có gì phải bàn cãi. Có những tiến triển rất khích lệ trong cách điều hành kinh tế của chính phủ cũng như những chính sách tài chánh tiền tệ phù hợp được đưa ra trong năm nay đã giúp thị truờng tương đối ổn định so với những nước khác trong khu vực.Chính phủ cũng đã tỏ ra khôn khéo hơn khi sử dụng những đồng vốn ODA trong các dự án của họ và họ đã thành công.

Tự do để phát triển 

Mặc Lâm:  Ông đã có những quan tâm gì được phát biểu trong hội nghị, đặc biệt về vấn đề nhân quyền hay tự do dân chủ?

 Đại sứ Rolf Bergman:  Về các vấn đề nhân quyền, tự do dân chủ thì nhà nước có nỗ lực cải tiến tuy nhiên tôi cho là chưa đúng mức. Các thành quả kinh tế và an sinh xã hội có thể tốt và đạt hiệu quả nhưng chưa bù đắp được những gì mà người dân cần trong lĩnh vực dân chủ nhân quyền.  

Chính trị vẫn là một mối quan tâm lớn của các nước cấp viện bên cạnh các thành quả mà Việt nam đạt được trong năm qua.

 Mặc Lâm:  Trong thời gian qua nhà nước đã thử nghiệm việc đóng cửa các trang mạng xã hội như facebook và kiểm soát việc truy cập internet của người dân một cách gắt gao hơn. Ông đại sứ có phát biểu gì về vấn đề này?

 Đại sứ Rolf Bergman:  Chúng tôi đã đưa ra những quan tâm về vấn đề tự do truyền thông nơi công cộng cũng như nhận được thông tin của người dân là một yếu tố quan trọng cần phải hiện thực hoá để đẩy mạnh phát triển.

Chúng tôi đề nghị chính phủ Việt nam tháo bỏ các tường lửa nhằm ngăn cản truy cập vào internet, kể cả minh bạch hoá các hồ sơ chống tham nhũng như lời yêu cầu của các đại biểu quốc hội đưa ra mới đây. Đại sứ Rolf Bergman

Chúng tôi nhấn mạnh rằng báo chí cũng như các trang mạng xã hội giữ vai trò hết sức trọng yếu trong việc nối kết thông tin, để dẫn đến thành quả, chứ không tác hại gì đến các kế hoạch của chính phủ. Chúng tôi thật sự quan ngại khi nhận được tin chính phủ kiểm soát trang xã hội Facebook vì làm như thế là cản trở sự phát triển chứ không thể gặt hái kết quả tốt được.

 Chúng tôi đề nghị chính phủ Việt nam tháo bỏ các tường lửa nhằm ngăn cản truy cập vào internet, kể cả minh bạch hoá các hồ sơ chống tham nhũng như lời yêu cầu của các đại biểu quốc hội đưa ra mới đây.Các nước cấp viện có mặt trong hội nghị như Hoa Kỳ, Canada, Na Uy, New Zealand cũng như các nước châu Âu khác đều có chung những quan ngại như của chúng tôi.

 Mặc Lâm:  Theo chúng tôi được biết thì Thuỵ Điển là nước có quan tâm rất nhiều đến vấn đề tham nhũng tại Việt nam trong nhiều năm qua. Riêng trong năm 2009 ông Đại sứ có ghi nhận bất cứ một tiến bộ nào mà Việt nam đạt đựơc trong lãnh vực chống tham nhũng hay không?

Đại sứ Rolf Bergman:  Vâng chúng tôi thường có những cuộc trao đổi với các giới chức Việt Nam về vần đề chống tham nhũng và chúng tôi nhận thấy trong thời gian qua đã có những tiến triển đáng khích lệ.

Giao diện Tiếng Việt của trang Facebook.

Bất cứ lúc nào có cơ hội nói chuyện với họ chúng tôi cũng lập đi lập lại quan điểm rất rõ ràng của chúng tôi là minh bạch trong công tác chống tham nhũng là ưu tiên hàng đầu mà chúng tôi quan tâm. Chúng tôi cũng đã nhiều lần nhấn mạnh đến vai trò của báo chí trong việc phát hiện các vụ tham nhũng.

Cản trở vai trò truyền thông chân thực của báo chí là cản trở sự phát triển của quốc gia. Nhiều nước đã chứng minh điều này trong quá khứ và tôi tin rằng Việt Nam cũng không ngoại lệ.Đại sứ Rolf Bergman  

Chúng tôi hy vọng sẽ thấy nhiều hơn nữa những tiến bộ trong lĩnh vực này nhưng phải thật lòng mà nói chúng tôi chưa thấy chính phủ có phản hồi tích cực trong vấn đề này và vì vậy chúng tôi cảm thấy hơi thất vọng.Mặc Lâm:  Ông đại sứ có trông đợi rằng những mối quan tâm của ông sẽ đựơc nhà nước Việt Nam thực hiện một cách nghiêm túc hay không?

Đại sứ Rolf Bergman:  Chúng tôi vẫn đang trông đợi thêm những nỗ lực của chính phủ Việt nam trong vấn đề này bên cạnh các thành tựu kinh tế mà họ đạt được. Chúng tôi vẫn trông chờ chính phủ cho phép báo chí được tự do nhiều hơn nữa để từ đó dẫn đến một nền báo chí tự do hoàn toàn, vì trên nguyên tắc chúng tôi vẫn tin rằng cản trở vai trò truyền thông chân thực của báo chí là cản trở sự phát triển của quốc gia. Nhiều nước đã chứng minh điều này trong quá khứ và tôi tin rằng Việt Nam cũng không ngoại lệ.

Mặc Lâm:  Xin cám ơn ông đại sứ đã dành thời gian cho chúng tôi thực hiện cuộc phỏng vấn hôm nay.

Ông Rolf Bergman, Đại sứ Thuỵ Điển tại Việt Nam

Filed under: Diễn Đàn Thảo Luận, Phỏng Vấn, Tin Tức Việt Nam | Leave a Comment »

Nhà văn Phạm Ðình Trọng giải thích lý do bỏ Ðảng: ‘Ðảng ngày càng tiến sâu vào sai lầm’

Posted on December 7, 2009 by 1945lactan

Trả thù người miền Nam khiến ‘đất nước kiệt quệ’

Lữ Tống (riêng cho Người Việt)

LTS: Mới đây, nhà văn Phạm Ðình Trọng công khai từ bỏ đảng tịch Ðảng Cộng Sản Việt Nam sau gần 40 năm tham gia sinh hoạt. Nhà văn Phạm Ðình Trọng cũng là một thiếu tá Quân Ðội Nhân Dân Việt Nam, từng là cây viết của Binh Chủng Thông Tin Liên Lạc, sau đó về tạp chí Văn Nghệ Quân Ðội. Ông là học viên khóa 1 trường viết văn Nguyễn Du, làm biên kịch cho xưởng phim Quân Ðội và có nhiều sáng tác đã được xuất bản. Lữ Tống có cuộc phỏng vấn đặc biệt với nhà văn, thiếu tá quân đội Phạm Ðình Trọng để tìm hiểu thêm lý do khiến ông đi tới quyết định này. Người Việt xin giới thiệu cùng độc giả sau đây. 

-Lữ Tống: Thưa ông, xin cảm ơn thời gian mà ông dành cho chúng tôi trong cuộc phỏng vấn này. Trước nhất xin được hỏi, là một đảng viên 40 tuổi Ðảng, thời gian có thể kể là dài, đủ để đặt niềm tin vào một việc gì đó so với cả một đời người. Xin ông cho biết tại sao cuối cùng ông quyết định từ bỏ Ðảng, tức là từ bỏ niềm tin mà ông đã đặt vào?

-Nhà văn Phạm Ðình Trọng: Tôi là Phạm Ðình Trọng, nhà văn, đảng viên Cộng Sản lớp Hồ Chí Minh từ ngày 19 Tháng Năm, 1970. Từ lúc tự nguyện tham gia hàng ngũ cộng sản, cho đến khi tự rút ra khỏi đảng chỉ thiếu vài tháng là đủ 40 năm; cả một quá trình chuyển biến trong tôi. Ðây là sự thay đổi về nhận thức, từ nhận thức bằng tình cảm chuyển dần sang nhận thức bằng lý trí. Nhận thức này đi cùng với nhận thức về quá trình chuyển biến của chính đảng Cộng Sản, từ ý chí vì dân vì nước trong giai đoạn ban đầu, đã chuyển sang sang ý chí chỉ vì sự tồn tại của đảng vào ngày hôm nay.

Trong lúc cả nước còn nghèo, thậm chí có nơi còn đói, còn phải nhờ vào thế giới giúp đỡ, thực tế vẫn tồn tại các quan chức, đảng viên giàu có vượt cả sự tưởng tượng của người dân. Có đảng viên mang cả triệu đô la đi đánh bạc và sống sa đọa nhưng ở chi bộ họ vẫn được xét là đảng viên “bốn tốt!” Bên cạnh đó, những việc hồi gần đây cho thấy đảng đang tiến ngày càng sâu vào những sai lầm và không có dấu hiệu gì thay đổi mặc cho nhiều đảng viên lẫn trí thức đưa ra hàng trăm kiến nghị yêu cầu đảng tự sửa chữa các lỗi lầm từ trong quá khứ và đang kéo dài mãi tận ngày nay.

-Lữ Tống: Ông có thể đưa ra một vài dẫn chứng cái mà ông gọi là sai lầm tồn tại và vẫn kéo dài?

-Phạm Ðình Trọng: Ðấy là chuyên chính vô sản đã gây ra Cải Cách Ruộng Ðất, Cải Tạo Công Thương Nghiệp Tư Bản Tư Doanh. Ðấy là các vụ án chưa bao giờ công khai ra trước ánh sáng công lý, như vụ án Nhân Văn Giai Phẩm, vụ án Xét Lại Chống Ðảng, đã chà đạp lên số phận bao người trung thực, tài giỏi, gây nỗi kinh hoàng cho dân tộc, gây thiệt hại vô cùng to lớn cho đất nước. Ðấy là những cuộc bắt bớ, đấu tố đang diễn ra như cuộc cải cách ruộng đất kinh hoàng năm nào vẫn đang âm thầm tái diễn đến tận hôm nay! Ðấy là những cuộc đàn áp người tranh đấu cho dân chủ, tức là tranh đấu cho quyền lợi nhân dân, nhưng đảng lo sợ và đảng đã đàn áp họ thẳng tay.

Còn về sự kiện năm 1975, những người sáng suốt đều nhìn thấy đây không phải là chiến thắng của ý thức hệ Cộng Sản. Nếu đảng biết đặt dân tộc lên trên, đất nước sẽ có một tiềm lực vô cùng to lớn. Cơ sở vật chất kỹ thuật và lực lượng lao động cao cấp còn ở lại miền Nam là một vốn quí, một bệ phóng thuận lợi cho nền kinh tế nước nhà nhưng đảng đã không sử dụng tiềm lực này mà ngược lại đã tiêu diệt thẳng tay bằng nhiều cách, khiến cho đất nước kiệt quệ cả nhân lực lẫn cơ sở vật chất.

-Lữ Tống: Thưa ông, có người nói đó là “tâm lý chung,” tức là, hành động tịch thu, trả đũa sau bao nhiêu năm chiến tranh?

-Phạm Ðình Trọng: Ðảng đã giành hết vinh quang về cho đảng. Người cộng sản trở nên kiêu ngạo, tự mãn, và càng tự tin vào tín điều cộng sản! Ðảng say sưa đấu tranh giai cấp! Ðảng cải tạo công thương nghiệp tư bản tư doanh! Ðảng hủy hoại khối lượng lớn của cải, làm tan hoang những cơ sở vật chất của một nền sản xuất công nghiệp tương đối phát triển! Ðảng gây hận thù dân tộc, đẩy hàng vạn người từng tham gia với chính quyền cũ vào những trại cải tạo, gây chia rẽ, ly tán trong lòng dân tộc! Thời cơ mất đi! Tiềm lực vô cùng quý giá để phát triển đất nước cũng mất đi! Ðất nước bị đẩy đến tận cùng quẫn bách.

Nỗi đau ly tán của dân tộc Việt Nam còn âm ỉ, nhức nhối đến hôm nay là hậu quả tất yếu của kiên trì tín điều Cộng Sản đưa giai cấp lên trên dân tộc, là trách nhiệm không thể chối bỏ của đảng Cộng Sản.

-Lữ Tống: Ông đưa ra nhận định về năng lực lãnh đạo, với ý cho rằng đó là một trong những nguyên nhân chủ yếu khiến đất nước bị mất dần đường biên giới. Xin được nghe chi tiết hơn?

-Phạm Ðình Trọng: Tôi cho là lãnh đạo đảng ở cấp cao không có sự nhạy bén, năng động. Không có sự mẫn cảm và sáng láng của trí tuệ và tài năng tạo ra bước ngoặt cần có cho dân tộc. Ngược lại, đảng vẫn kiên trì với những tín điều cộng sản. Những người lãnh đạo đảng ở cấp cao đã có những nhượng bộ, thỏa hiệp để Trung Quốc vạch lại biên giới, phân chia lại vùng biển, chiếm đất, chiếm biển của ta. Trong thư ngỏ gửi Thủ Tướng Nguyễn Tấn Dũng vào ngày 3 Tháng Ba, 2009, tôi đã dẫn chứng về việc mất đất mất biển. Những hợp đồng kinh tế dễ dãi, ưu ái dành cho Trung Quốc. Dự án bauxite gây lo lắng cho cả dân tộc về môi trường, văn hóa, lẫn an ninh quốc phòng. Quan trọng hơn hết, là đảng không lắng nghe sự góp ý chân thành của những người trí thức. Ðảng luôn tuyên bố là vì lợi ích dân tộc nhưng trong dự án bauxite tôi cho rằng là vì lợi ích của ai kia chứ không phải cho dân tộc như đảng nói.

-Lữ Tống: Ông từng viết “Ăn Mày Dĩ Vãng,” nhằm chống lại những điều mà ông gọi là sử dụng tư tưởng Hồ Chí Minh một cách giả dối, thần thánh hóa lãnh tụ. Xin ông chia sẻ thêm?

-Phạm Ðình Trọng: Trong đời sống chính trị của nước ta hiện nay, từ ngữ có tần số sử dụng cao nhất là từ Hồ Chí Minh. Thần thánh hóa Hồ Chí Minh, đảng Cộng Sản Việt Nam luôn luôn nói đi theo con đường Hồ Chí Minh đã chọn, rầm rộ học tập tư tưởng đạo đức ấy. Trong bài viết “Ăn mày dĩ vãng – Thực Chất Cuộc Vận Ðộng Học Tập Tư Tưởng Ðạo Ðức Hồ Chí Minh,” tôi đã thẳng thắn nêu ra sự làm trái đó.

-Lữ Tống: Bài viết ấy, theo dư luận, đã gây khó khăn cho ông rất nhiều phải không, thưa ông?

-Phạm Ðình Trọng: Trong cuộc họp vào ngày 13 Tháng Mười Một, 2009, Ðảng ủy nơi tôi sinh hoạt đã kết luận bài viết của tôi là “phủ định chủ nghĩa Mác-Lê nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đã thể hiện rõ rằng tôi không còn trung thành với Ðảng, với tổ quốc Việt Nam Xã Hội Chủ Nghĩa, đã xuyên tạc, bôi nhọ hình ảnh lãnh tụ Hồ Chí Minh.”

-Lữ Tống: Ông suy nghĩ về những kết án này như thế nào?

-Phạm Ðình Trọng: Ðó là kết luận áp đặt, khiên cưỡng, thiếu thiện chí với tôi và né tránh, không đủ dũng khí nhìn vào sự thật.

-Lữ Tống: Ông có tâm sự gì muốn chia sẻ thêm với chúng tôi?

-Phạm Ðình Trọng: Tôi xin nói thêm ba điều như thế này. Thứ nhất, đây không phải là hành động chống đối đảng Cộng Sản. Thứ hai, về hình thức thì việc từ bỏ Ðảng Cộng Sản, nếu xét theo vận động cơ học thì đây là việc làm bình thường của bất cứ tổ chức nào. Có vào thì phải có ra, rất bình thường. Thứ ba là bản chất sự việc, ra khỏi đảng là thức tỉnh của nhận thức, sự thức tỉnh này không phải chỉ riêng cá nhân tôi mà nó mang tính thời cuộc. Thời này tôi nghĩ là thời của tự thức tỉnh. Có rất nhiều anh em lớp trước hay cùng lứa với tôi, đều có chức vụ đại tá, thượng tá cả, và họ đã từ khước việc sinh hoạt đảng sau khi về hưu tại nơi các anh ấy sống bằng cách không nộp giấy sinh hoạt đảng cho các tổ chức đảng tại địa phương. Giống như các anh ấy, chúng tôi đều thấy là có sự thất vọng và hụt hẫng vô cùng to lớn. Vì thế tiếng nói từ bỏ đảng của tôi không phải là tiếng nói lẻ loi hay duy nhất, mà là một trong những tiếng nói chung của rất nhiều người như tôi mà thôi.

-Lữ Tống: Xin cám ơn về thời gian ông dành cho chúng tôi.

Filed under: Diễn Đàn Thảo Luận, Phỏng Vấn, Tin Tức Việt Nam | Leave a Comment »

Dân Biểu Cali Trần Thái Văn, Dân Biểu Lb Loretta Sanchez

Posted on December 7, 2009 by 1945lactan

TRẦN BÌNH NAM . Việt Báo Thứ Bảy, 12/5/2009, 12:00:00 AM

(LTS: Sau đây là ý kiến riêng của nhà bình luận Trần Bình Nam, và là một người viết thường xuyên của Việt Báo. Ý kiến này không phản ảnh quan điểm của tòa soạn.)

 

Tờ tuần báo Mõ San Francisco số ngày 21/11/2009 có đăng một Tâm Thư của một số vị trong cộng đồng Việt Nam ủng hộ dân biểu tiểu bang California Trần Thái Văn tranh ghế dân biểu Liên bang đơn vị 47 (vùng Garden Grove, Nam California) trong cuộc bầu cử tháng 11 năm 2010.

Việc cộng đồng người Việt ủng hộ một người Mỹ gốc Việt là một việc làm chính đáng, và rất nên khuyến khích. Còn gì quý bằng trong quốc hội Liên bang chúng ta có thêm một đaị diện người Mỹ gốc Việt.
Điều đáng quan tâm là trong Tâm thư, quý thân hữu của Dân biểu Trần Thái Văn (thuộc đảng Cộng Hòa) cho biết rằng Dân biểu Trần Thái Văn sẽ ra tranh với nữ Dân biểu Loretta Sanchez (thuộc đang Dân Chủ).

Quý vị ký Tâm Thư công nhận rằng Dân biểu Loretta Sanchez từng tranh đấu cho dân chủ và nhân quyền tại Việt Nam nhưng Dân biểu Trần Thái Văn là người gốc Việt có quả tim Việt Nam nên ông sẽ tranh đấu hữu hiệu hơn.

Tôi nghĩ quý vị quyết định ủng hộ Dân biểu Trần Thái Văn để thay thế Dân biểu Sanchez là một việc làm thiếu cân nhắc.

Bà Dân biểu Sanchez trong bao năm qua đã tranh đấu không mệt mỏi cho lý tưởng dân chủ tự do tại Việt Nam. Bà không nề hà một khó khăn nào để làm công việc đó. Bà đã lên tiếng tại Hạ Nghị Viện Hoa Kỳ. Bà đã đệ nạp nhiều dự luật ủng hộ cuộc đấu tranh cho dân chủ và nhân quyền tại Việt Nam. Bà đã bao lần về Việt Nam đấu tranh trực diện với chính quyền Hà Nội. Bà Sanchez đã là ân nhân của nhiều người Việt tị nạn.

Chúng ta sằn sàng ủng hộ Dân biểu Trần Thái Văn vào quốc hội Liên bang, nhưng vào để thay thế bà Sanchez thì chúng ta sẽ trả một giá rất đắt, một cuộc đi buôn lỗ lã. Dân biểu Trần Thái Văn nên tìm một đơn vị khác, ông sẽ được sự ủng hộ nồng nhiệt của cử tri người Mỹ gốc Việt tại đơn vị đó.

Trước hết nếu Dân biểu Trần Thái Văn thắng bà Sanchez thì từ nay về sau sẽ không có một dân biểu người Mỹ nào còn hứng thú để đấu tranh cho những lý tưởng của cộng đồng Việt Nam vì người ta hiểu cộng đồng Việt Nam là một cộng đồng phe đảng và vô ơn bạc nghĩa.

Còn nếu bà Sanchez vẫn thắng thì chúng ta sẽ mất sự ủng hộ của bà cho cuộc tranh đấu của chúng ta. Bà nghĩ rằng bà đã bị phản bội.

Vậy đằng nào cộng đồng người Việt cũng bị thiệt thòi.

Trở lại chuyện quả tim người Việt nơi Dân biểu Trần Thái  Văn. Tôi tin Dân biểu Trần Thái Văn có quả tim người Việt hơn bà Sanchez nhưng có quả tim và trải quả  tim đó ra mà người ta có nghe hay không là một chuyện khác. Tiếng nói của bà Sanchez từng được nghe tại tòa nhà quốc hội Hoa Kỳ, từng vang dội tại Hà Nội. Dân biểu Trần Thái Văn nếu thay chỗ bà Sanchez chưa chắc tiếng nói của ông mạnh bằng tiếng nói của bà Sanchez.

Tôi hy vọng bức Tâm Thư ủng hộ Dân biểu Trần Thái Văn để thay thế bà Loretta Sanchez chỉ hạn chế trong giới hạn địa lý vùng Vịnh. Những vị đại diện cộng đồng Nam California tại đơn vị của bà Dân biểu Sanchez sẽ sáng suốt nhận định để hướng dẫn bà con tại địa phương.

Trần Bình Nam
Dec. 4, 2009
binhnam@sbcglobal.net
www.tranbinhnam.com

http://www.vietbao.com/?ppid=45&pid=114&nid=152816

Filed under: Diễn Đàn Thảo Luận, Sinh Hoạt Địa Phương | Leave a Comment »

Hội Đồng Liên Tôn, Uy Ban Xây Dựng Sức Mạnh Cộng Đồng: Bàn Việc Bầu Cử Một Ban Đại Diện Cộng Đồng Duy Nhất

Posted on December 7, 2009 by 1945lactan

 Việt Báo Thứ Hai, 12/7/2009, 12:00:00 AM

Hội Đồng Liên Tôn, Uy Ban Xây Dựng Sức Mạnh Cộng Đồng: Bàn Việc Bầu Cử Một Ban Đại Diện Cộng Đồng Duy Nhất

Họp với Hội Đồng Liên Tôn về bầu cử cộng đồng.
Santa Ana – Một buổi họp tại Trung Tâm Công Giáo VN, Giáo phận Orange, đã diễn ra trong vòng thân mật, xây dựng và đầy nhiệt tình vào tối ngày thứ Ba 1/12/09 giữa Hội Đồng Liên Tôn (HĐLT) và Ủy Ban Xây Dựng Sức mạnh Cộng Đồng (UBXDSMCĐ) để bàn về việc bầu cử  một Ban Đại Diện Cộng Đồng duy nhất đã đạt kết quả khả quan.

Phái đoàn UBXDSMCD gồm có Gs Nguyễn Thanh Liêm, cựu thứ Trưởng Văn hoá & Giáo dục VNCH và một số nhân sĩ có uy tín trong UB. UB cho biết tại Buổi Họp Khoáng Đại cộng đồng vào ngày 17/05/09 tại hội trường Thị Xã Westminster, UB đã được các hội đoàn và đồng hương ủy nhiệm hai trọng trách: 1) Vận đồng thành lập trung tâm sinh hoạt;
2) Vận động tổ chức bầu cử một Ban Đại Diện duy nhất cho CĐVN Nam Cali để tạo sức mạnh và lấy lại danh dự cho một cộng đồng đã bị phân hoá từ hơn thập niên nay. Sau đó, vào đầu tháng 06, 2009, đại diện UBXDSMCĐ đã đến gặp nhiều hội đoàn, đoàn thể trong đó có HĐLT để mời hợp tác trong hai sứ mạng đầy phức tạp và nan giải này.

Mục sư Trần Thanh Vân, Chủ tịch điều hợp HĐLT, cho biết HĐLT luôn luôn ưu tư về sự phân hóa trầm trọng trong cộng đồng và sự cần thiết phải có một Ban Đại diện Cộng đồng có uy tín để phối hợp công tác đấu tranh cho tự do, dân chủ và nhân quyền tại quê nhà cũng như bảo vệ các quyền lợi an sinh khác cho đồng hương tại địa phương. Mục sư Vân cũng cho biết ngay sau khi nhận được thư mời họp của UB, các thành viên HĐLT đã dành nhiều thời giờ để bàn thảo về khả năng tổ chức bầu cử một Ban Đại diện duy nhất có đầy đủ uy tín để đại diện cộng đồng.

Kế đó, Cha Giám Đốc TTCG, Nguyễn Uy Sĩ, cho biết vì đây là trách nhiệm chung của mọi người nên HĐLT sẽ sẵn sàng chịu trách nhiệm tổ chức bầu cử một Ban Đại diện Cộng đồng Nam Cali nếu được sự tín nhiệm và chấp thuận bằng văn bản của các đại diện Hội đoàn, Đoàn thể trong cộng đồng. Sau đó, HĐLT sẽ nhờ các luật sư có tinh thần quốc gia dân tộc và am hiểu tình hình cộng đồng soạn thảo điều lệ và nội quy cho BTC Bầu cử cũng như Ban Đại diện Cộng Đồng.

Sau hai giờ thảo luận và trao đổi ý kiến, nhiều thành viên trong UB đã ca ngợi sự dấn thân của HĐLT trong công tác đầy cam go này. Buổi họp đã đi đến kết quả phân công như sau:

1) UBXDSMCĐ sẽ gửi Thư Mời đến các hội đoàn, đoàn thể trong cộng đồng để thỉnh ý về việc tín nhiệm HĐLT trong việc tổ chức bầu cử Ban Đại diện Cộng Đồng Nam Cali cũng như tổ chức một buổi họp khoáng đại cộng đồng vào đầu tháng Giêng 2010 để tường trình công tác của UB. Trong dịp này, nếu được tín nhiệm, HĐLT sẽ trình bày về phương thức tổ chức bầu cử BĐDCĐ-Nam Cali.

2) HĐLT sẽ liên lạc với các luật sư để soạn thảo Điều lệ & Nội quy cho BTC Bầu cử và BĐDCĐ – Nam Cali.

Filed under: Sinh Hoạt Địa Phương | Leave a Comment »

Lê Hồng Hà: “Tìm cho đất nước một đường hướng tốt”

Posted on December 7, 2009 by 1945lactan 

   KQ Phan Đình Minh   
Buổi nói chuyện của
 Chương trình Từ Cánh Đồng
 Mây với Cụ Lê Hồng Hà

   

  LÊ HỒNG HÀ
 Nguyên chánh văn phòng
 Bộ Công An trong nước

 ( Hình trên: Cụ Lê Hồng Hà và GS Nguyễn Thanh Giang )

 Ông tâm tình: “Tôi là một thanh niên Việt Nam tham gia mặt trận Việt Minh, tham gia tổng khởi nghĩa năm 1945. Rồi là chánh văn phòng bộ công an. Tôi làm việc và tiếp xúc với nhiều cơ quan khác nhau, nên kiến thức được mở rộng. Vụ án quan trọng “xét lại chống đảng” có tới 70 ủy viên trung ương bị tố cáo, bắt giam và đối xử với gia đình người ta không ra sao chỉ vì khác quan điểm với bộ chính trị. Tôi lên tiếng bênh vực những người này nên Lê Đức Anh (chột mắt) và Lê Đức Thọ tìm cách trị tội, khai trừ tôi ra khỏi đảng. Trình độ văn hóa của những người lãnh đạo hạn chế, minh oan cho người khác mà bị khai trừ, cái đảng này không đáng cho mình vào làm cái quái gì! Đảng không đáng cho mình sùng bái. Sống là con người, vì nhân dân thì ra khỏi đảng suy nghĩ hay hơn, độc lập hơn. Đảng cộng sản Việt Nam hôm nay đang ở trong một cuộc khủng hoảng trầm trọng về mọi mặt như kinh tế, xã hội, chính trị về tư tưởng về tổ chức. Việt Nam đang đứng trước nguy cơ Bắc thuộc. Không thể tin vào được một người lãnh đạo nào. Đời sống chính trị đang diễn ra hai vấn đề: Thứ nhất tìm một đường hướng tốt, đứng đắn cho dân tộc. Thứ hai phải chấm dứt thái độ bạc nhược, khuất phục Trung Quốc. Phải hiên ngang bảo vệ tổ quốc. Tầng lớp tham nhũng là những người lãnh đạo trong đảng”

www.ledinh.ca 

Direct link:
 http://www.ledinh. ca/Bai%20PV% 20Cu%20Le% 20Hong%20Ha% 202009.html 

Xin bấm để nghe 

 

Anh em dân chủ chụp hình chung với ông Lê Hồng

  

Ông Lê Hồng Hà:  

CSVN khủng hoảng toàn diện và có nguy cơ Bắc thuộc 

 RFA, Tuesday, October 13, 2009.

Đại hội đảng CSVN diễn ra 5 năm một lần, quyết định tất cả mọi đường lối, chính sách cũng như thành phần lãnh đạo đất nước. AFP photo
Tại Hội nghị lần thứ 11 Ban chấp hành Trung ương đảng CSVN, một bản Dự thảo cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ tiếng lên chủ nghĩa xã hội dù chưa chính thức công bố, nhưng trong dư luận đã có những ý kiến phản bác.Nhiều người cho rằng, báo cáo chính trị tại Hội nghị đã không đánh giá đúng thực tế và hướng phát triển của Việt Nam .  Những ý kiến đó ra sao? Việt Hùng của Ban Việt Ngữ Đài Á Châu Tự Do có bài ghi nhận.

Khủng hoảng toàn diện?

Đưa ra lời bàn ngay sau kết thúc Hội nghị Trung ương 11, ông Lê Hồng Hà, một nhà quan sát chính trị về nội tình đảng CSVN từ Hà Nội cho rằng, Hội nghị Trung ương đánh giá tình hình không đúng. Câu hỏi đặt ra, chưa đúng, không đúng dựa trên những điểm nào? Ông Lê Hồng Hà  đưa ra nhận định.

Ông Lê Hồng Hà: Tôi thấy Hội nghị Trung ương đánh giá tình hình không rõ, hay nói cách khác là không đúng. Đất nước Việt Nam hiện nay đang ở trong một cuộc khủng hoảng Kinh tế – Xã hội – Tư tưởng – Văn hóa – Chính trị toàn diện chứ không phải như các ông lãnh đạo lâu nay vẫn nói chỉ thừa nhận “hình như” tình hình Việt Nam chỉ có một chút suy thoái kinh tế trong khủng hoảng tài chính chung của thế giới.

Về vấn đề suy thoái kinh tế thì rõ rồi, xã hội hiện nay có nhiều băng hoại, phạm pháp tăng, xã hội xuống cấp cho nên ông công an có điều kiện phá án rồi được khen thưởng, tuyên dương. Những người quan tâm đến tình hình đất nước nhìn thấy vấn đề, người ta ngao ngán và lo sợ.

Giáo dục thì khủng hoảng đằng giáo dục, những phát biểu của GS Hoàng Tụy, GS Chu Hảo thì thấy giáo dục đang khủng hoảng rất dữ. Tham nhũng hiện rất mạnh, lan tràn cho dù hết nghị quyết này nghị quyết khác nhưng tham nhũng vẫn phát triển. Vụ án Huỳnh Ngọc Sỹ là một trò cười trong thiên hạ.

Về mặt chính trị, chưa bao giờ có tình trạng chủ trương của đảng và nhà nước đưa ra mà tầng lớp nhân dân phản ứng mạnh và dai dẳng như vụ Bauxit vừa rồi. Phải nói về chính trị chưa hề bao giờ có tình trạng mà chủ trương nói của đảng, thực hiện nghị quyết của đại hội đảng mà quần chúng nhân dân phản ứng như thế.

Cho nên trạng thái xã hội hiện nay theo tôi suy nghĩ phải nhận định Việt Nam đang ở trong một cuộc khủng hoảng toàn diện về Kinh tế – Chính trị – Tư tưởng – Văn hóa – Xã hội, chứ không thể nói như mấy ông ấy là đang “phơi phới” đi lên, không có đâu!

Điểm đáng nói cuộc khủng hoảng toàn diện ấy lại diễn ra trong thời điểm đất nước Việt Nam này đứng trước nguy cơ bị Bắc thuộc, lệ thuộc vào Trung Quốc.

Trong khi Trung Quốc có rất nhiều những hoạt động bành trướng, xâm lấn nơi này nơi khác, rồi phân chia Vịnh Bắc bộ, lấn chiếm ở biên giới, thành lập Huyện Tam Sa, rồi biển đông họ xử sự như thế thì phải nói thái độ của Trung Quốc rất “ngông nghêng  và trắng trợn” trong khi thái độ của các cơ quan lãnh đạo Việt Nam thì bạc nhược, khuất phục.

Điểm này có thể nói tầng lớp nhân dân Việt Nam rất tức tối và lo lắng…

Phương thức giải quyết

Tính cho tới thời điểm này, bản Dự thảo Báo cáo chính trị  cho Đại Hội 11 sẽ diễn ra vào năm tới 2010 dù chưa công bố, nhưng theo ý kiến của một số nhân vật theo dõi tình hình chính trị trong nước sẽ được đưa ra bàn tiếp tại Hội nghị Trung ương 12 dự tính nhóm họp vào đầu năm tới 2010.

Trở lại vấn đề, nếu đã nói khủng hoảng chính trị thì phải có hướng giải quyết. Cách giải quyết ở Việt Nam thì thường không như những quốc gia khác trên thế giới. So sánh phương thức giải quyết của Việt Nam khác với những quốc gia khác, ông Lê Hồng Hà cho rằng:

Ông Lê Hồng Hà: Đã là khủng hoảng thì phải tìm cách giải quyết. Thông thường ở những quốc gia khác, khi khủng hoảng thì họ dùng cách “đảo chính” tổ chức biểu tình, hay “lật đổ” chính quyền đương thời để tiến lên. Đấy là cách thông thường diễn ra mỗi khi có khủng hoảng…, nhưng ở Việt Nam thì hoàn toàn khác. Theo tôi suy nghĩ, tôi tạm phân biệt làm hai thời kỳ:

- Thời kỳ từ 1940 – 1975.
- Thời kỳ từ 1975 – cho đến nay.

Thời kỳ từ 1940 – 1975 Việt Nam đã giải quyết những vấn đề bằng khởi nghĩa, bằng cách mạng, bằng kháng chiến, bằng bạo lực để giải quyết vấn đề.

Thời kỳ từ 1975 trở lại đây thì lại “khủng hoảng – đổi mới – phát triển” rồi lại “tái khủng hoảng – tái đổi mới – tái phát triển”.

Tôi nói như thế nghĩa là, từ năm 1975 cho đến nay, trong xã hội Việt Nam vận động trong một cuộc đấu tranh đổi mới liên tục. Trước kia đảng CSVN thi hành nghị quyết đại hội IV đưa đất nước Việt Nam vào con đường thời kỳ quá độ xây dựng chủ nghĩa xã hội. Hợp tác hóa nông nghiệp, cải tạo công thương nghiệp, thiết lập kinh tế  kế hoạch hóa tập trung trong phạm vi cả nước lập chuyên chính vô sản thì các tầng lớp nhân dân tùy theo vị trí  đã tiến hành đấu tranh.

Thế rồi trong khi Ban chấp hành Trung ương tiến hành cải tạo xã hội chủ nghĩa, xóa bỏ giai cấp tư sản. Ông Đỗ Mười lúc bấy giờ vào miền Nam làm hung hăng lắm, nhưng thực tế ra nhân dân người ta vẫn tiến hành kinh doanh cá thể.

Một bên đảng cộng sản chủ trương kế hoạch hóa tập trung thế nhưng đời sống xã hội buộc đảng phải chấp nhận cơ chế thị trường cho nên phải chuyển sang cơ chế thị trường. Rồi mấy ông lãnh đạo muốn oai hùng nói “cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa” đấy là nói thêm thôi chứ hiện nay nền kinh tế không còn là xã hội chủ nghĩa như đảng muốn nữa rồi.

Nội bộ Đảng…

Câu hỏi đặt ra, hướng đấu tranh  hiện nay đã và đang phát xuất từ xã hội, từ nội tình đảng như thế nào trong thời điểm Trung ương đảng CSVN đang soạn thảo Dự thảo cương lĩnh, văn kiện trình Đại hội XI. Ông Lê Hồng Hà, tiếng nói của một xu hướng chính trị từ Hà Nội đưa ra lời bàn.

Ông Lê Hồng Hà: Cuộc đấu tranh đổi mới hiện nay nhằm đạt đến hai mục tiêu tổng quát.

- Mục tiêu thứ nhất đấu tranh đòi Trung ương thôi đặt vấn đề nước Việt Nam đi vào thời kỳ quá độ xây dựng chủ nghĩa xã hội. Người ta muốn đề nghị đổi hướng phát triển đi.

- Mục tiêu thứ hai, chấm dứt thái độ bạc nhược, khuất phục Trung Quốc. Phải hiên ngang lên để bảo vệ quyền lợi, an ninh, lãnh thổ của Tổ Quốc. Không thể để tình trạng bạc nhược như thế này được.

Ý kiến của chúng tôi là đổi tên nước lại đi, Năm 1976 các ông say sưa với thắng lợi các ông đòi đổi tên Đảng Lao Động Việt Nam thành Đảng CSVN. Bây giờ xin trở lại Đảng Lao Động đi. Thời điểm đó các ông say sưa đổi tên nước thành Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam nay xin đổi lại tên cũ là Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa lại đi.

Tức là đổi hướng phát triển. Nếu không đổi hướng phát triển mà cứ tiếp tục đưa đất nước Việt Nam vào thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội tức là đồng nghĩa với việc tiếp tục đưa dân tộc Việt Nam vào con đường sai lầm.

Nguồn: Việt Hùng/RFA

oOo

 Ý kiến về Hoàng Sa và Trường Sa:

 http://www.youtube. com/watch? v=BAB3gnJBcgo 

 http://www.youtube. com/watch? v=IjIW_W8DXUw

 
oOo

 
Từ Hà Nội, Ông Lê Hồng Hà Trả Lời

 Phỏng Vấn Của Việt Tide

 (Tin Việt Tide)

LTS: Ông Lê Hồng Hà, từng là Chánh văn phòng của Bộ công an nhà nước cộng sản Việt Nam, sau đó giữ chức Trưởng ban Nghiên cứu Khoa học của Bộ công an và cũng là Giảng viên trường Đại học An ninh. Từ năm 1974, ông bị mất chức vì có quan điểm chống lại Trung ương. Năm 1982, ông bị quản chế không xét xử và năm 1993 bị tù 4 năm với tội danh chế độ quy chụp là “tàng trữ lá thư mật của ông Võ Văn Kiệt”. Năm nay ông Lê Hồng Hà 78 tuổi, hiện sống tại Hà Nội và thường xuyên lên tiếng đấu tranh cho tự do-dân chủ. Vợ ông là bà Lê Thi, từng là Viện trưởng Việt triết học Mác Lê và là con của học giả Dương Quảng Hàm. Nhân dịp đầu năm 2006, ông Lê Hồng Hà dành cho Đinh Quang Anh Thái của Việt Tide cuộc phỏng vấn sau đây:

Việt Tide: Xin chúc mừng ông và gia quyến nhân dịp Năm Mới 2006. Xin ông cho biết, theo ông, năm 2006 sẽ có gì khác những năm trước?

Ông Lê Hồng Hà: Năm 2006 sẽ đánh dấu sự phát triển tốt đẹp cho trào lưu dân chủ. Đó là nét nổi bật. Nếu nói tóm tắt thì tình hình Việt Nam trong những năm gần đây là “Dân đang thắng, Đảng đang thua”. Cứ mỗi năm dân lại thắng nhiều hơn, đảng lại thua nhiều hơn.

Việt Tide: Đảng cộng sản Việt Nam luôn khẳng định về sự ổn định chính trị. Có thật như vậy không, thưa ông?

Ông Lê Hồng Hà: Những người khoẻ mạnh chẳng ai cần khẳng định “Tôi còn sống đây. Tôi khoẻ đây”. Quá trình sụp đổ của hệ thống các quốc gia xã hội chủ nghĩa đã diễn ra bất chấp sự khẳng định nào trước đó. Nó là một quá trình tự vỡ. Muốn nó không vỡ cũng không được. Ở Việt Nam quá trình đó đang diễn ra chậm chạp nhưng chắc chắn.

Trong quá trình đó một hình thái xã hội mới, cũ với người nhưng mới với ta, đang manh nha hình thành, có xu hướng một xã hội dân sự (nền kinh tế nhiều thành phần, tư doanh đang từng bước phát triển, quyền tư hữu đang được nhìn nhận cũng từng bước, xu hướng kinh tế thị trường đang thay thế dần kinh tế kế hoạch hoá tập trung…). Những thay đổi đó không thể không tác động lên chính trị, cho dù chính trị có ù lì. Một sự thật rõ ràng là vì sự ù lì đó mà nền kinh tế bị ảnh hưởng, không có được những bước tiến lẽ ra phải có. Sau 30 năm, kể từ năm 1975, nước ta vẫn còn là một nước nghèo, đại đa số dân chúng còn sống trong thiếu thốn, trong khi đó thì các quan chức giàu lên ghê gớm. Quan chức ở đây tôi muốn nói là những người nắm quyền lực. Món hàng kinh doanh có lời nhất là quyền lực, người ta đổ xô đi kinh doanh món đó, bởi vì không có quyền lực thì không thể tham nhũng. Tham nhũng ắt gây ra bất bình, lộn xộn. Chẳng lẽ đó là sự ổn định tốt đẹp?

Việt Tide: Ông là một nhà đấu tranh cho dân chủ. Ông có thể cho độc giả Việt Tide biết nhiều hơn về phong trào dân chủ trong nước qua cách nhìn của ông?

Ông Lê Hồng Hà: Không phải cho tới nay mới có phong trào dân chủ. Thực chất, trong 30 năm qua, và còn từ trước nữa, luôn diễn ra cuộc đấu tranh giữa một bên là nhà cầm quyền cộng sản giữ chặt chính quyền đã chiếm được, và một bên là các tầng lớp nhân dân muốn thay đổi tình trạng đó. Trong cuộc đấu tranh này có ba lực lượng tiên phong, theo nhận xét của tôi, là giới trí thức, giới doanh nhân và giới cán bộ đã hoặc đang ở trong bộ máy nhà nước cộng sản.

“Nhà cầm quyền cộng sản (như phát biểu của ông Nguyễn Phú Trọng) coi cuộc đấu tranh này là cuộc đấu tranh giữa chính quyền xã hội chủ nghĩa với “các thế lực thù địch”. Nói như thế có nghĩa là bất cứ ý kiến nào khác với tư duy chính thống đều là thù địch hết. Quan điểm của ông Nguyễn Phú Trọng là quan điểm chính thống. Nó là cái người ta dùng làm chiêu bài để dễ bề đàn áp.

“Nhìn vấn đề như thế thì ta thấy ngay rằng ý muốn thay đổi thể chế xã hội, thay đổi thực trạng chính trị, cũng tức là phong trào dân chủ, đã có từ lâu. Nhưng phong trào chưa phải, không phải là một tổ chức chính trị. Một tổ chức dân chủ chưa thể hình thành công khai trong lúc này là bởi chính sách đàn áp khốc liệt của nhà cầm quyền. Vậy thì những người đang đấu tranh cho dân chủ là ai? Là tất cả những người yêu nước, bức xúc trước thực trạng xã hội suy đồi, băng hoại, mà lên tiếng. Họ chưa có tổ chức của mình, chưa có ai lãnh đạo, chưa có ai là ngọn cờ. Họ đấu tranh cho dân chủ hoá xã hội, mỗi người theo cách của mình. Có một tổ chức công khai bây giờ là sẽ bị đàn áp ngay lập tức, như tôi vừa nói. Nhưng không phải cứ không có tổ chức thì không nên làm gì, không làm được gì. Bằng những phát biểu chính kiến của mình, bằng sự vạch rõ những ung nhọt xã hội những người dân chủ đang đấu tranh đấy. Đấu tranh cho dân chủ ở đây đồng nghĩa với đấu tranh cho cho sự phát triển xã hội.

Việt Tide: Ông nghĩ gì về cuộc cãi cọ trong nội bộ những người dân chủ mới xảy ra gần đây? Theo ông, nó có ảnh hưởng đến phong trào dân chủ không?

Ông Lê Hồng Hà: Rất may là những người đấu tranh cho dân chủ không có sự bất đồng quan điểm về những vấn đề lớn trong cuộc đấu tranh chung. Song, trong những vấn đề nhỏ thì không phải là cái gì cũng có được sự đồng thuận. Chúng tôi thường tạm gác những điều chưa đồng thuận ấy lại, mọi người đều có thể bảo lưu ý kiến của mình trong những ý kiến trao đổi không công khai. Những cuộc cãi cọ vừa rồi đều là những xích mích mang tính cá nhân, không đáng để bình luận. Cho phép tôi không bình luận về vấn đề này. Với câu hỏi “Liệu cuộc cãi vã vừa rồi có ảnh hưởng đến cuộc phong trào dân chủ không?” thì tôi xin trả lời ngay rằng nó không hề và không thể ảnh hưởng đến phong trào chung. Các bạn ở ngoài chỉ biết đến một vài tên tuổi, chứ những người chưa có tên tuổi thì nhiều lắm. Bằng cách này cách khác họ đang cổ võ hoặc trực tiếp tham gia vào cuộc đấu tranh chung của mọi tầng lớp nhân dân. Hãy để cho chuyện cãi vã này qua đi, đừng để ý đến nó làm gì. Xin cảm ơn các bạn.

Việt Tide: Xin cảm ơn ông đã dành thời giờ cho cuộc phỏng vấn này.
 
oOo
Sách lược “Tiệm tiến” của Lê Hồng Hà

   Ngày: 22-10-2007
 Đề tài: Chính Trị Xã Hội Việt Nam

 Hồng Lĩnh

 

Nhìn lại một cách tổng quát quá trình đấu tranh hơn 30 năm tại quốc nội, ông Lê Hồng Hà đã trình bày các ý chính về một sách lược đấu tranh ngay trong lòng chế độ độc tài vô sản với tựa đề: “Đấu tranh cho Phát triển và Dân chủ hóa”.

Tôi xin được tóm lược và minh họa thêm một vài sự kiện để làm rõ hơn sách lược đấu tranh này để cùng nhau suy ngẫm.

Vài nét sơ lược về ông Lê Hồng Hà.

Ông Lê Hồng Hà sinh năm 1926(1,2), là đảng viên đảng Cộng sản Việt Nam vào năm 1946.

Các chức vụ ông Lê Hồng Hà đã kinh qua:

– Giám đốc Trung tâm đào tạo lực lượng an ninh từ 1953 tới 1957, sau đó làm giám đốc Ban Tổng hợp tại Bộ An ninh.
– Năm 1979 là thành viên của ủy ban khoa học xã hội.
– Năm 1990, đảm nhiệm chương trình khoa học địa bàn quốc gia cho các vấn đề công ăn việc làm.

Ngày 28/06/1995, ông Lê Hồng Hà đã bị khai trừ khỏi đảng Cộng sản Việt Nam cùng với ông Nguyễn Trung Thành.

Vào thời điểm này, có sự phân hóa ngay tại bộ não tư tưởng chính thống của đảng. Một phán quyết được ban hành khẩn cấp ngày 08/11/1995 kết án ông Hoàng Minh Chính 12 tháng tù ở, ông Đỗ Trung Hiếu 15 tháng tù ở với tội danh “lạm dụng các quyền tự do và dân chủ” xâm phạm quyền lợi quốc gia (3).

Tiếp đến là vào ngày 08/12/1995, nhà cầm quyền Việt Nam bắt hai ông Hà Sĩ Phu và Lê Hồng Hà vì tội có ý kiến đả kích chủ thuyết Marx–Lenin và các nhà lãnh đạo đảng. Chính ngay vào thời gian đó, nội bộ Trung Ương đảng chưa đồng thuận về khóa họp lần thứ VIII năm 1996 và cũng chưa có thoả hiệp dẹp chủ thuyết chuyên chính vô sản. Đối với đảng Cộng sản, đề nghị táo bạo “đưa ý thức hệ Marx–Lenin chính thức lên tàu suốt và quẳng vào sọt rác lịch sử” như bom tấn nổ giữa trời quang.

Ngày 22/08/1996, trong một phiên tòa tại Hà Nội, với tội danh “tiết lộ bí mật quốc gia” và bị kết án vội vã: ông Lê Hồng Hà hai năm tù, ông Hà Sĩ Phu một năm và ông Nguyễn Kiên Giang 15 tháng tù, ông Lê Hồng Hà đã phản đối rằng các bằng chứng dùng vào việc buộc tội các ông không có cơ sở pháp lý vì tài liệu ấy không có con dấu cho nên ai cũng có thể chế ra được.

Xem ra đây là một đòn trả đũa mà đảng đã “sáng tạo” nhằm có lý do bắt ba ông kể trên vào tù sau những chỉ trích công khai đảng và đường lối của đảng. Công dân sống trong một xã hội được quản lý bằng chế độc tài toàn trị thì việc bị kết tội “tiết lộ bí mật quốc gia” là điều có thể xảy ra bất cứ lúc nào.

Sự đổi lốt của cộng sản Việt Nam trong suốt 30 năm (4)

Theo ông Lê Hồng Hà thì bất kể đến quyền lợi và tâm ý của nhân dân, chính thức vào năm 1945, đảng Cộng sản Việt Nam đã mang vào đất nước Việt Nam một chuyến tàu gồm ba toa chở theo sự thối tha của chủ thuyết cộng sản dưới ngọn cờ Marx–Lenin: toa dẫn đầu là chính trị, toa nhì là quá độ xây dựng chủ nghĩa Xã hội, kinh tế là toa chót.

Lấy 1975 làm cái mốc, trải qua quá trình 30 năm, con tàu lần này bắt buộc phải rời xứ sở Việt Nam sau khi chuốc lấy sự thất bại thảm hại. Con tàu đi ra khỏi đất nước cũng với ba toa như lần vào, nhưng lại đảo ngược thứ tự : toa đầu là kinh tế, toa nhì là tư tưởng xã hội, theo sau cùng là toa chính trị.

Trong hoàn cảnh đó, ông Lê Hồng Hà đã cho ra đời một sách lược đấu tranh với chế độ độc tài Cộng sản Việt Nam mang tên “Tiệm Tiến”.

Sách lược của ông Lê Hồng Hà dựa trên các sự kiện sau đây:

Sự thất bại của thể chế chuyên chính vô sản CSVN.

Với tựa đề đấu tranh cho dân chủ hóa và phát triển, tác giả đã xem dân chủ hóa là một tuyến song song với phát triển.

Thông thường, nói đến sự phát triển là nói đến một quá trình và đấu tranh dân chủ là đấu tranh cho sự thay đổi từ độc tài đến dân chủ. Vậy thì dân chủ phải là phần chính trị của quá trình phát triển.

Đặt hai khái niệm ở vị thế song song như vậy, tác giả đã nhấn mạnh quá trình dân chủ hóa phải luôn gắn kết với sự phát triển. Sách lược đấu tranh này đã ra đời dựa trên hiện thực của đời sống chính trị tại Việt Nam, đã vạch ra phương thức đấu tranh thích hợp cho lực lượng dân chủ thích ứng với hoàn cảnh mới và phải chiến đấu ngay trong lòng của chế độ.

Con tàu vô sản theo chân cộng sản Việt Nam chạy xuyên đất nước đã mang vào học thuyết Marx–Lenin sau 30 năm dài. Theo chủ thuyết này, sau khi có độc lập và thống nhất, con tàu phải tăng tốc độ hướng tới và vượt qua thời kỳ quá độ để xây dựnddoojchur nghĩa Xã hội.

Nhưng chỉ sau một chặng đường ngắn ngủi, chính con tàu nầy đã tạo ra khủng hoảng toàn diện trong xã hội Việt nam từ kinh tế , văn hóa, chính trị… Điều này có nghĩa là toa đầu của con tàu đã nghiền nát một cách không thương tiếc hai toa theo sau: xã hội và kinh tế.

Cuộc chiến của các tầng lớp nhân dân chống đảng Cộng sản

Một cuộc đấu tranh giữa đảng và các thành phần nhân dân trong xã hội đã diễn ra, và nhân dân đã thắng. Con tàu chạy ngược ra lại có toa dẫn đầu là kinh tế, một thế ngược của con tàu đi vào.

Năm 1976 (5) được xem là năm khởi hành của cuộc tranh đấu và từ đó đến nay các biến cố đã xảy ra tại Việt Nam (6) đã chứng tỏ rằng: toàn dân đã tham gia cuộc chiến chống đảng cộng sản, chống chủ thuyết vô sản dưới nhiều hình thức.

Chống đối từ các tôn giáo.

Ngay vào năm 1977, Thiên Chúa Giáo có Tổng Giám mục Nguyễn Kim Điền (7) với sự nối tiếp của linh mục Nguyễn Văn Lý, Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất có Hòa thượng Thích Quảng Độ và các tôn giáo khác như Hòa Hảo, Cao Đài, Tin Lành.

Chống đối ngay từ trong nội bộ đảng.

Một số nhân vật là đảng viên cao cấp, các nhà lý luận, tư tưởng của đảng như: ông Hoàng Minh Chính tên thật Trần Ngọc Nghiêm, bí danh Lê Hồng, Trung tướng Trần Độ, ông Trần Khuê, ông Bùi Tín, ông Lê Hồng Hà và một số nhân vật ngay trong Bộ Chính trị của đảng đã đòi cải tổ đảng và đòi dân chủ cho xã hội Việt Nam. Ngoài ra, còn sự tham gia của nhà tư tưởng Giáo sư Phan Đình Diệu hay Mai Thái Lĩnh (Hoàng Thái Lĩnh).

Đòi thay đổi từ tầng lớp trí thức, nhà báo, luật sư và dân chúng.

Một thông cáo có 116 người bất đồng chính kiến gồm đủ thành phần của xã hội Việt Nam đã kêu gọi đa đảng vào năm 2006 (8) nói lên tính chất toàn dân của cuộc tranh đấu dân chủ hóa Việt Nam .

Phản đối bất công qua các cuộc biểu tình.

Vài năm gần đây, các tầng lớp nhân dân đã biểu tình, đình công phản đối bất công, đòi tăng lương – một hiện tượng khó xảy ra trong thể chế độc tài. Điều này cho thấy các thành phần tham gia đã lấy lại can đảm và bất chấp sự đàn áp hay bắt bớ của công an

Thành lập các đảng và các phong trào trong nước.

Năm 2006 là năm đánh dấu sự thành lập và phát triển mạnh mẽ của các đảng đối lập, cũng như các phong trào đấu tranh trong nước. Một hình thức đấu tranh mới được chọn lựa là trực diện công khai và bất bạo động với đảng Cộng sản Việt Nam .

Yểm trợ của cộng đồng người Việt hải ngoại.

Người Việt hải ngoại vận động ngoại giao, yểm trợ tinh thần và vật chất cho phong trào dân chủ tại quốc nội. Một số hoạt động được ghi nhận như chiến dịch dựng lại cờ vàng, tố cáo tội ác của đảng cộng sản, xóa bỏ thần tượng lãnh tụ… Các cơ quan truyền thanh, truyền hình, báo chí và các diễn đàn của người Việt khắp nơi đã vào cuộc mạnh mẽ.

Yểm trợ của quốc tế.

Các nghị quyết của Hạ viện Mỹ phản đối nhà cầm quyền Việt Nam đàn áp thô bạo những người đấu tranh dân chủ ôn hòa, các giải thưởng của các tổ chức quốc tế như Rafto hay Human Right Watch dành cho những người tranh đấu cho dân chủ tại Việt Nam, Nghị quyết kết án chủ nghĩa cộng sản của Hội đồng Âu Châu.

Ông Lê Hồng Hà nhận định: “Đảng Cộng sản Việt Nam đã thua dân tại mặt trận kinh tế và tư tưởng. Nhưng đảng Cộng sản Việt Nam còn cố thủ tại mặt trận chính trị vì có quân lực và công an”.

Qua đoạn mà ông Lê Hồng Hà gọi là “Gọi tên cho cuộc đấu tranh 30 năm qua”, ông không hề nói tới các lực lượng bên ngoài hay các nước dân chủ như muốn ngụ ý rằng: đây là một cuộc đấu tranh của người Việt mà thôi và của trong nước.

Tại quốc nội, ông biết rất rõ những mất mát của các tầng lớp nhân dân qua ba đợt đàn áp của những năm 2000, 2004 và 2007 nhưng ông không hề đề cập đến. Phải chăng ông xem đó là một mất mát đương nhiên cho chiến thắng và không muốn làm thối lui cuộc đấu tranh?

Ông cũng khẳng định rằng: “cuộc đấu tranh này khác với một cuộc đấu tranh chống các chế độ quân chủ tại các nước Tây phương, không bắt đầu bằng triệt hạ thể chế.”

Đánh giá về cuộc tranh đấu chống đảng Cộng sản Việt Nam của các thành phần dân tộc Việt Nam suốt 30 năm qua, tác giả Lê Hồng Hà đã viết: “Dân thắng đảng thua trên mặt kinh tế và tư tưởng, dân chưa thắng về chính trị vì Đảng Cộng sản còn nắm được công an và bộ đội”.

Dân chủ hóa là phần chính trị của cuộc đấu tranh. Vì giá trị dân chủ chưa đạt được, nên đấu tranh sẽ còn phải tiếp tục.

Các quan điểm trong thuyết “Tiệm tiến” của Lê Hồng Hà gồm 2 phần chính: đặc trưng cơ bản và mục tiêu trước mắt:

Các đặc trưng cơ bản của cuộc đấu tranh dân chủ hiện nay.

– Thể chế vô sản hiện nay được vũ trang rất mạnh nhưng đang trong quá trình tự tan rã. Dùng vũ trang để tranh đấu sẽ không đem đến thắng lợi. Trái lại, phải có một sách lược hỗ trợ cho quá trình tự tan vỡ của chế độ. Các tầng lớp nhân dân và các lực lượng tạm gọi là dân chủ đứng lên đấu tranh phải tự tổ chức lực lượng. Lực lượng này có nhiệm vụ hỗ trợ quá trình tự tan vỡ của chế độ.

– Mô hình nhà nước Xã hội chủ nghĩa là một mô hình phản phát triển và sai lầm. Dẫn đất nước vào chủ nghĩa xã hội là đẩy đất nước vào nghèo khổ. Cán bộ nắm quyền bị tha hóa do tính cách độc đảng. Chế độ mất hết uy tín với nhân dân. Đó là một quá trình tự tan vỡ.

– “Đấu tranh không nhằm lật đổ thế chế. Đấu tranh chỉ nhắm chấm dứt những sai lầm của thể chế. Phải hoan nghênh những cái họ làm đúng như vào WTO…” Đấu tranh chấm dứt vài trò độc đảng nhưng không xóa bỏ đảng cộng sản với lý do đảng đã có công lao trong quá khứ. Đảng cộng sản có thể hội nhập vào một thể chế đa nguyên dân chủ như một lực lượng chính trị. Cuộc đấu tranh không nhằm chống ý thức hệ cộng sản mà chống quốc đạo hóa chủ nghiã Marx–Lenin.

– Cuộc đấu tranh từ 30 năm qua không do một đảng đối lập với đảng cộng sản lãnh đạo hay một cương lĩnh chính trị nào cả. Quá trình chuyển hóa từ kinh tế tập trung sang kinh tế thị trường đã nảy sinh ra nhu cầu cần thiết: “đổi mới hay là chết” của chế độ và của các tầng lớp nhân dân. Sự tiến hóa này đã tạo ra một lớp doanh nhân Việt Nam . Đây là một sự chuyển hóa tự nhiên.

– Thành phần tiên phong của nhân dân gồm ba loại: giới trí thức, giới doanh nhân, các lực lượng tiến bộ trong cơ quan nhà nước. Chính vì phải chiến đấu ngay trong lòng chế độ nên vấn đề tranh đấu “hợp pháp” phải xem là căn bản. Một đặc trưng của chiến lược “Tiệm tiến” là nương theo chế độ không phải để xô chế độ té nhào mà bắt chế độ thay đổi. Tác giả nhấn mạnh “ủng hộ vấn đề đổi mới” của đảng cộng sản nhưng đòi hỏi đổi mới phải triệt để.

– Vì phải nương theo chế độ để đấu tranh nên thắng lợi chỉ tới dần dần, từng bước qua quá trình tiệm tiến, không có đột biến. Một hình thức đấu tranh lúc hình thành là âm thầm và bất hợp pháp, dần dần mới được công nhận và trở thành hợp pháp.

Những mục tiêu cụ thể.

Cuộc đấu tranh đang tập trung vào những vấn đề gì ?

– Xây dựng Nhà nước pháp trị chứ không phải “Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghiã”, một chế độ dân chủ thât sự, chứ không phải chế độ dân chủ xã hội chủ nghiã.

– Chấm dứt chuyên chính vô sản và mô hình đảng độc quyền lãnh đạo.

Các mục tiêu chiến thuật.

– Tranh đấu để quốc hội trở thành cơ quan quyền lực cao nhất theo đúng hiến pháp.
– Luật hóa điều 4. Bãi bỏ quyền lực song song vừa đảng vừa nhà nước để chỉ còn một cơ quan quyền lực thôi. Tức là, phải luật lệ hóa sự lãnh đạo của đảng và thanh lý hệ thống chính quyền và đảng chồng chéo.
– Đấu tranh xây dựng nền tư pháp độc lập, xử theo luật chứ không theo lệnh của đảng.
– Quân đội và công an chỉ trung thành với Tổ quốc và nhân dân, không phải trung thành với đảng.
– Phải ban hành luật mới liên quan tới lập hội và tự do báo chí.

Theo ông Lê Hồng Hà tính khả thi của chiến lược dựa vào các yếu tố sau:

– Đấu tranh chính trị khả thi nhờ vào những thắng lợi trên lãnh vực kinh tế và tư tưởng.

– Đảng cầm quyền đang rơi vào thế bị động do sự xuất hiện các lực lượng tiến bộ và các tổ chức dân chủ trong năm 2006 .

– Cộng sản Việt Nam buộc phải đi tới khi gia nhập vào WTO, kinh tế thị trường đè bẹp định hướng xã hội chủ nghĩa.

– Trong xã hội Việt Nam ngày nay đấu tranh chính trị vừa bị ngăn cản bởi quyền lợi, vừa phát triển trong môi trường mới rất thuận lợi.

Những yêu cầu của ông Lê Hồng Hà:

– Không nên phê phán hay lên án ông Hồ nữa để tạo khối đại đoàn kết dân tộc vì vẫn còn nhiều người cho rằng “Nhờ Bác mà có ngày hôm nay”.

– Chống đảng nhưng không phủ nhận công lao trong quá khứ của đảng. Nếu phê phán thì chỉ phê phán theo tiêu chuẩn ấy để tạo sự hợp nhất lực lượng.

– Đề nghị mọi người phê phán và góp ý cho sách lược nầy.

Vài câu hỏi gửi đến ông Lê Hồng Hà.

1. Nếu con tàu xã hội chủ nghĩa thay vì đi ra khỏi Việt Nam, lại chỉ chạy vòng với sự thay hình đổi dạng để tồn tại thì sao?

2. Dân chủ hóa Việt Nam không tự nhiên mà tới, phải do quá trình đấu tranh. Theo ông Lê Hồng Hà, cuộc đấu tranh sẽ dẫn tới thắng lợi với chiến lược “Tiệm tiến”, thành phần cơ bản góp sức đấu tranh là “giới trí thức, giới doanh nhân, những lực luợng tiến bộ trong cơ quan nhà nước”. Xin hỏi tác giả liệu họ sẽ hy sinh để tranh đấu hay không?

3. Tác giả lặp lại nhiều lần hai từ “tranh đấu” trong mục “Các mục tiêu chiến thuật”, nhưng không thấy tác giả đề cập trong sách lược phương thức tranh đấu làm sao, với phương tiện nào, do ai cung cấp.

4. Về thời gian thực hiện chiến lược, tác giả Lê Hồng Hà cho là có thể từ 10 đến 15 năm nữa mới thành công, hoặc cũng có thể chỉ độ vài năm là ra khỏi đường hầm, nhưng chính tác giả không có ý kiến.

5. Nhà cầm quyền cộng sản Việt Nam có để yên để thực hiện chiến lược này không?

6. Tuyên bố không nhằm giải thể chế độ và giải tán đảng có phải là cái áo giáp không?

7. Khi pháp luật của thể chế là một sai lầm, tuân theo cái sai lầm ấy là sao?

Xin mọi người cùng nhau góp ý kiến để xem chiến lược “Tiệm tiến” có khả thi không.

© DCVOnline

(1) M. Le Hong Ha. Un cadre dissident de haut rang arrêté au Vietnam . Alliance Vietnam Liberté (08/12/1995) , trang 1–2
(2) Pourquoi Hanoi a fait arrêter MM. Ha Si Phu et Le Hong Ha – Lý Thái Hùng, Janvier 1996. www.lmvntd.org, trang 1
(3) Un procès politique comique www.lmvntd.org, trang 1–2.
(4) Lê Hồng Hà – Diễn đàn Forum: Đấu tranh cho Phát triển và Dân chủ hóa, Điện đàm với Hà Sĩ Phu và Bùi Minh Quốc, ngày 10/03/2007.
(5) Les événements remarquables au Vietnam en 1997 – Vietnam Démocratie, Février 1977, trang 1–6.
(6) Vietnam 1975–2005 – Vietnam infos numéro 32, 15/09/2005
(7) Giáo phận Huế – 30 năm đấu tranh cho tự do tôn giáo. Nhóm Phóng viên Huế. I. 1975–1988 : Giai đoạn Đức TGM Philipphê Nguyễn Kim Điền, trang 1–11.
(8) Appel pour le multipartisme au Việt Nam en 2006 – viettan.org du 09/04/2006, trang 1–6.

Hồng Lĩnh


LS TRẦN LÂM PHẢN KHÁNG

Đối ngọai và đối nội

Mặc Lâm, phóng viên đài RFA
2009-12-08

Luật Sư Trần Lâm, nguyên Thẩm phán Toà Án Nhân Dân Tối Cao, nguyên trưởng ban tuyên giáo tỉnh và hiệu trưởng trường Đảng trong nhiều chục năm. Ông được biết đến trong các vụ tranh cãi có liên quan đến dân chủ nhân quyền trong nước. Luật sư Trần Lâm vừa có bài viết nhận định tình hình chính trị hiện nay với nhiều chi tiết đang gây sự chú ý của dư luận trong và ngoài nước.

 

Photo courtesy nguyenthanhgiang.com

Luật sư Trần Lâm và Tiến sĩ Nguyễn Thanh Giang (từ trái sang phải)

Mặc Lâm có cuộc phỏng vấn ông được chia làm hai phần. Phần đầu ông nói về cách hành xử của chính quyền trước các vấn nạn như Biển Đông, tình hình nông dân mất đất cũng như những hậu quả chính trị và xã hội xảy ra như thế nào.

Hợp tác với Trung Quốc là nắm giao đằng lưỡi

Mặc Lâm: Thưa ông, hiện nay mối lo ngại Trung Quốc đang âm ỉ và trong nội bộ Đảng có khuynh hướng chia ra nhiều ý kiến khác nhau. Một trong các ý kiến cho rằng nên hợp tác với Trung quốc để khai thác tài nguyên trong đó có cả quặng mỏ và dầu khí còn hơn là trực diện đối đầu với họ sẽ mang nhiều nguy hiểm hơn. Ý kiến của ông như thế nào thưa ông?

Hợp tác với nhau để làm ăn thì vốn của hai người phải bằng nhau chứ! Không có vốn thì làm sao được? Thứ hai là phải có kỹ thuật. Người ta giỏi hơn mình còn mình thì kém hơn thì làm sao làm ăn? Thứ ba nữa là họ thông qua người cầm đầu của mình, họ chi phối. Điều này chỉ là cái vỏ thôi, còn bên trong thì người ta lấy hết rồi.

Luật Sư Trần Lâm: Nếu nói hợp tác thì phải thế này: Điều thứ nhất là phải có nhiều tiền. Bởi vì tôi với ông hợp tác với nhau để làm ăn thì vốn của hai người phải bằng nhau chứ! Không có vốn thì làm sao được? Thứ hai là phải có kỹ thuật. Người ta giỏi hơn mình còn mình thì kém hơn thì làm sao làm ăn? Thứ ba nữa là họ thông qua người cầm đầu của mình, họ chi phối. Điều này chỉ là cái vỏ thôi, còn bên trong thì người ta lấy hết rồi.

Thí dụ như đánh cá ở ngoài biển thì nó nguy hiểm như thế này: Ngay chính bây giờ tàu đánh cá của mình còn mang bán cá cho Trung quốc cơ mà! Và ở ngoài bể thì biết đâu mà chia? Còn dầu khí thì nó bí mật lắm, mình biết được ngày hôm nay là bao nhiêu, nói ra bằng ấy thôi nhưng vì họ đã chi phối được mình rồi thì họ công khai 10 mà họ lấy 20 thì làm sao mình biết? Tình hình như thế cho nên cùng kinh doanh thì chỉ là hình thức mà thôi vì người ta đã nắm người cầm đầu của mình rồi thì mặc sức mà tung hoành!

Bây giờ Trung quốc dùng những áp lực về quân sự, những áp lực về chính trị, những áp lực về kinh tế để nô dịch mình, để mà gậm nhấm mình tuy chưa thật rõ lắm, nhưng cái cách của họ là thế này: Họ chi phối người cầm đầu của mình. Thông qua người cầm đầu của mình họ đưa việc của họ vào, đấy là cách của họ

Bây giờ Trung quốc dùng những áp lực về quân sự, những áp lực về chính trị, những áp lực về kinh tế để nô dịch mình, để mà gậm nhấm mình tuy chưa thật rõ lắm, nhưng cái cách của họ là thế này: Họ chi phối người cầm đầu của mình. Thông qua người cầm đầu của mình họ đưa việc của họ vào, đấy là cách của họ ngày hôm nay như thế. Không phải dùng kinh tế, chính trị hay quân sự như người ta thường nghĩ.

Cách này thì các nhà nghiên cứu thế giới đã nói, nếu mà như thế thì sẽ khơi động sự chống đối ở trong nước đối với người cầm quyền chứ không phải chống đối Trung quốc. Bởi vì Trung quốc họ có hiện diện ở đây đâu mà mình chống đối được? Họ dùng người cầm quyền của mình thì mình phải trở lại chống người cầm quyền của mình, Thế hoá ra mình lại đánh mình! Tình hình hiện nay là như vậy đấy.

Nông dân bị bạc đãi, bóc lột

Mặc Lâm: Nông dân là thành phần đại đa số của xã hội Việt Nam và ông đã khẳng định trong bài viết của mình rằng thành phần này đã và đang bị bạc đãi một cách tồi tệ. Ông có thể cho thính giả biết một cách cụ thể hơn hay không?

Luật Sư Trần Lâm: Điều quan trọng nhất là mình không cho nông dân chuyển hoá ruộng đất, không cho họ làm gì cả họ vẫn như ngày xưa. Trên thực tế khi người ta làm nông nghiệp thì luôn luôn thừa nhân lực, lúc đó phải dạy nghề, hay đưa vào công trường, nhà máy thì mới cơ giới hoá, hiện đại hoá được. Thực ra một nước nông nghiệp chỉ có thể lấy nhân lực từ khu vực nông dân mà thôi. Thành phố có ít dân cư nên không thoả mãn được nhu cầu nhân lực. Lực lượng nhân lực từ nông dân rất lớn cho nên muốn đưa vào dầu khí, vào cơ khí hay khai mỏ…đều là con em của người nông dân chứ thành phố có mấy? Vì vậy không cải tạo nông nghiệp thì không rút được lao động ra.

Thành phố có ít dân cư nên không thoả mãn được nhu cầu nhân lực. Lực lượng nhân lực từ nông dân rất lớn cho nên muốn đưa vào dầu khí, vào cơ khí hay khai mỏ…đều là con em của người nông dân chứ thành phố có mấy? Vì vậy không cải tạo nông nghiệp thì không rút được lao động ra.

Mà lao động muốn sử dụng được thì phải có học hành như thành thị. Nông dân cứ bị kềm hãm như thế là một việc sai về nguyên lý rất rõ ràng. Cái sai thứ hai là cứ giữ không cho nông dân chuyển động ruộng đất của họ. Tôi đã từng chứng kiến một hộ nông dân nọ có một cái bìa ruộng quy định theo nhà nước.

Có cái một trăm mét vuông có cái 50 mét vuông mà có hộ có đến hơn 10 mảnh đất lẻ tẻ như vậy mà từ mảnh nọ đến mảnh kia có khi cách nhau cả hai cây số! Thế thì còn làm ăn gì được nữa? Không cho người ta mua bán sang nhượng cứ giữ người ta như thế. Ung nhọt như thế, bức bối như thế kềm hãm người ta đến mức như thế!

Mặc Lâm: Theo những ghi nhận của nhiều tổ chức quốc tế thì người nông dân đã có đời sống tốt hơn vì sản xuất lúa gạo tăng trưởng mạnh và nhất là sau thời kỳ mở cửa thì tình trạng khá hơn rất nhiều…

Luật Sư Trần Lâm: Đến khi ông ấy mở cửa…Mở cửa thì phải có đất để mở mang xí nghiệp, công trường rồi các công xưởng rồi làm đường làm xá…vì vậy cần phải có diện tích đất. Thế thì lại lấy của nông dân…Nông dân đã không có đất rồi mà lại mất đất thêm nữa! Mà lại khổ như thế này, cứ có miếng nào ngon nằm chỗ tốt nhất thì lại lấy để làm công xưởng! Các nước trên thế giới có luật riêng của họ về trưng dụng đất. Nếu lấy đất để làm công nghiệp thì phải ở những chỗ không sản xuất được hoặc thật xa khu dân cư thì mới chấp thuận. Còn ở ta thì ông nhà nước ông ấy lấy gần Hà Nội, ông ấy lấy gần Hải Phòng…toàn những hạng ruộng đất phì nhiêu, màu mỡ để làm công trường trong và đuổi người nông dân ra khỏi đất!

Mặc Lâm: Dư luận báo chí cho rằng vần đề đất đai đã đẻ ra tình trạng tham nhũng hiện nay, ông có chia sẻ như vậy hay không?

Luật Sư Trần Lâm: Nếu chỉ có thế thôi thì đẻ ra kìm hãm nông dân nhưng đồng thời lại đẻ ra cái thứ hai nữa là sử dụng đất của nông dân vừa lãng phí vừa không hợp lý làm cho nông dân đói khổ. Nhưng không phải chỉ hai cái đó, nó còn có cái thứ ba là tham nhũng. Lấy đất của người ta một mét vuông trả cho người ta nửa đô la một mét nhưng đến khi mình bán thì giá lại thì từ 20 cho tới 100 đô la một mét! Thế là tham nhũng đất của nông dân và bán chác lấy tiến. Người nông dân mất đất, nhà nước trở thành tham nhũng. Tham nhũng đất đai là tham nhũng lớn nhất của ta hiện nay, làm đảo lộn xã hội, làm suy đồi chính quyền.

Lấy đất của người ta một mét vuông trả cho người ta nửa đô la một mét nhưng đến khi mình bán thì giá lại thì từ 20 cho tới 100 đô la một mét! Thế là tham nhũng đất của nông dân và bán chác lấy tiến. Người nông dân mất đất, nhà nước trở thành tham nhũng.

Chia rẽ giữa chính quyền và nông dân

Mặc Lâm: Và theo ông thì hậu quả chính trị dễ thấy nhất là gì khi tham nhũng tràn lan một cách không thể kiểm soát như vậy?

Luật Sư Trần Lâm: Việc này gây ra kẻ thù là người nông dân! Và đồng thời tự mình tha hoá. Tham nhũng thì hư đốn. Họ cướp bóc nên có tiền xây dựng nhà cửa ghê gớm lắm. Trước kia người ta vẫn nghĩ ai cũng là người Việt cả nhưng bây giờ thì không còn nữa, người Việt Nam chia ra rồi có còn như trước nữa đâu! Hai giai cấp rõ ràng giai cấp của tham quan có tiền thừa bạc để, giai cấp nông dân nghèo đói thê lương!

Bản thân chính sách và luật pháp cho nông nghiệp nó đã kìm hãm rồi. Thứ hai nữa khi mở cửa nó lại sinh ra việc lấy đất của nông dân vì thế cho nên mới xảy ra các vụ biểu tình. Những người trong Nam kéo ra Hà Nội để biểu tình. Từ các tỉnh kéo về…có lúc Hà nội một ngày có mấy cuộc biểu tình thành thử ra bây giờ chính trị cũng mất mà về kinh tế thì nông dân họ có muốn làm lụng gì đâu. Người nông dân còn bị những chuyện đau lòng ghê gớm nũa là vấn đề con cái.

Đặc điểm ở ngoài Bắc thì đa số đều muốn con cái có bằng cấp để có thể vào làm việc trong nhà nước, làm quan mà! Cái tư tưởng làm quan đã ăn sâu vào người Việt từ hàng ngàn năm rồi, đặc biệt là ở ngoài Bắc.

Thế nên có bao nhiêu tài sản đều đổ vào cho đứa con nó đi học nhưng nền giáo dục nó suy sụp đến mức báo động rồi. Học thì học nhưng con cháu tôi nó dốt lắm cơ!

Bản thân chính sách và luật pháp cho nông nghiệp nó đã kìm hãm rồi. Thứ hai nữa khi mở cửa nó lại sinh ra việc lấy đất của nông dân vì thế cho nên mới xảy ra các vụ biểu tình. Những người trong Nam kéo ra Hà Nội để biểu tình. Từ các tỉnh kéo về…có lúc Hà nội một ngày có mấy cuộc biểu tình

Chúng tôi học chẳng bao nhiêu nhưng thấy con cháu mình kém xa sự hiểu biết của thời chúng tôi đi học ngày xưa. Người nông dân bị đánh tứ phía, bị đánh đủ mọi mặt!

Tội phạm gia tăng

Mặc Lâm: Còn hệ quả xã hội thì theo ông có phải nó đang ăn mòn mọi giá trị đạo đức cũng như văn hoá theo như báo chí đánh động lâu nay hay không?

Luật Sư Trần Lâm: Người ta không có ăn vì thế mới đẻ ra là họ đi khắp nơi kiếm sống. Họ kiếm sống. Họ kiếm sống không được nên họ phá! Mà đã phá rồi thì trở thành tội phạm! Tôi cho một thì dụ: Người ta ngồi đọc báo Công An rồi người ta tỉ mỉ ghi dấu tất cả những vụ phạm tội thì thấy ra một điều, những kẻ phạm tội 95% đều đến từ nông thôn, đều từ nông thôn ra tỉnh hết.

Họ không có việc làm, họ đói nên phải bò đi. Không có nghề nghiệp mà lại đói thì bắt đầu phá! Phá thế cho nên tội phạm khắp nơi. Tại Hà Nội ngày nay người nông dân  đổ về đông không kể xiết.

Thế bây giờ cứ hỏi tại sao lại bán dâm, tại sao lại bán phụ nữ ra nước ngoài, tại sao lại bán trinh…bây giờ nhé, người ta bị ốm, ốm mà không có tiền mua thuốc. Nếu không có thuốc thì chết thế thì có gì mà chả bán?

Hà nội không còn cái kiều gì của Hà Nội cả nó lai căng y như kiểu dân nhập cư tại châu Âu! Có người đến Paris than rằng khổ lắm da đen nằm ở khắp nơi…đại để nó như thế. Thế bây giờ cứ hỏi tại sao lại bán dâm, tại sao lại bán phụ nữ ra nước ngoài, tại sao lại bán trinh…bây giờ nhé, người ta bị ốm, ốm mà không có tiền mua thuốc.

Nếu không có thuốc thì chết thế thì có gì mà chả bán? Việc bán con bây giớ rất thịnh hành ở Việt Nam, trước kia thì cũng có chứ không phải không nhưng mà nó rất lẻ tẻ không như bây giờ. Người không thuốc men sắp chết rồi thì đành phải bán con. Hay là có người nông dân chạy được một số tiền đem người nhà mình lên bệnh viện Hà Nội, người ta cho biết thuốc rất đắt phải hết bằng này tiền…thế nên người nông dân đành phải đưa người nhà mình về.

Đấy nó kéo theo hệ quả bao trùm tất cả, bởi vì nước ta bây giờ 75 tới 80% là nông dân mà tất cả 75% đều khốn đốn như thế thì có phải cả nước đang khốn đốn hay không?

Mặc Lâm: Xin cám ơn LS Trần Lâm.

Thưa quý thính giả LS Trần Lâm sẽ tiếp tục trình bày quan điểm của ông về việc chính quyền không coi trọng tự do ngôn luận cũng như cô lập các trí thức có phản biện. Ông cũng đưa ra lập luận làm cách nào để Đảng cầm quyền hiện nay hoạt động hiệu quả hơn, mời quý vị đón theo dõi phần hai cũng do Mặc Lâm thực hiện trong lần phát thanh tới.

Copyright © 1998-2009 Radio Free Asia. All rights reserved.

 

 

 

Đại sứ Thụy Điển: Việt Nam cần có tự do để phát triển

2009-12-07

Tại Hội nghị các nước cấp viện cho Việt Nam, bên cạnh cam kết gia tăng viện trợ, quốc tế cũng kêu gọi Việt Nam hãy mở rộng tự do thông tin đế phát triển.

 

AFP PHOTO/Hoang Dinh Nam

Hội nghị các nước cấp viện cho Việt Nam nhóm họp tại Hà Nội hôm 3-12-2009.

Kết thúc Hội nghị tại Hà Nội, các nhà tài trợ quốc tế công bố mức cam kết viện trợ vốn ODA dành cho Việt Nam với hơn 8 tỷ USD.

Tuy nhiên, bên cạnh cam kết này các nước phương Tây cảnh báo rằng việc chính phủ hạn chế các phương tiện truyền thông và Internet, cũng như các trang mạng xã hội như Facebook, sẽ đe dọa tới sự phát triển kinh tế của Việt Nam.

Mặc Lâm có cuộc phỏng vấn đặc biệt với ông Rolf Bergman, Đại sứ Thuỵ Điển tại Việt Nam, người tham dự hội nghị để biết thêm chi tiết về vấn đề này.

Mức viện trợ kỷ lục 

Mặc Lâm:  Thưa ông Đại sứ, kết thúc Hội nghị các nước cấp viện cho Việt Nam là cam kết hơn 8 tỷ đô la, số vốn ODA lớn nhất từ trước tới nay. Theo nhận xét của ông Đại sứ thì lý do nào đưa đến kết quả rất phấn khởi này thưa ông?

Đại sứ Rolf Bergman:  Số tiền này được cam kết từ các nước cấp viện cho Việt Nam trong tài khóa 2010 nhưng thực tế thì một số đã được giải ngân trong tháng này lý do vì ngân sách của chúng tôi có những khác biệt.

So sánh với con số 6 tỷ vào năm nay thì năm tới có nhiều hơn, do thành quả của Việt Nam đã khiến nhiều nước trong nhóm cấp viện có niềm tin cao hơn.

Tuy nhiên tôi vẫn nghi ngờ số tiền mà các nước cam kết có đạt đến mức hơn 8 tỷ hay không vì tỷ giá thay đổi của năm nay so với năm tới, hơn nữa như tôi đã trình bày thì một số đã đươc giải ngân trong năm nay.

Việt Nam đã có những tiến triển rất khích lệ trong cách điều hành kinh tế của chính phủ cũng như những chính sách tài chánh tiền tệ phù hợp được đưa ra trong năm nay đã giúp thị truờng tương đối ổn định so với những nước khác trong khu vực.

Đại sứ Rolf Bergman

Đối với Việt Nam, tôi xác nhận một lần nữa những thành tựu mà nước này đã đạt được thì không có gì phải bàn cãi. Có những tiến triển rất khích lệ trong cách điều hành kinh tế của chính phủ cũng như những chính sách tài chánh tiền tệ phù hợp được đưa ra trong năm nay đã giúp thị truờng tương đối ổn định so với những nước khác trong khu vực.

Chính phủ cũng đã tỏ ra khôn khéo hơn khi sử dụng những đồng vốn ODA trong các dự án của họ và họ đã thành công.

Tự do để phát triển 

Mặc Lâm:  Ông đã có những quan tâm gì được phát biểu trong hội nghị, đặc biệt về vấn đề nhân quyền hay tự do dân chủ?

 

Ông Rolf Bergman, Đại sứ Thuỵ Điển tại Việt Nam

Đại sứ Rolf Bergman:  Về các vấn đề nhân quyền, tự do dân chủ thì nhà nước có nỗ lực cải tiến tuy nhiên tôi cho là chưa đúng mức. Các thành quả kinh tế và an sinh xã hội có thể tốt và đạt hiệu quả nhưng chưa bù đắp được những gì mà người dân cần trong lĩnh vực dân chủ nhân quyền.

Chính trị vẫn là một mối quan tâm lớn của các nước cấp viện bên cạnh các thành quả mà Việt nam đạt được trong năm qua.

Mặc Lâm:  Trong thời gian qua nhà nước đã thử nghiệm việc đóng cửa các trang mạng xã hội như facebook và kiểm soát việc truy cập internet của người dân một cách gắt gao hơn. Ông đại sứ có phát biểu gì về vấn đề này?

Đại sứ Rolf Bergman:  Chúng tôi đã đưa ra những quan tâm về vấn đề tự do truyền thông nơi công cộng cũng như nhận được thông tin của người dân là một yếu tố quan trọng cần phải hiện thực hoá để đẩy mạnh phát triển.

Chúng tôi đề nghị chính phủ Việt nam tháo bỏ các tường lửa nhằm ngăn cản truy cập vào internet, kể cả minh bạch hoá các hồ sơ chống tham nhũng như lời yêu cầu của các đại biểu quốc hội đưa ra mới đây.

Đại sứ Rolf Bergman

Chúng tôi nhấn mạnh rằng báo chí cũng như các trang mạng xã hội giữ vai trò hết sức trọng yếu trong việc nối kết thông tin, để dẫn đến thành quả, chứ không tác hại gì đến các kế hoạch của chính phủ. Chúng tôi thật sự quan ngại khi nhận được tin chính phủ kiểm soát trang xã hội Facebook vì làm như thế là cản trở sự phát triển chứ không thể gặt hái kết quả tốt được.

Chúng tôi đề nghị chính phủ Việt nam tháo bỏ các tường lửa nhằm ngăn cản truy cập vào internet, kể cả minh bạch hoá các hồ sơ chống tham nhũng như lời yêu cầu của các đại biểu quốc hội đưa ra mới đây.

Các nước cấp viện có mặt trong hội nghị như Hoa Kỳ, Canada, Na Uy, New Zealand cũng như các nước châu Âu khác đều có chung những quan ngại như của chúng tôi.

Mặc Lâm:  Theo chúng tôi được biết thì Thuỵ Điển là nước có quan tâm rất nhiều đến vấn đề tham nhũng tại Việt nam trong nhiều năm qua. Riêng trong năm 2009 ông Đại sứ có ghi nhận bất cứ một tiến bộ nào mà Việt nam đạt đựơc trong lãnh vực chống tham nhũng hay không?

Đại sứ Rolf Bergman:  Vâng chúng tôi thường có những cuộc trao đổi với các giới chức Việt Nam về vần đề chống tham nhũng và chúng tôi nhận thấy trong thời gian qua đã có những tiến triển đáng khích lệ.

 

Giao diện Tiếng Việt của trang Facebook.

Bất cứ lúc nào có cơ hội nói chuyện với họ chúng tôi cũng lập đi lập lại quan điểm rất rõ ràng của chúng tôi là minh bạch trong công tác chống tham nhũng là ưu tiên hàng đầu mà chúng tôi quan tâm. Chúng tôi cũng đã nhiều lần nhấn mạnh đến vai trò của báo chí trong việc phát hiện các vụ tham nhũng.

Cản trở vai trò truyền thông chân thực của báo chí là cản trở sự phát triển của quốc gia. Nhiều nước đã chứng minh điều này trong quá khứ và tôi tin rằng Việt Nam cũng không ngoại lệ.

Đại sứ Rolf Bergman

Chúng tôi hy vọng sẽ thấy nhiều hơn nữa những tiến bộ trong lĩnh vực này nhưng phải thật lòng mà nói chúng tôi chưa thấy chính phủ có phản hồi tích cực trong vấn đề này và vì vậy chúng tôi cảm thấy hơi thất vọng.

Mặc Lâm:  Ông đại sứ có trông đợi rằng những mối quan tâm của ông sẽ đựơc nhà nước Việt Nam thực hiện một cách nghiêm túc hay không?

Đại sứ Rolf Bergman:  Chúng tôi vẫn đang trông đợi thêm những nỗ lực của chính phủ Việt nam trong vấn đề này bên cạnh các thành tựu kinh tế mà họ đạt được.

Chúng tôi vẫn trông chờ chính phủ cho phép báo chí được tự do nhiều hơn nữa để từ đó dẫn đến một nền báo chí tự do hoàn toàn, vì trên nguyên tắc chúng tôi vẫn tin rằng cản trở vai trò truyền thông chân thực của báo chí là cản trở sự phát triển của quốc gia. Nhiều nước đã chứng minh điều này trong quá khứ và tôi tin rằng Việt Nam cũng không ngoại lệ.

Mặc Lâm:  Xin cám ơn ông đại sứ đã dành thời gian cho chúng tôi thực hiện cuộc phỏng vấn hôm nay.

Copyright © 1998-2009 Radio Free Asia. All rights reserved.

 

-
FREEDOM FOR VIETNAM

TỰ DO DÂN CHỦ CHO VIỆT NAM 

 

BẢN TUYÊN NGÔN ĐỘC LẬP CỦA DÂN TỘC VIỆT

 

“NAM QUỐC SƠN HÀ NAM ĐẾ CƯ

TIỆT NHIÊN ĐỊNH PHẬN TẠI THIÊN THƯ

NHƯ HÀ NGHỊCH LỖ LAI XÂM PHẠM

NHỮ ĐẲNG HÀNH KHAN THỦ BẠI HƯ !!!”

LÝ THƯỜNG KIỆT

 

SÔNG NÚI TRỜI NAM CỦA NƯỚC NAM

SÁCH TRỜI ĐỊNH RÕ TỰ MUÔN NGÀN

CUỒNG NGÔNG GIẶC DỮ VÀO XÂM LẤN

CHUỐC LẤY BẠI VONG LẤY NHỤC NHẰN!

Phạm Trần Anh cẩn dịch

BÌNH NGÔ ĐẠI CÁO

TUYÊN NGÔN CỦA DÂN TỘC VIỆT

 

Việc nhân nghĩa cốt ở yên dân

Điều đầu tiên phải lo trừ bạo

Chỉ nước Đại Việt ta từ trước

Mới có nền văn hiến ngàn năm

Nước non bờ cõi đã chia

Phong tục nước ta cũng khác

Từ Triệu, Đinh, Lý, Trần

Đã bao đời dựng xây nền độc lập

Cùng Hán, Đường, Tống, Nguyên …

Mỗi bên hùng cứ một phương

Tuy mạnh yếu có lúc khác nhau

Song hào kiệt đời nào cũng có …

 

NGUYỄN TRÃI

 

 

DI CHÚC MUÔN ĐỜI !

 

                  

“Các người chớ quên, chính nước lớn mới làm những điều bậy bạ, trái đạo. Vì rằng họ cho mình cái quyền nói một đường làm một nẻo. Cho nên cái họa lâu đời của ta là họa Trung Hoa. Chớ coi thường chuyện vụn vặt xảy ra trên biên ải. Các việc trên, khiến ta nghĩ tới chuyện khác lớn hơn. Tức là họ không tôn trọng biên giới qui ước. Cứ luôn luôn đặt ra những cái cớ để tranh chấp. Không thôn tính được ta, thì gậm nhấm ta.

 

Họ gậm nhấm đất đai của ta, lâu dần họ sẽ biến giang san của ta từ cái tổ đại bàng thành cái tổ chim chích. Vậy nên các người phải nhớ lời ta dặn:

 

” Một tấc đất của tiền nhân để lại, cũng không được để lọt vào tay kẻ khác “.

Ta muốn lời nhắn nhủ này như một di chúc cho con cháu muôn đời sau.”

Quá khứ là gốc rễ của tương lai , rễ càng đâm sâu thì cây mới vững vàng và càng vươn cao.

TRẦN NHÂN TÔN

(1279-1293)

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Đánh cho được đen răng

Đánh cho  được dài tóc

Đánh cho quân giặc tan tành

Đánh cho ngựa xe tơi tả

Đánh cho lịch sử phải ghi

Đất nước anh hùng ta có chủ …

QUANG TRUNG ĐẠI ĐẾ

 

Công dân ơi, đứng thẳng người lên! 

 

Hình: Blog Công Lý & Sự Thật

 

Blogger Uyên Vũ

 

Khi đứng giữa một rừng cánh tay đang vung lên, đứng giữa những tiếng hô vang dội xuất phát từ những lồng ngực tuổi trẻ đầy nhiệt huyết hôm ấy. Tôi bỗng rưng rưng và không thể kìm nén tôi đã nắm tay thật chặt để hòa mình trong nhịp thở sục sôi của tình yêu nước. Ðó là ngày 09 Tháng Mười Hai 2007, ngày mà cùng với những người yêu nước ở Hà Nội, chúng tôi bày tỏ nỗi căm giận khi tổ quốc bị coi thường, khi mảnh đất thấm máu bao thế hệ cha ông có nguy cơ bị chiếm đoạt.

Hai năm đã trôi qua, tôi vẫn nhớ rất rõ hình ảnh về các cuộc biểu tình tại Sài Gòn. Sau khi nhà cầm quyền Trung Quốc ra quyết định thành lập thành phố cấp huyện Tam Sa thuộc tỉnh Hải Nam, để trực tiếp quản lý 3 quần đảo trên biển Ðông gồm hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam. Lập tức, giới blogger mà chủ yếu là sinh viên đã rầm rập xuống đường, ngay trung tâm Sài Gòn, trước cửa lãnh sự quán Trung Quốc. Thông điệp của chúng tôi hết sức rõ ràng: “Hoàng Sa, Trường Sa là của Việt Nam”, thông điệp ấy để trả lời cho mọi ý định xâm lược dù một tấc đất của tổ quốc Việt Nam. “Quốc gia hưng vong, thất phu hữu trách”, chúng tôi tự cảm thấy phải lên tiếng như tự cảm thấy giòng máu Lạc Hồng vẫn chảy trong huyết quản. Từ thế giới “ảo” của mạng Internet, từ những ánh nhìn bỡ ngỡ ban đầu, chúng tôi mau chóng nối kết và cất chung một tiếng nói. Dễ hiểu là chỉ có lòng ái quốc nồng nàn mới có khả năng kỳ diệu như vậy.

Trước đó, giới blogger non trẻ và hào hứng chúng tôi gần như chẳng quen biết nhau, chỉ là những nhóm nhỏ rủ nhau đi cafe, rủ nhau dã ngoại tìm chút niềm vui và thư giãn. Cũng từ lâu, qua mạng lưới truyền thông, tin về các vụ bắn giết, cướp bóc, tống tiền các ngư dân Việt Nam đã bắt đầu khơi dậy lòng phẫn uất, ý thức phản kháng lại kẻ thù xâm lăng. Lời tuyên bố của Quốc Vụ Viện Trung Quốc chính là ngòi nổ cho khối căm hờn bộc lộ. Liên tục vài ngày, thông điệp “Trường Sa, Hoàng Sa là lãnh thổ của Việt Nam, mãi mãi là như thế” luôn lặp lại trên các blog, diễn đàn và truyền đi trong tin nhắn nhanh IM.

Lần đầu tiên sau 32 năm, sinh viên và thanh niên Sài Gòn đã xuống đường bày tỏ thái độ. Dĩ nhiên, dù ngây thơ đến đâu thì ai cũng biết không phải vì biểu tình mà Trung Quốc sẽ trao trả Hoàng Sa, Trường Sa lại cho Việt Nam. Nhưng nếu chấp nhận im lặng cũng có nghĩa là để mặc mảnh đất cha ông bị xâm lấn, là cúi đầu trước mọi dã tâm của ngoại bang. Lịch sử Việt Nam còn đó, là lịch sử của một dân tộc chưa bao giờ biết khuất phục. “Giặc đến nhà, đàn bà cũng phải đánh”, hai ngàn năm trước Hai Bà Trưng đã đứng dậy đánh đuổi thái thú Tô Ðịnh, Bà Triệu dẹp quân Ngô. Một nghìn năm dân ta bị đô hộ còn đó, nếu khuất phục sẽ không thể có một nước Việt Nam như hôm nay. Từ mỗi người dân Việt đều lưu giữ gương anh hùng của Ngô Quyền đánh Nam Hán, của Lý Thường Kiệt phá Tống. Lịch sử còn đó, đại quân của Thành Cát Tư Hãn, Hốt Tất Liệt dù chiếm đoạt bao thành lũy địa cầu, dù mộng bá chủ nhân loại tưởng chừng sắp đạt vẫn phải ngậm hờn với anh hùng Trần Hưng Ðạo, còn đó Lê Lợi dẹp tan quân Minh, Quang Trung vùi thây quân Thanh… Còn nhiều lắm những gương anh hùng bất khuất. Tổ quốc Việt Nam không cho phép thế hệ nào quên, vì mỗi tấc đất đều thấm đầy máu, mồ hôi và nước mắt tiền nhân.

Nếu dân Việt cam chịu cúi đầu khuất phục, tôi tự hỏi làm sao có một Nguyễn Trãi với “hận Nam Quan” biến thành Bình Ngô Ðại Cáo? Nếu cam chịu quỳ gối, thì ngoài Trung Quốc chắc chắn sẽ còn nhiều dân tộc nữa sẽ khinh rẻ Việt Nam. Không một bài học lịch sử trong nhà trường nào lại sinh động cho bằng chính các em sinh viên dõng dạc đọc to giữa phố phường Sài Gòn bài “Nam Quốc Sơn Hà” của Lý Thường Kiệt, bài “Hịch Tướng Sĩ” của Trần Hưng Ðạo. Những người trẻ Sài Gòn dù bình thường có thể chỉ mải học, mải chơi nhưng khi ngoại bang đụng đến giang sơn, họ sẽ biến thành những rường cột chống đỡ nước nhà và sẵn sàng liều mình cho tổ quốc. Chỉ có tình yêu nước mới “khích động” được họ liều mình như vậy. Máu của bao con dân Việt đã đổ ra chính ngay tại Hoàng Sa, Trường Sa và mới đây tàu của ngư dân Việt còn bị nhận chìm, xác dân Việt còn bị quăng xuống biển. Nếu khom lưng quỳ gối, Việt Nam đã thành một trong các chư hầu, hay một quận huyện của Trung Quốc từ lâu đời. Và tôi chợt nhớ câu thơ của Marat: “Người ta lớn bởi vì ngươi quỳ xuống. Công dân ơi, hãy đứng thẳng người lên”. Ðứng thẳng người là mệnh lệnh để đất nước trường tồn.

Tôi cũng tự hỏi nếu thanh niên Việt Nam không bày tỏ thái độ, thì liệu hôm nay vấn đề lãnh thổ, vấn đề biển Ðông có được dư luận quan tâm rộng rãi như hôm nay? Sau các cuộc biểu tình là hằng hà sa số bài viết hâm nóng diễn đàn, sục sôi trên các websites, blogs, mở mạng Youtube gõ chữ Hoàng Sa, Trường Sa là bao nhiêu video clips hừng hực khí thế. Hẳn nhiều người còn nhớ, Trung Quốc công khai đăng báo đòi “xóa sổ Việt Nam trong vòng 21 ngày”, đòi giải quyết Việt Nam bằng bạo lực… Mới đây, bình luận trên nhật báo Giải Phóng Quân Nhân Dân (Trung Quốc) ngày 12 Tháng Ba 2009, Ðại Tá Giải Phóng Quân Trung Quốc Hoàng Thôn Luận (một nhà báo có tên tuổi) viết: “…Quyền lợi quốc gia của Trung Quốc vượt xa ra ngoài biên cương lãnh thổ, vùng trời, vùng biển của Trung Quốc, bao gồm cả các vùng đại dương bao la nơi các tàu chở dầu của Trung Quốc qua lại, cũng như không gian vũ trụ… Quyền lợi quốc gia Trung Quốc mở rộng đến đâu, sứ mệnh của lực lượng vũ trang của chúng ta (Trung Quốc) được mở rộng đến đấy…! Ðứng trước nhiệm vụ lịch sử mới, lực lượng vũ trang của chúng ta (Trung Quốc) không chỉ bảo vệ biên giới lãnh thổ, mà còn phải bảo vệ biên giới quyền lợi quốc gia của chúng ta”. Thử hỏi thanh niên Việt Nam có thể ngồi yên? Chiến tranh biên giới 1979, Trung Quốc muốn “dạy cho Việt Nam một bài học” thì cũng được đáp trả bằng một bài học đích đáng khác. Ngay lúc này, báo điện tử Tuần Việt Nam có cả một chuyên mục về vấn đề biển Ðông và luôn được độc giả đọc nhiều nhất. Ai cũng biết tranh luận tại các hội nghị, đàm phán tại bàn ngoại giao là các phương pháp giải quyết vấn đề cần thiết. Song bày tỏ thái độ bằng hành động như tăng cường quốc phòng, hỗ trợ cho người lính canh đảo cũng bức thiết không kém và nhất là khơi dậy tình yêu tổ quốc, ý thức bảo vệ chủ quyền cho mỗi công dân còn hiệu quả hơn. Hai năm trước, chúng tôi tham gia biểu tình cũng là một cách bày tỏ thái độ một cách ôn hòa.

Nhưng nhiệt tình của thanh niên Việt Nam từ Hà Nội đến Sài Gòn đã bị từ chối, các cuộc biểu tình ôn hòa tắt ngấm. Tôi mất việc đến hôm nay, nhiều người khác mất chỗ ở, mất việc làm kiếm sống. Những người hăng say nhất lại bị gặp khó khăn nhiều nhất. Có người bỏ nước ra đi… Những tấm lòng yêu nước nhìn nhau e dè. Nhưng tôi vẫn tin, dù chỉ là những cánh én nhỏ nhoi, những người thanh niên đầy sức sống ấy đã báo hiệu là Mùa Xuân của tổ quốc Việt Nam đang về. Tôi tin mỗi người dân Việt sẽ quyết không chấp nhận mất dù chỉ là một mẫu đất nhỏ của cha ông.

Uyên Vũ

 

KHI THANH NIÊN YÊU NƯỚC LÊN TIẾNG

 

 

 

Khi thanh niên Việt lên tiếng bảo vệ tổ quốc
Tuesday, December 08, 2009

 

 

 

 

 

Công an, cảnh sát đứng canh giữ Tòa Tổng Lãnh Sự, trong hình có những cấp bậc từ thiếu úy tới thiếu tá. (Hình: Blog Hồ Lan Hương)

Nhà thơ Lynn Bacardi giúp căng bức tranh biếm họa của sinh viên kiến trúc Kim Duy tố cáo âm mưu bành trướng của Trung Quốc tại biển Ðông. (Hình: CLB Nhà Báo Tự Do)

Biểu ngữ làm bằng nhiều tờ giấy ghép lại: “China, Stop your Invasion Act” – “Trung Quốc: Ngưng ngay hành động xâm lược.” (Hình: CLB Nhà Báo Tự Do)

Từ bên trong Tòa Tổng Lãnh Sự, nhân viên Trung Quốc chụp hình đoàn biểu tình. (Hình: CLB Nhà Báo Tự Do)

 

Hình bên: Hai năm trước, ngày 9 tháng 12 năm 2007, hàng trăm thanh niên sinh viên tại cả Hà Nội và Sài Gòn biểu tình trước cơ quan ngoại giao của Trung Quốc, khẳng định chủ quyền Việt Nam tại hai quần đảo Trường Sa, Hoàng Sa. (Hình: Blog Hồ Lan Hương)

Kỷ niệm 2 năm ngày biểu tình Trường Sa-Hoàng Sa

Xuống đường ở Hà Nội, Sài Gòn, ngày 9 tháng 12 năm 2007

Vũ Quí Hạo Nhiên/Người Việt

SÀI GÒN (NV) – Ðúng ngày này, hai năm trước, hàng ngàn sinh viên ở cả hai đầu nước Việt Nam nườm nượp xuống đường biểu tình tại Hà Nội và Sài Gòn, khẳng định chủ quyền Việt Nam trên hai quần đảo Trường Sa, Hoàng Sa, và phản đối việc Trung Quốc dự định lập huyện đảo Tam Sa. Cuộc biểu tình tự phát có một không hai gây tiếng vang to lớn và vẫn còn ảnh hưởng tới ngày hôm nay. Nhiều người từng trực tiếp tham gia cho rằng cuộc biểu tình này dẫn đến sự thay đổi trong suy nghĩ của giới trẻ, trong nhận thức của người dân, và cả trong hành động của nhà cầm quyền.

Biến cố thúc đẩy thanh niên Việt Nam lên tiếng đòi biểu tình là một quyết định của Quốc Hội Trung Quốc thành lập Tam Sa. Theo tin tức nhận được khi đó, Tam Sa sẽ là một thành phố cấp huyện, thuộc tỉnh Hải Nam, có thẩm quyền với quần đảo Hoàng Sa (Trung Quốc gọi là Tây Sa) và Trường Sa (Nam Sa) của Việt Nam. Cùng lúc đó, xuất hiện nhiều hình ảnh bản đồ Trung Quốc đòi chủ quyền trên toàn bộ biển Ðông theo đường “lưỡi bò.” Hai tin tức trùng hợp này lan tràn nhanh chóng trên Internet, gây phẫn nộ trong giới dùng Internet nhiều nhất tại Việt Nam, là thanh niên sinh viên.

Nguyễn Ðình Thắng là một thanh niên đã tham gia cuộc biểu tình tại Sài Gòn ngày Chủ Nhật 9 tháng 12 năm 2007. Anh thú nhận, “lúc đầu cũng không nghĩ là có biểu tình.” Ðến khi ra tận nơi, thấy sinh viên tập trung rất đông, Thắng mới thấy cuộc biểu tình có diễn ra thật và anh nhập cuộc.

Tới sớm hơn Thắng là Thảo, một nữ sinh viên cũng biết về cuộc biểu tình qua các trang blog. Thảo cho báo Người Việt biết cô tham gia vì biển Ðông “là vấn đề em quan tâm.” Thảo tới sớm, tới từ trước 8 giờ, trong khi lời kêu gọi biểu tình lúc 9 giờ sáng.

Ngay từ lúc gởi xe cách địa điểm biểu tình khoảng 50m, đi bộ tới, cô đã thấy không khí “cũng lạ kỳ lắm. Quang cảng thì bình thường, nhưng con người bất bình thường.”

Tòa Tổng Lãnh Sự Trung Quốc nằm tại số 39 Nguyễn Thị Minh Khai, tức là gần ngã tư Hồng Thập Tự và Duy Tân cũ. Ngay từ lúc đi bộ qua số 4 Phạm Ngọc Thạch (Nhà Văn hóa Thanh Niên), Thảo đã nhận thấy “có nhiều nhóm người, vừa công an, vừa thường dân.” Phía trước Tòa Tổng Lãnh Sự chưa có ai. Thảo đứng quan sát.

Ðược một lúc, Thảo thấy có nhóm chăng cờ, có nhóm rút biểu ngữ trong túi ra. Lúc đó họ mới biết mặt nhau, mới biết là có sự hưởng ứng cho lời kêu gọi biểu tình, và cùng kéo về hướng Tòa Tổng Lãnh Sự.

Ngăn cản

Trước đó, nhà cầm quyền Việt Nam đã cố gắng ngăn chặn sinh viên đừng tham gia. Trong một công văn ký ngày Thứ Sáu, Tiến Sĩ Hà Quang Thụy – hiệu phó Ðại Học Công Nghệ thuộc Ðại Học Quốc Gia Hà Nội yêu cầu: “Cán bộ, sinh viên, học viên cao học trong trường thực hiện đúng chủ trương của đảng và nhà nước đối với sự kiện này để tránh bị kích động, lôi kéo thực hiện những hành động đi ngược chủ trương trên”.

Trong công văn, chủ trương của nhà cầm quyền Việt Nam được mô tả là: “Mong muốn tăng cường quan hệ láng giềng hữu nghị với Trung Quốc, chủ trương giải quyết hòa bình mọi tranh chấp giữa hai nước trên cơ sở tôn trọng pháp luật quốc tế”.

Người dân cũng nhiều người lo ngại vụ biểu tình. Thảo kể rằng cô đã “được cảnh báo trước là không nên đi.” Những lời cảnh báo này đến từ người thân, bạn bè; họ lo ngại là cô sẽ “bị để ý, bị gây khó khăn.”

Một số người bị yêu cầu đích danh không tham gia. Thạc sĩ Nguyễn Tiến Trung, lúc đó còn tự do, viết trên mạng rằng vào hôm Thứ Bảy, “an ninh, công an, đảng ủy quận, phương đến gia đình mình để ‘vận động’ mình không tham gia biểu tình.” Những người này tố cáo Trung là “có âm mưu kích động” cuộc biểu tình.

Nhạc sĩ Tô Hải, đã 80 tuổi, cũng cố gắng đến tham gia biểu tình nhưng bị chặn lại từ ngoài, không được cho vào.

Ngay tại địa điểm biểu tình, Thảo nhận thấy có một số giảng viên đại học được phái đến để “khuyên can sinh viên.”

Ðám đông nườm nượp

Bất kể ngăn chặn, rất nhiều thanh niên tham gia biểu tình. Ở Hà Nội, hơn 500 người tụ tập đối diện Tòa Ðại Sứ Trung Quốc tại số 46 Hoàng Diệu. An ninh mặc thường phục lẫn cảnh phục đứng dàn rất đông trước cửa tòa đại sứ và trong lòng đường Hoàng Diệu. Ðường phố chung quanh tòa đại sứ bị chặn lại không cho xe vào.

Tại đây, theo lời kể của blogger Người Buôn Gió, có lúc một người cầm loa nói: “Yêu cầu mọi người giải tán, việc này đã có chính phủ Việt Nam và Trung Hoa giải quyết.” Blog Người Buôn Gió kể: “Câu nói trịch thượng này khiến đám đông phẫn nộ, họ phản đối nhao nhao:

- Giải quyết gì, 30 năm nay rồi có giải quyết gì đâu.

- Không giải tán, quyền gì mà bắt chúng tôi giải tán.”

Tại Sài Gòn, “khi người đã bắt đầu đông rồi thì công an chặn lại không cho vô thêm nữa,” Thắng kể. “Có một số bạn đi ra mua nước uống, lúc quay về không trở vào trong được.”

Ðiều Thắng nói cũng giống lời kể trên blog “Công Lý và Sự Thật” của Tạ Phong Tần. Trên blog, cô cho biết một số thanh niên đi mua nước không được vào lại, nên thùng nước phải xé ra và từng chai nước được chuyển riêng lẻ vào trong.

Trong số những người ra sớm là Phan Thanh Hải, một luật gia mới xong giai đoạn tập sự và cũng là blogger Anhbasg. Hải nổi tiếng vì đoạn băng thu thanh tiếng Hải cố vấn cho sinh viên Kim Duy khi anh bị công an tịch thu xe, đòi khám nhà, đòi kiểm tra hộ khẩu, chỉ vì Kim Duy vẽ tranh biếm họa chống Trung Quốc xâm lược.

Hải kể lại cho báo Người Việt: “Buổi sáng, tôi tới ngồi cà phê hẻm 47 Phạm Ngọc Thạch cùng với nhóm văn nghệ sĩ, sau đó mọi người cùng rủ nhau đi.” Lúc Hải đến nơi thì vẫn còn vắng. Hải cũng thấy người này người nọ nhưng “không ai biết ai vì blog đâu ai biết mặt ai.”

Nhóm của Hải đứng bên ngoài Nhà Văn hóa Thanh Niên, chờ. Lúc đó, Hải thấy một nhóm người lấy ra một lá cờ Trung Quốc. Họ trải lá cờ xuống đất rồi thò chân giẫm lên, và chụp hình. Hải cũng ghé vào, xin được thò chân đạp lên chụp hình. “Chụp được vài tấm thì xuất hiện vài anh bảo vệ chỉ trỏ ‘Sao lại làm chuyện này.’” Họ bảo, “Tại sao cờ nước người ta lại giẫm lên?”

Lời qua tiếng lại, những người dân quân quay vào trong, có vẻ nhưng kêu thêm người. Một người bèn nhét lá cờ vào giấu vào đế giầy rồi lết đi. Lúc đó, cả nhóm cùng kéo về phía Tòa Tổng Lãnh Sự.

Ðám người biểu tình mỗi lúc mỗi đông. Bên kia đường, công an, cảnh sát chặn lại. Họ cấm, “Không được qua đây.” “Không được chụp hình.” Hải cãi, “Có bảng cấm chụp hình không?”

Nhưng rồi đoàn biểu tình cũng đồng ý đi qua bên kia đường, phía đối diện Tòa Tổng Lãnh Sự. “Mỗi người móc đồ chơi ra,” Hải kể. Nhiều người phất cờ. Rất nhiều biểu ngữ tự vẽ, và một số tranh biếm họa. Từ bên trong Tòa Tổng Lãnh Sự, một số nhân viên Trung Quốc chụp hình ra.

Biểu ngữ viết bằng nhiều thứ tiếng Việt, Anh, Hoa, tất cả đều một nội dung tương tự nhau:

“Trường Sa Hoàng Sa là của Việt Nam.”

“Ðảo Hoàng Sa & Trường Sa là của Việt Nam chúng tôi!!”

“Trung Quốc ngưng ngay hành động xâm lược.”

Nhà thơ Thận Nhiên, Việt kiều Mỹ, mặc áo thun với dòng chữ viết tay: “Môi Việt Nam thì mềm, răng Bắc Kinh là răng cá mập.”

Áo của nhà thơ Lynn Bacardi có dòng chữ, cũng viết tay: “Ðừng để chúng cắt rời H.Sa và T.Sa ra khỏi thân thể đất nước.”

“Không khí rất hào hùng phấn khởi,” Thắng kể. “Nó cứ như mọi người bị đè nén lâu rồi, muốn nói cũng không được nói,” bây giờ bùng ra.

Blogger Hồ Lan Hương viết rằng không khí rất “náo nhiệt.” Cô viết: “Trái tim của từng người nơi này rung lên niềm tự hào con dân nước Việt. Chúng tôi tất thảy đều căm phẫn bọn cầm quyền Bắc Kinh, sự căm phẫn được thoát ra từng lời hô khẩu hiệu, từng lời hát thúc giục lên đường chống lại bọn xâm lăng.”

Nhân vật đứng hàng thứ nhì trong chính quyền thành phố, phó chủ tịch thường trực ủy ban nhân dân Nguyễn Thành Tài, kêu gọi thanh niên bỏ hàng biểu tình, vào hội trường Nhà Văn hóa Thanh Niên nghe ông nói chuyện. Một số người đi theo, nhưng cũng nhiều người nhất định không đi, ở lại biểu tình. Phải đến sau 1 giờ trưa, cuộc biểu tình tự phát mới vãn.

Phản ứng: Thẩm vấn, bỏ tù

Sau một ngày tung cảnh sát, công an dàn trải khắp chỗ biểu tình nhưng không ngăn chặn gì, nhà cầm quyền Việt Nam bắt đầu siết mạnh.

Có người cho rằng Việt Nam phản ứng mạnh vì nhu cầu ngoại giao với Trung Quốc. Hai ngày sau vụ biểu tình ở Hà Nội và Sài Gòn, phát ngôn viên Bộ Ngoại Giao Trung Quốc lên tiếng: “Chúng tôi hy vọng chính phủ Việt Nam sẽ có thái độ trách nhiệm đồng thời có các biện pháp hiệu quả nhằm ngăn chặn những sự việc làm tổn hại đến quan hệ song phương như vậy.”

Trên thực tế, công an Việt Nam đã áp dụng biện pháp mạnh ngay từ hôm biểu tình. Cô Thảo kể, “Không cần chờ mấy hôm đâu, ngay hôm đó em vừa lấy xe ra là có người đến yêu cầu em về đồn công an phường ở chỗ đó rồi.” Cô không chịu, bảo, “Em đi từ sáng đến giờ chưa ăn gì, bây giờ phải ăn trước rồi đi đâu mới đi.”

Người công an bèn nói, về đồn, họ mua cơm cho ăn. Không còn lý do để từ chối, cô đành theo họ về đồn. Tại đây, một sĩ quan công an nói chuyện nhã nhặn, “có ý muốn em cung cấp thông tin, nhưng em nhất quyết từ chối,” cô kể lại. Xong, đi về, tưởng rằng thế là hết.

Một ít lâu sau, Thảo bắt đầu vào làm việc tại VietNamNet. “Mới vào làm, đã có mấy ông công an đến nói chuyện với sếp. Vậy là tự nhiên em nổi tiếng,” Thảo nói. “Sếp lúc đầu thấy vậy cũng muốn đuổi em, nhưng sau lại thôi.” Một năm sau, Thảo nghỉ làm ở VietNamNet, qua làm một công ty khác, thì không thấy công an làm gì.

Ðó là nhẹ. Ở Hà Nội, nhà văn Trang Hạ viết trong blog mình rằng cô bị công an phường bắt giữ gần 12 tiếng đồng hồ vì phát đề can in chữ “Hoàng Sa Trường Sa là của Việt Nam.”

Ở Sài Gòn, blogger Ðiếu Cày bị công an kêu lên kêu xuống nhiều lần, rồi cuối cùng bị bắt và bị kết án tù 2 năm rưỡi với tội danh trốn thuế, mặc dù quá trình tố tụng hoàn toàn đi ngược với thủ tục đối với tội danh này.

Nhà thơ/blogger Uyên Vũ từ sau vụ biểu tình bị công an tới thăm sở làm, rồi bị mất việc từ đó tới nay.

Phan Thanh Hải thì “ngay từ khoảng đó đã có công an khu vực tới tâm sự rồi.” Sau đó chừng một tuần có giấy mời, cũng là lúc giới blogger đang chuẩn bị cuộc biểu tình thứ nhì. Hải kể rằng anh “la ầm ĩ,” bảo với công an rằng “không đi đâu hết, không có mời mọc gì hết” – vì giấy mời là mời lên làm việc ngày Chủ Nhật, mà Chủ Nhật là ngày đã định đi biểu tình đợt nhì rồi. Hải nhất quyết không lên đồn như trong giấy mời.

Vài tháng sau, Hải thi đậu kỳ thi kết thúc tập sự luật sư. Ðoàn Luật Sư Thành Phố thông báo kết quả, mời dự lễ kết nạp. Nhưng cuối cùng thì chứng chỉ và thẻ luật sư bị Bộ Tư Pháp giữ lại. Sau nhiều lần khiếu nại qua lại, Bộ Tư Pháp mới có công văn, không gởi cho Hải mà gởi cho Ðoàn Luật Sư, nêu lý do Hải “biểu tình gây phá rối trật tự” và “lợi dụng quyền luật sư” ngược lại quyền lợi nhà nước.

Biện pháp ngăn ngừa: Chặn Internet

Từ sau vụ biểu tình này, nhà nước Việt Nam càng quan tâm hơn nữa tới việc ngăn chặn thông tin bằng đường Internet. Cuộc biểu tình ngày 9 tháng 12 cũng như lần thứ nhì ngày 16 tháng 12 đều do giới blogger khởi xướng và kêu gọi bằng blog, bằng email, bằng diễn đàn điện tử.

Biết vậy, nhà nước bắt đầu siết chặt các blog, và họ làm vậy bằng cách siết chặt cá nhân các blogger. Blogger Ðiếu Cày bị bắt đi tù. Rất nhiều blogger bị kêu lên thẩm vấn.

Sinh viên Nguyễn Ðình Thắng cho biết anh không bị khó dễ gì, nhưng theo anh đó là vì anh không viết blog. “Những người hoạt động mạnh mẽ trên mạng đều gặp rắc rối,” Thắng nói.

Cho tới hai năm sau, nhà nước Việt Nam vẫn duy trì thái độ cứng rắn đối với người sử dụng Internet.

Vào Tháng Năm, năm 2009, doanh gia Trần Huỳnh Duy Thức bị bắt, cùng lúc với Luật Sư Lê Công Ðịnh, vì thông tin đưa trên trang blog Change we need.

Thạc Sĩ Nguyễn Tiến Trung bị bắt vào Tháng Tám. Anh được biết nhiều với những bài viết trên mạng, trên các trang diễn đàn, cũng như trên trang blog cá nhân.

Nhà báo Huy Ðức, nổi tiếng với trang blog Osin, bị cắt hợp đồng với báo Sài Gòn Tiếp Thị.

Hai blogger Mẹ Nấm và Người Buôn Gió cũng bị bắt rồi được thả vì bài viết trên Internet báo động về ảnh hưởng của Trung Quốc trong vụ khai thác bô-xít.

Nhạc sĩ Tô Hải vào Tháng Chín bị cắt Internet. Nhân viên hãng Internet nói thoái thác với ông rằng “đường dây bị mục nát cần sửa chữa.”

Tới gần đây, khi số người Việt Nam sử dụng trang mạng xã hội Facebook lên tới trên 1 triệu người, nhà nước Việt Nam bắt đầu chặn trang này.

Cuộc biểu tình ảnh hưởng tư duy người dân

Mặc dù người biểu tình bị gây khó khăn rất nhiều, tất cả những người từng tham gia biểu tình đều cho rằng việc làm của họ có tác động lớn tới người dân, tới thanh niên sinh viên.

Thắng cho rằng cuộc biểu tình “có ảnh hưởng.” Biến cố này “báo động đến người dân, những người không biết về Trường Sa Hoàng Sa thì bây giờ biết.” Thắng cũng cho rằng cuộc biểu tình đã tác động lên nhà cầm quyền, “gây áp lực lên chính quyền, làm cho họ không thể nhu nhược mãi.”

Ðối với thanh niên sinh viên, cuộc biểu tình của hai năm trước đã “đánh thức lòng yêu nước,” nhắc nhở họ là Trung Quốc rất mạnh, “từ đời nào tới giờ chuyên dùng vũ lực,” nhắc nhở đề phòng Trung Quốc và “dã tâm lấy hết biển Ðông,” theo lời Thắng.

Thảo cũng cho rằng cuộc biểu tình có mặt ảnh hưởng tích cực là “số người biết về lãnh thổ Việt Nam, về biển đảo, được nhân rộng ra.” Mặt khác, Thảo bi quan về phương pháp biểu tình. Cô cho rằng biểu tình khiến nhà nước phản ứng mạnh, “việc khác bị khó khăn.” Tuy nhiên, cô khẳng định cô “không có gì để tiếc,” vì mục tiêu yêu nước là chính đáng.

Thảo còn tiên đoán, nếu vụ Tam Sa xảy ra ngày hôm nay, “số lượng đi biểu tình sẽ đông hơn, một phần vì nhận thức cao hơn, một phần vì quan tâm nhiều hơn.” Cô nói, “Chưa đụng tới thì chưa đi,” chứ đụng tới thì thanh niên sinh viên sẽ đi.

Phan Thanh Hải đánh giá, “Cuộc biểu tình đem lại giải tỏa tâm lý và không khí hào hứng, phấn chấn cho rất nhiều người.” Cuộc biểu tình cho người ta cơ hội bộc lộ vụ “mất đất, mất biển, mất đảo.”

Hải còn cho rằng cuộc xuống đường Trường Sa – Hoàng Sa ngày 9 tháng 12 năm 2007 đã phá tan thành kiến về việc biểu tình. “Biểu tình ở Việt Nam là chuyện gì ghê gớm lắm,” Hải nói, nhưng nay thì khác. “Không còn là điều cấm kỵ nữa. Ở nước khác, khi mà người dân có một suy nghĩ, tâm tư nguyện vọng muốn đề bạt lên thì họ đi biểu tình thôi.”

Cuộc biểu tình hai năm trước cũng mở ra hàng loạt thông tin. Nhà nước đã phải “công khai dần những chuyện biên giới,” theo Hải. “Người dân quan tâm nhiều hơn trước rất là nhiều.”

Bởi vì, theo lời người blogger lấy tên Anhbasg, “Trung Quốc là nỗi ám ảnh mấy ngàn năm với dân tộc Việt Nam.”

Ðạo diễn Song Chi nói về cuộc biểu tình 9 tháng 12, 2007
Tuesday, December 08, 2009

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Ðạo diễn Song Chi.

Họa sĩ Trịnh Cung bế con 1 tuổi tham gia biểu tình. (Hình: Blogger Hồ Lan Hương)

 

Ðinh Quang Anh Thái/Người Việt

Ðạo diễn Song Chi hiện sống tại Na Uy. Ngày 9 tháng 12 năm 2007, Song Chi có mặt trong cuộc biểu tình tại Sài Gòn chống Trung Quốc.

- ÐQAThái: Hôm nay, hồi tưởng lại sự kiện hai năm trước, khi chị tham dự cuộc biểu tình, chị có thể mô tả lại tâm trạng của chị cũng như là quang cảnh lúc đó ra sao?

- Song Chi: Cuộc biểu tình xuất phát từ sáng kiến của các blogger, các bạn trẻ trên mạng, chủ yếu do các bạn trẻ, các bạn đã hẹn nhau vào ngày đó để biểu tình phản đối Trung Quốc quyết định thành lập cái quận Tam Sa trên đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Còn với văn nghệ sĩ trí thức thì vào đêm trước hôm đó, bọn Chi gồm có một số anh em văn nghệ sĩ đang ngồi uống cà phê hỏi nhau là mọi người có biết ngày mai các bạn trẻ chuẩn bị biểu tình chống Trung Quốc hay không. Thì lúc đó nhiều người kể cả Chi cũng chưa biết nữa kia. Bọn này còn nói đùa là biểu tình chống đảng Cộng Sản Việt Nam thì chắc là sẽ xuống đường …

- ÐQAThái: Xin lỗi ngắt lời chị là chị vừa nói là “nếu biểu tình chống đảng Cộng Sản Việt Nam thì biểu tình”?

- Song Chi: Vâng, bọn Chi còn nói với nhau như vậy. Lúc đó còn bảo biểu tình chống Trung Quốc hả, nếu biểu tình chống Cộng Sản Việt Nam thì bọn này xuống đường ngay. Ngồi nói đùa như thế nhưng mà sáng hôm sau thì bọn Chi một số văn nghệ sĩ trí thức kể cả Trịnh Cung, Thanh Duyên, Tuấn Khanh, Hà Vũ Trọng… nói chung rất là nhiều, đều đi ra. Ðầu tiên đi ra để xem tình hình như thế nào, ngày đầu tiên là như vậy.

Ðến khi đi xuống khu vực ở phía trước tổng lãnh sự quán của Trung Quốc tại Sài Gòn, buổi sáng hôm đó cũng thấy là khá đông các bạn trẻ đã tập họp ở đó rồi, đã chuẩn bị tất cả các biểu ngữ, băng rôn nọ kia thấy rất là hào hứng, thế là anh em văn nghệ sĩ nhập cuộc luôn, vào đứng với các bạn. Lúc đó buổi đầu tiên như vậy là thành công, phải nói là lúc đó nhà nước cũng bất ngờ, chưa có chuyện gì xảy ra. Buổi sáng hôm đó là Chủ Nhật thì diễn ra được mấy tiếng đồng hồ như vậy tất cả biểu tình rồi hát, hô biểu ngữ ở phía trước, ngay bên ngoài của tòa tổng lãnh sự quán Trung Quốc, bên trong thì thỉnh thoảng thấy mấy người nhân viên của phía bên lãnh sự quán Trung Quốc họ thò đầu ra họ nhìn thôi, còn nói chung là buổi sáng hôm đó không gặp trở ngại nào.

- ÐQAT: Thưa chị, sứ quán Trung Quốc ở Sài Gòn nằm ở đường nào?

- Song Chi: Ðường Nguyễn Thị Minh Khai bây giờ, hồi xưa là Hồng Thập Tự, góc của nó ngay tại đường Phạm Ngọc Thạch, tức là ngày xưa góc đường Hồng Thập Tự và Duy Tân, rất gần nhà văn hóa thanh niên.

- ÐQAThái: Số người biểu tình sáng hôm đó có đông không?

- Song Chi: Cũng hơn trăm người, dân chúng đi qua rất là ngạc nhiên vì hồi nào đến giờ chưa thấy có một cuộc biểu tình như vậy. Quần chúng đi ngang họ cũng tò mò, có nhiều người dừng lại, có người cũng đứng lại luôn, rồi có người đi ngang cũng đọc các biểu ngữ. Buổi sáng đó phải nói là thành công, rồi anh em văn nghệ sĩ hào hứng lắm, Tuấn Khanh còn cầm loa chạy tới chạy lui, rồi Trịnh Cung đưa cả con đi mà mọi người nói đùa Trịnh Cung là một trong những người biểu tình lớn tuổi nhất mà con nhỏ nhất.

- ÐQAThái: Cháu bé mới sinh ra phải không?

- Song Chi: Không, Chi nhớ không lầm là cháu bé một tuổi rồi. Nhưng mà sau này mới biết nhạc sĩ Tô Hải còn lớn tuổi hơn họa sĩ Trịnh Cung. Buổi sáng đầu tiên là như vậy, phải nói rõ ràng đó là sáng kiến của các blogger trên mạng chứ không phải là sáng kiến của anh em văn nghệ sĩ. Sau đó thì anh em văn nghệ sĩ mới tham dự, trước hết là để coi cái đã, thấy có không khí thì đứng vào luôn.

Cho đến trưa thì bên chính quyền tức là ông chủ tịch thành phố, mời tất cả các bạn trẻ vào trong nhà Văn hóa Thanh Niên để trò chuyện và còn hứa cho các bạn biểu tình về vấn đề Trung Quốc chiếm Hoàng Sa, Trường Sa. Sau đó thì lời hứa đó chính quyền đương nhiên là không thực hiện vì họ hứa để cho sinh viên học sinh yên tâm họ ra về thôi.

Ðến Chủ Nhật sau thì các bạn lại biểu tình tiếp. Lúc đó thì giới nghệ sĩ là đông lắm và các bạn trẻ rất là đông, và bị khó khăn rồi. Hôm đó ngay trước khu vực tổng lãnh sự quán Trung Quốc, họ để sẵn những bảng “cấm tụ tập” rồi, họ không cho đứng khu vực đó, và nguyên khu vực đó buổi sáng có xe cảnh sát, xe các loại. Ngay lúc đó thì các bạn trẻ chuyển qua tập trung ở công viên trước Dinh Ðộc Lập cũ ngày xưa, tức Dinh Thống Nhất bây giờ và tập họp ngay đó. Tình hình khó khăn hơn rất nhiều, còn văn nghệ sĩ thì tất cả những ai mà người ta thấy mặt là người ta không cho qua phía bên kia, người ta bắt ngồi phía bên có quán cà phê vỉa hè trước nhà văn hóa Thanh Niên. Ngay cả nhà Văn hóa Thanh Niên hôm đó họ cũng dẹp luôn, họ không cho mở cửa vì họ sợ là lượng người từ trong nhà Văn hóa Thanh Niên ra thì sẽ đông hơn nữa. Ngay khi bắt đầu tụ tập thì từ khắp nơi công an mặc sắc phục có, thường phục có, rồi những người gọi là dân quân mặc đồ xanh cũng có nữa, xuất hiện và bao vây trong phạm vi hẹp, không cho lan rộng. Sau đó là giằng kéo qua lại, đẩy qua đẩy lại giữa các tự vệ với các anh em sinh viên học sinh, giằng qua giằng lại và cuộc biểu tình diễn ra rất là khó khăn. Thậm chí họ dùng đủ mọi cách, họ để những chiếc xe phá sóng để mà phá sóng điện thoại rồi họ bao vây khu vực đó để người bình thường không đi vào khu vực đó làm đông người thêm; rồi họ chia cắt những người văn nghệ sĩ, bao vây các bạn ở khu công viên đó, rồi bắt đầu giằng kéo qua lại, rồi họ mời một số ông thầy, ông hiệu trưởng nọ kia xuống khuyên các bạn về đừng đi biểu tình, biểu tình ảnh hưởng tới việc học; thậm chí còn dọa các bạn là nếu cứ biểu tình như thế này thì sẽ ảnh hưởng tới hạnh kiểm, tới nọ kia.

Sáng đó Chi còn nhớ Chi đứng cãi nhau với một ông thầy ở trường nào đó Chi không biết. Chi cãi nhau với ông để bênh các bạn. Tình hình là như vậy. Khi mà công an bắt đầu đẩy các em sinh viên, bọn Chi còn cãi với họ rằng “Các anh làm gì thế, đây cũng chỉ là các em học sinh cũng là con em trong nhà của các anh biểu tình để chống Trung Quốc là hoàn toàn hợp lý mà các anh làm gì vậy?” Thế là họ phải ngưng lại nhưng mà họ cứ bao vây không cho di chuyển ra khỏi khu vực đó.

Coi như là lần thứ hai không được thành công. Kể cả lần thứ hai đó ở Hà Nội cũng vậy, chỉ có lần đầu tiên ở cả hai miền, hai thành phố Sài Gòn và Hà Nội là vì nhà nước bị bất ngờ thôi và đến lần thứ ba, Chủ Nhật lần thứ ba đó khi các bạn muốn tổ chức thì hoàn toàn không tổ chức được nữa. Ngay lần thứ hai thì một số khá đông văn nghệ sĩ bị mời lên để làm việc, như anh Cung Tích Biền, Hà Vũ Trọng rồi nhiều lắm đều bị công an mời lên để làm việc.

- ÐQAThái: Thưa chị Song Chi, bản thân chị khi xuống đường như vậy, chị có sẵn sàng để đối đầu với một tình huống như thế không?

- Song Chi: Thật ra là cuộc biểu tình của sinh viên học sinh cách đây 2 năm thì nó hoàn toàn là sáng kiến của giới trẻ bloger, nó là một chuyện hoàn toàn tự phát nhưng mà sau khi nó diễn ra thì không khí, tinh thần của các bạn trẻ diễn ra rất là mạnh mẽ, tinh thần yêu nước đó cũng làm cho giới trí thức văn nghệ sĩ cũng hào hứng, tất cả đều tham gia và cảm thấy những ngày đó có một không khí rất là lạ, thậm chí những Chủ Nhật kế tiếp cũng vậy, tất cả mọi người bị công an mời lên làm việc nhưng mà tất cả đều cho mọi chuyện rất là bình thường, không có gì phải sợ hãi cả, chỉ sợ cho các em sinh viên học sinh thôi. Bởi vì các em đều bị thầy cô giáo, hiệu trưởng gọi các em lên làm việc và họ còn làm việc với ba mẹ phụ huynh các em để gây khó dễ, chứ còn đối với văn nghệ sĩ chúng tôi chẳng có gì lo ngại cả. Ðối với các em thì ngay sau đó thì lập tức gặp rất nhiều vấn đề, còn đến lần thứ ba thì không khí rất là căng, những ngày đó chỉ có một nhúm sinh viên thôi, các bạn trẻ không có một tấc sắt trong tay mà người ta huy động bao nhiêu lực lượng nào là công an, nào là áo xanh áo vàng, nào là thường phục rồi đủ thứ sắc phục như thế rồi huy động cả xe phá sóng. Vào Chủ Nhật thứ ba thì vắng tanh, vắng ngắt ở khu vực đó rồi có những xe cam-nhông lớn chạy vòng quanh để mà bố ráp nữa, làm không khí rất là kinh khủng.

Thậm chí những ngày đó còn thấy rất nhiều những người Trung Quốc mặc thường phục, họ nói chuyện điện thoại mà nói toàn bằng tiếng Hoa, và họ nói chuyện liên tục có vẻ đang canh khu vực đó, thật là căng. Thực tế là các em sinh viên và dân trí thức biểu tình tay không một cách rất là hòa hoãn với một lý do hoàn toàn xuất phát từ lòng yêu nước nhưng mà họ tạo ra một không khí rất là căng thẳng, không khí y như một cuộc bố ráp vậy. Sau đó mãi đến tháng 1 mới đến nhóm của văn nghệ sĩ và nhóm các bạn trong câu lạc bộ nhà báo tự do biểu tình ở nhà hát thành phố.

- ÐQAThái: Chị đánh giá ảnh hưởng của những cuộc biểu tình đó đối với tinh thần yêu nước của đồng bào mình ra sao?

- Song Chi: Tôi cho là thế này, ở một đất nước tự do dân chủ thì chuyện biểu tình là chuyện rất là bình thường, nhưng ở một quốc gia không có dân chủ như Việt Nam thì chuyện biểu tình là chuyện hiếm hoi, và chính vì nó hiếm hoi cho nên nó tạo ra một cái gì đó rất là lạ trong những ngày đó. Các bạn trẻ tự nhiên cảm thấy mạnh mẽ hẳn lên, tinh thần rất là hăng hái, kể cả những người dân bình thường cũng vậy. Song Chi cho là những cuộc biểu tình như vậy thực sự tác động đến các bạn trẻ cũng như là đến những người dân rất là nhiều và người ta thức tỉnh về lòng yêu nước đã đành, kể cả cái chuyện người ta lên tiếng nói, nó có một ảnh hưởng như vậy. Chính điều đó nhà nước họ biết nên đó là lý do tại sao họ phải ngăn chặn, một phần là vì tránh làm mất lòng Trung Quốc, nhưng điều thứ hai họ sợ rằng bắt đầu chỉ là cuộc biểu tình chống Trung Quốc như vậy, nhưng sau đó nó phát triển thành cái gì khác thì không ai biết được. Vì thực tế là có những quốc gia có những cuộc biểu tình ban đầu chỉ với lý do tăng lương, muốn có ngày nghỉ cuối tuần gì đó, nhưng sau đó nó trở thành những chuyện khác thì không ai kiểm soát được, đó là điều mà họ lo sợ.

- ÐQAThái: Nếu bây giờ chị có cơ hội lên tiếng nói với giới trẻ, với văn nghệ sĩ ở Việt Nam thì chị sẽ nói gì về biến cố 2 năm trước?

- Song Chi: Thực ra khi còn ở trong lẫn khi ra nước ngoài, khi ngồi nói chuyện với bạn bè giới văn nghệ sĩ, có những lúc mình cảm thấy hằng ngày mình thấy bao nhiêu chuyện bức xúc như vậy, bao nhiêu điều mình muốn nói, bao nhiêu điều mình muốn làm mà không làm được. Và nhiều lúc bạn bè trong giới văn nghệ sĩ ngồi nói với nhau là người Việt Nam mình không biết đến bao giờ mới thay đổi được. Nếu người Việt Nam vẫn cứ hoặc là an phận, hoặc là lo đi làm kiếm tiền và né tránh tất cả những chuyện liên quan đến chính trị, hoặc là họ có một nỗi sợ hãi ăn sâu trong tiềm thức, sợ hãi chế độ và bàng quang đến việc nước, thì nói thất vọng thì hơi quá đáng nhưng không biết đến bao giờ người Việt Nam mới biết đến tự do dân chủ để mà đứng lên để quyết định số phận của đất nước như những dân tộc Ðông Âu và dân tộc Nga họ đã làm. Nhưng khi gặp những chuyện như Trung Quốc, Hoàng Sa, Trường Sa thì mới phát hiện ra một điều là người Việt bên trong họ vẫn có những nỗi niềm băn khoăn với đất nước, quan tâm đến số phận của đất nước, họ vẫn có những nỗi niềm, nhưng chẳng qua chỉ chưa đến lúc đó thôi, chứ đến lúc thì mình mới thấy điều đó thể hiện ra và rõ ràng. Bằng chứng là càng ngày càng nghe được nhiều tiếng nói phản kháng ở trên mạng cho phép chúng ta hy vọng người Việt thật sự ra họ vẫn quan tâm đến số phận của đất nước và sẽ có một ngày đất nước thay đổi.

- ÐQAThái: Với đồng bào, văn nghệ sĩ và thanh niên tại hải ngoại, chị có tâm sự gì muốn nói không?

- Song Chi: Vừa rồi Chi có đi qua một số nước, một số thành phố, Chi đi qua Berlin của Ðức, đi qua Praha của Tiệp và đi qua Varsava của Ba Lan nhân dịp kỷ niệm 20 năm bức tường Berlin sụp đổ và 20 năm không còn chủ nghĩa Cộng Sản tại các quốc gia đó. Lúc đầu khi nhìn qua thì mình có cảm giác như khi mình ở trong nước. Ðó là cảm giác người Việt ở trong hay ở ngoài dường như chỉ quan tâm đến số phận của mình, số phận của gia đình mình, chỉ lo kiếm tiền, họ không quan tâm đến chuyện gì khác. Nhưng thực tế không phải như vậy. Ðến khi tiếp xúc với người này người kia thì vẫn cảm thấy ở bên trong tất cả vẫn có một nỗi niềm chung với tương lai số phận của dân tộc, điều đó là điều Chi tin rằng một ngày nào đó đất nước sẽ thay đổi. Mỗi người có một số phận riêng, và tính cách mỗi người góp phần tạo nên số phận đó thì một dân tộc cũng vậy, tính cách của dân tộc sẽ góp phần làm nên số phận của dân tộc đó. Dân tộc Việt Nam có một số nhược điểm đã làm nên bi kịch của đất nước, trong đó có sự chia rẽ, thiếu đoàn kết chẳng hạn, giá như mà người Việt biết được những nhược điểm của mình, bỏ qua những điều đó đoàn kết với nhau lại và một lòng thì chắc chắn tương lai, số phận đất nước sẽ thay đổi. Dân tộc Ba Lan hồi đó có đến hơn 10 triệu người Ba Lan ở nước ngoài, họ đã gởi tiền để ủng hộ cho phong trào công nhân nhân trong nước ở Ba Lan. Theo Chi được biết thì không có một tổ chức đảng phái nào cả, tất cả tập trung sức lực cho phong trào Công Ðoàn Ðoàn Kết thôi và cuối cùng là họ làm được điều mà họ muốn làm. Giá như mà người Việt cũng làm được điều như vậy.

- ÐQAThái: Cám ơn đạo diễn Song Chi đã dành thì giờ cho cuộc phỏng vấn của chúng tôi.

 

 

 

 

Phỏng vấn nhạc sĩ Tô Hải về biểu tình Trường Sa-Hoàng Sa
Tuesday, December 08, 2009

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Hình nhạc sĩ Tô Hải đăng trong cuốn Hồi Ký Một Thằng Hèn.

 

‘Phải cố mà làm không sợ gì cả’

Ðinh Quang Anh Thái/Người Việt

Cách đây đúng 2 năm, vào ngày mùng 9 tháng 12 năm 2007, tại Sài Gòn và Hà Nội, một số thanh niên, sinh viên, học sinh, trí thức, văn nghệ sĩ và đồng bào đã biểu tình chống Trung Quốc. Một trong những người đã có mặt trong đoàn biểu tình đó là nhạc sĩ Tô Hải. Nhạc sĩ Tô Hải là người nổi tiếng với những bài viết của ông được đưa trên blog và đặc biệt là cuốn “Hồi Ký Một Thằng Hèn”, do Tủ sách Tiếng Quê Hương xuất bản tại hải ngoại. Dưới đây là cuộc phỏng vấn nhạc sĩ Tô Hải do Ðinh Quang Anh Thái thực hiện.

- ÐQAThái: Nhạc sĩ có thể cho biết khung cảnh cách đây đúng 2 năm, khi nhạc sĩ tham dự đoàn biểu tình chống Trung Quốc.

- Nhạc sĩ Tô Hải: Chuyện này có lẽ tôi nhớ suốt đời, vì lúc bấy giờ tôi đã 81 tuổi, nhưng ít nhất tôi cũng đã động viên được một số ông bạn tôi làm một việc đúng là đả đảo bọn bành trướng Trung Quốc lấy đất của mình, ngang nhiên tuyên bố Hoàng Sa và Trường Sa là đất của nó. Tôi muốn những người như lớp của tôi chứ tôi cũng chả dám đứng ra kêu gọi thanh niên đâu. Ðất của tôi, đất của cha ông chúng ta, đất mà bao nhiêu người đổ xương, đổ máu ra để bảo vệ đến ngày hôm nay chúng nó tuyên bố như thế thì nhiệm vụ các ông già đi trước, hay là nói một cách khác, những người như chúng tôi đã từng đổ máu, đã từng hy sinh, đã từng bỏ hết nhà cửa, bỏ học hành xếp bút nghiên để chống bọn xâm lược, ngày hôm nay chúng nó xâm lược mình, mình lên đả đảo chúng nó, mình đòi Hoàng Sa và Trường Sa là của Việt Nam.

- ÐQAThái: Hồi tưởng khung cảnh của hai năm trước, xin ông có thể mô tả lại tâm lý của ông lúc đó, khung cảnh lúc đó ra sao để cho độc giả của Người Việt được biết?

- Nhạc sĩ Tô Hải: Cái này thì tôi có viết một bài “Tớ đi tụ tập đông người không được phép” và bài đó nhiều trang mạng đã đăng.

Tóm lại biểu tình ở Hà Nội thì khá hơn, hăng hơn; đùng một cái họ làm ngay nhưng ít nhất họ cũng đi được một đoạn, chứ còn ở Sài Gòn thì công an nó biết trước, nó canh gác hết các đầu đường, ai mà đi vào là nó bắt ngay từ đầu. Thậm chí các quán cà phê kê ghế ở dọc đường ngày hôm đó là nó cấm hết, cho nên tôi mới viết là “Eo ôi, ở đâu mà ra lắm cá thế?” Tóm lại là về sau biến thành những nhóm một tập họp ở trước cửa Sở Ngoại Vụ, vào nhà Văn hóa Thanh Niên, và do bị công an đàn áp ngay từ đầu, cho nên có thể nói 10 người định đi biểu tình thì có 100 người đủ các sắc phục và không sắc phục ngăn chặn từ đầu. Tôi xin nói là những thằng đứng gác đầu đường gọi telephone di động cho nhau bằng tiếng Tàu. Cho nên chưa có đi được, chưa có giải quyết được gì cả thì nó đã giải tán ngay từ đầu. Nó bảo vệ Tòa lãnh sự Tàu kinh lắm.

- ÐQAThái: Nhạc sĩ Tô Hải vừa mới nói rằng có những bọn dùng máy để nói với nhau bằng tiếng Tàu, phải chăng đó là bằng chứng cụ thể cho thấy rằng an ninh của Trung Cộng đã có mặt ngay tại Việt Nam trong những ngày xảy ra cuộc biểu tình đó?

- Nhạc sĩ Tô Hải: Tôi khẳng định là có. Kể cả đến ngày đi biểu tình chống ngọn đuốc Olympics Bắc Kinh chạy qua Sài Gòn, tôi ngồi ở một cái quán gần đó để bắt đầu tập hợp anh em nhập vào đoàn biểu tình, nhưng mà bọn Tàu thì rất nhiều, chúng nó đi từng ô tô một, chúng nó đến và ơi ới gọi nhau toàn bằng tiếng Tàu thôi. Khổ cái là tôi không biết tiếng Tàu nó nói cái gì, có khi nó vừa nói vừa chửi nhân dân ta cũng không biết chừng.

- ÐQAThái: Thưa nhạc sĩ, hôm 9 tháng 12, hôm đó ông hành động ra sao ạ?

- Nhạc sĩ Tô Hải: Ðầu tiên tôi bắt được ngay một con mụ chỉ điểm. Sau này mình mới biết nó là công an, nó dắt mấy anh công an có trang bị tận răng đến để bắt mấy anh em biểu tình. Nó dẫn công an đến bắt 3 người, thì tôi mới la ầm lên “anh em ơi, con mụ này dắt công an đến bắt anh em đây này!”, nó bắt chỉ vì các anh em đang cầm các khẩu hiệu “Hoàng Sa, Trường Sa là của Việt Nam”. Thế là anh em mới quay lại.

Tôi không nhập được vào đoàn biểu tình, nên tôi chỉ đứng tại chỗ và nói cho những người chung quanh rằng, tại sao công an ngăn chặn chúng tôi, rồi tôi kể chuyện tại sao năm 1979 khi Tàu nó đánh 6 tỉnh miền Bắc thì các anh hô chúng tôi lên đường bảo vệ tổ quốc, văn nghệ sĩ chúng tôi thì anh hô là viết sáng tác chĩa mũi dùi thẳng vào cái bọn các anh gọi là kẻ thù nguy hiểm ở trước mắt; còn bây giờ các anh lại đổi, các anh quay, thái độ của các anh quay hẳn 180 độ như thế và các anh bắt nhân dân chúng tôi quay theo à. Tôi vạch ra chuyện các anh lãnh đạo hèn, không dám làm chuyện mà các anh em thanh niên, sinh viên cũng như cá nhân lão già này ra đây làm. Ðã vậy mà các anh lại còn bắt thì rõ ràng các anh hèn.

- ÐQAThái: Qua cuộc biểu tình này, nhạc sĩ Tô Hải đánh giá như thế nào về lòng yêu nước của đồng bào mình?

- Nhạc sĩ Tô Hải: Tôi thấy rằng biểu tình không thành, bị phá ngay từ đầu. Bản thân tôi bị áp huyết cao, và một nhóm những người nhiệt tình nhất sau đó thì họ khiêng tôi vào trong nhà Văn hóa Thanh Niên và sau đó đưa tôi taxi về nhà. Mấy ngày hôm sau thì anh em có đến tận nơi động viên tôi và cảm ơn tôi, một người đã 80 tuổi mà đi tham gia những chuyện này. Tôi nói rằng những điều này là những điều các cháu phải cố mà làm không sợ gì cả.

Các anh ở nước ngoài, các anh không hiểu được đâu, ở cái nước này gần 80 năm sống trong một xã hội mà tôi phải nói xã hội bầy đàn, ai bảo gì thì cứ thế mà làm, ai bảo ăn gì thì ăn đó, ai bảo xem gì thì xem đó, ai bảo nói gì thì nói đó, ai bảo không được làm cái này thì không được làm… tóm lại, xã hội này, đất nước này có thể nói là nó chả giống ai cả, kể cả cách của người lãnh đạo cũng như của người bị lãnh đạo. Cho nên mọi người chỉ trông chờ. Nói thật, lắm lúc tôi buồn, tôi chán lắm, đất nước này cho đến ngày hôm nay thằng Tàu nó chỉ huy được đủ mọi mặt, nó vào tận Cà Mau, nó lên đến Tây Nguyên, nó lên than Móng Cái, ba tỉnh biên giới coi như của nó rồi, nó sờ sờ ra đấy. Bây giờ vào một tiệm ăn ở Hà Nội hay một tiệm ăn ở Sài Gòn, chúng ta thấy người ta nói tiếng Tàu, kẻ đó là ai, kẻ đó toàn là Tàu nó đi chơi, nó đi làm gì thì ai biết được. Nó sang nó cứ tụ tập ở những chỗ này chỗ khác rất nhiều.

Bi quan. Tôi đánh giá là hiện nay chưa có một sự chuyển động gì lạc quan. Thời điểm này chưa đến nỗi phải gọi là khủng bố trắng, nhưng hiện nay là khủng bố hồng, khủng bố đỏ… đang lù lù đấy.

- ÐQAThái: Nếu bây giờ lại xảy ra những cuộc biểu tình chống Trung Quốc nữa thì nhạc sĩ có tham dự không?

- Nhạc sĩ Tô Hải: Tôi hiện nay đau yếu nên có lẽ khó đi lắm. Hai năm qua sức khỏe tôi xuống lắm. Nếu mà tôi khỏe thì tôi nói thật, tôi đi ngay.

- ÐQAThái: Cảm ơn nhạc sĩ đã trả lời phỏng vấn của Người Việt.

 

 

ĐÁP LỜI SÔNG NÚI

 

-
FREEDOM FOR VIETNAM

TỰ DO DÂN CHỦ CHO VIỆT NAM 

 

BẢN TUYÊN NGÔN ĐỘC LẬP CỦA DÂN TỘC VIỆT

 

“NAM QUỐC SƠN HÀ NAM ĐẾ CƯ

TIỆT NHIÊN ĐỊNH PHẬN TẠI THIÊN THƯ

NHƯ HÀ NGHỊCH LỖ LAI XÂM PHẠM

NHỮ ĐẲNG HÀNH KHAN THỦ BẠI HƯ !!!”

LÝ THƯỜNG KIỆT

SÔNG NÚI TRỜI NAM CỦA NƯỚC NAM

SÁCH TRỜI ĐỊNH RÕ TỰ MUÔN NGÀN

CUỒNG NGÔNG GIẶC DỮ VÀO XÂM LẤN

CHUỐC LẤY BẠI VONG LẤY NHỤC NHẰN!

Phạm Trần Anh cẩn dịch

BÌNH NGÔ ĐẠI CÁO

TUYÊN NGÔN CỦA DÂN TỘC VIỆT

 

Việc nhân nghĩa cốt ở yên dân

Điều đầu tiên phải lo trừ bạo

Chỉ nước Đại Việt ta từ trước

Mới có nền văn hiến ngàn năm

Nước non bờ cõi đã chia

Phong tục nước ta cũng khác

Từ Triệu, Đinh, Lý, Trần

Đã bao đời dựng xây nền độc lập

Cùng Hán, Đường, Tống, Nguyên …

Mỗi bên hùng cứ một phương

Tuy mạnh yếu có lúc khác nhau

Song hào kiệt đời nào cũng có …

 

NGUYỄN TRÃI

 

 

DI CHÚC MUÔN ĐỜI !

 

                  

Các người chớ quên, chính nước lớn mới làm những điều bậy bạ, trái đạo. Vì rằng họ cho mình cái quyền nói một đường làm một nẻo. Cho nên cái họa lâu đời của ta là họa Trung Hoa. Chớ coi thường chuyện vụn vặt xảy ra trên biên ải. Các việc trên, khiến ta nghĩ tới chuyện khác lớn hơn. Tức là họ không tôn trọng biên giới qui ước. Cứ luôn luôn đặt ra những cái cớ để tranh chấp. Không thôn tính được ta, thì gậm nhấm ta.

 


Họ gậm nhấm đất đai của ta, lâu dần họ sẽ biến giang san của ta từ cái tổ đại bàng thành cái tổ chim chích. Vậy nên các người phải nhớ lời ta dặn:

 


” Một tấc đất của tiền nhân để lại, cũng không được để lọt vào tay kẻ khác “.

Ta muốn lời nhắn nhủ này như một di chúc cho con cháu muôn đời sau.”


Quá khứ là gốc rễ của tương lai , rễ càng đâm sâu thì cây mới vững vàng và càng vươn cao.

TRẦN NHÂN TÔN

(1279-1293)

 

 

Đánh cho được đen răng

Đánh cho  được dài tóc

Đánh cho quân giặc tan tành

Đánh cho ngựa xe tơi tả

Đánh cho lịch sử phải ghi

Đất nước anh hùng ta có chủ …

QUANG TRUNG ĐẠI ĐẾ

 

Công dân ơi, đứng thẳng người lên! 

 

Hình: Blog Công Lý & Sự Thật

 

Blogger Uyên Vũ

Khi đứng giữa một rừng cánh tay đang vung lên, đứng giữa những tiếng hô vang dội xuất phát từ những lồng ngực tuổi trẻ đầy nhiệt huyết hôm ấy. Tôi bỗng rưng rưng và không thể kìm nén tôi đã nắm tay thật chặt để hòa mình trong nhịp thở sục sôi của tình yêu nước. Ðó là ngày 09 Tháng Mười Hai 2007, ngày mà cùng với những người yêu nước ở Hà Nội, chúng tôi bày tỏ nỗi căm giận khi tổ quốc bị coi thường, khi mảnh đất thấm máu bao thế hệ cha ông có nguy cơ bị chiếm đoạt.

Hai năm đã trôi qua, tôi vẫn nhớ rất rõ hình ảnh về các cuộc biểu tình tại Sài Gòn. Sau khi nhà cầm quyền Trung Quốc ra quyết định thành lập thành phố cấp huyện Tam Sa thuộc tỉnh Hải Nam, để trực tiếp quản lý 3 quần đảo trên biển Ðông gồm hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam. Lập tức, giới blogger mà chủ yếu là sinh viên đã rầm rập xuống đường, ngay trung tâm Sài Gòn, trước cửa lãnh sự quán Trung Quốc. Thông điệp của chúng tôi hết sức rõ ràng: “Hoàng Sa, Trường Sa là của Việt Nam”, thông điệp ấy để trả lời cho mọi ý định xâm lược dù một tấc đất của tổ quốc Việt Nam. “Quốc gia hưng vong, thất phu hữu trách”, chúng tôi tự cảm thấy phải lên tiếng như tự cảm thấy giòng máu Lạc Hồng vẫn chảy trong huyết quản. Từ thế giới “ảo” của mạng Internet, từ những ánh nhìn bỡ ngỡ ban đầu, chúng tôi mau chóng nối kết và cất chung một tiếng nói. Dễ hiểu là chỉ có lòng ái quốc nồng nàn mới có khả năng kỳ diệu như vậy.

Trước đó, giới blogger non trẻ và hào hứng chúng tôi gần như chẳng quen biết nhau, chỉ là những nhóm nhỏ rủ nhau đi cafe, rủ nhau dã ngoại tìm chút niềm vui và thư giãn. Cũng từ lâu, qua mạng lưới truyền thông, tin về các vụ bắn giết, cướp bóc, tống tiền các ngư dân Việt Nam đã bắt đầu khơi dậy lòng phẫn uất, ý thức phản kháng lại kẻ thù xâm lăng. Lời tuyên bố của Quốc Vụ Viện Trung Quốc chính là ngòi nổ cho khối căm hờn bộc lộ. Liên tục vài ngày, thông điệp “Trường Sa, Hoàng Sa là lãnh thổ của Việt Nam, mãi mãi là như thế” luôn lặp lại trên các blog, diễn đàn và truyền đi trong tin nhắn nhanh IM.

Lần đầu tiên sau 32 năm, sinh viên và thanh niên Sài Gòn đã xuống đường bày tỏ thái độ. Dĩ nhiên, dù ngây thơ đến đâu thì ai cũng biết không phải vì biểu tình mà Trung Quốc sẽ trao trả Hoàng Sa, Trường Sa lại cho Việt Nam. Nhưng nếu chấp nhận im lặng cũng có nghĩa là để mặc mảnh đất cha ông bị xâm lấn, là cúi đầu trước mọi dã tâm của ngoại bang. Lịch sử Việt Nam còn đó, là lịch sử của một dân tộc chưa bao giờ biết khuất phục. “Giặc đến nhà, đàn bà cũng phải đánh”, hai ngàn năm trước Hai Bà Trưng đã đứng dậy đánh đuổi thái thú Tô Ðịnh, Bà Triệu dẹp quân Ngô. Một nghìn năm dân ta bị đô hộ còn đó, nếu khuất phục sẽ không thể có một nước Việt Nam như hôm nay. Từ mỗi người dân Việt đều lưu giữ gương anh hùng của Ngô Quyền đánh Nam Hán, của Lý Thường Kiệt phá Tống. Lịch sử còn đó, đại quân của Thành Cát Tư Hãn, Hốt Tất Liệt dù chiếm đoạt bao thành lũy địa cầu, dù mộng bá chủ nhân loại tưởng chừng sắp đạt vẫn phải ngậm hờn với anh hùng Trần Hưng Ðạo, còn đó Lê Lợi dẹp tan quân Minh, Quang Trung vùi thây quân Thanh… Còn nhiều lắm những gương anh hùng bất khuất. Tổ quốc Việt Nam không cho phép thế hệ nào quên, vì mỗi tấc đất đều thấm đầy máu, mồ hôi và nước mắt tiền nhân.

Nếu dân Việt cam chịu cúi đầu khuất phục, tôi tự hỏi làm sao có một Nguyễn Trãi với “hận Nam Quan” biến thành Bình Ngô Ðại Cáo? Nếu cam chịu quỳ gối, thì ngoài Trung Quốc chắc chắn sẽ còn nhiều dân tộc nữa sẽ khinh rẻ Việt Nam. Không một bài học lịch sử trong nhà trường nào lại sinh động cho bằng chính các em sinh viên dõng dạc đọc to giữa phố phường Sài Gòn bài “Nam Quốc Sơn Hà” của Lý Thường Kiệt, bài “Hịch Tướng Sĩ” của Trần Hưng Ðạo. Những người trẻ Sài Gòn dù bình thường có thể chỉ mải học, mải chơi nhưng khi ngoại bang đụng đến giang sơn, họ sẽ biến thành những rường cột chống đỡ nước nhà và sẵn sàng liều mình cho tổ quốc. Chỉ có tình yêu nước mới “khích động” được họ liều mình như vậy. Máu của bao con dân Việt đã đổ ra chính ngay tại Hoàng Sa, Trường Sa và mới đây tàu của ngư dân Việt còn bị nhận chìm, xác dân Việt còn bị quăng xuống biển. Nếu khom lưng quỳ gối, Việt Nam đã thành một trong các chư hầu, hay một quận huyện của Trung Quốc từ lâu đời. Và tôi chợt nhớ câu thơ của Marat: “Người ta lớn bởi vì ngươi quỳ xuống. Công dân ơi, hãy đứng thẳng người lên”. Ðứng thẳng người là mệnh lệnh để đất nước trường tồn.

Tôi cũng tự hỏi nếu thanh niên Việt Nam không bày tỏ thái độ, thì liệu hôm nay vấn đề lãnh thổ, vấn đề biển Ðông có được dư luận quan tâm rộng rãi như hôm nay? Sau các cuộc biểu tình là hằng hà sa số bài viết hâm nóng diễn đàn, sục sôi trên các websites, blogs, mở mạng Youtube gõ chữ Hoàng Sa, Trường Sa là bao nhiêu video clips hừng hực khí thế. Hẳn nhiều người còn nhớ, Trung Quốc công khai đăng báo đòi “xóa sổ Việt Nam trong vòng 21 ngày”, đòi giải quyết Việt Nam bằng bạo lực… Mới đây, bình luận trên nhật báo Giải Phóng Quân Nhân Dân (Trung Quốc) ngày 12 Tháng Ba 2009, Ðại Tá Giải Phóng Quân Trung Quốc Hoàng Thôn Luận (một nhà báo có tên tuổi) viết: “…Quyền lợi quốc gia của Trung Quốc vượt xa ra ngoài biên cương lãnh thổ, vùng trời, vùng biển của Trung Quốc, bao gồm cả các vùng đại dương bao la nơi các tàu chở dầu của Trung Quốc qua lại, cũng như không gian vũ trụ… Quyền lợi quốc gia Trung Quốc mở rộng đến đâu, sứ mệnh của lực lượng vũ trang của chúng ta (Trung Quốc) được mở rộng đến đấy…! Ðứng trước nhiệm vụ lịch sử mới, lực lượng vũ trang của chúng ta (Trung Quốc) không chỉ bảo vệ biên giới lãnh thổ, mà còn phải bảo vệ biên giới quyền lợi quốc gia của chúng ta”. Thử hỏi thanh niên Việt Nam có thể ngồi yên? Chiến tranh biên giới 1979, Trung Quốc muốn “dạy cho Việt Nam một bài học” thì cũng được đáp trả bằng một bài học đích đáng khác. Ngay lúc này, báo điện tử Tuần Việt Nam có cả một chuyên mục về vấn đề biển Ðông và luôn được độc giả đọc nhiều nhất. Ai cũng biết tranh luận tại các hội nghị, đàm phán tại bàn ngoại giao là các phương pháp giải quyết vấn đề cần thiết. Song bày tỏ thái độ bằng hành động như tăng cường quốc phòng, hỗ trợ cho người lính canh đảo cũng bức thiết không kém và nhất là khơi dậy tình yêu tổ quốc, ý thức bảo vệ chủ quyền cho mỗi công dân còn hiệu quả hơn. Hai năm trước, chúng tôi tham gia biểu tình cũng là một cách bày tỏ thái độ một cách ôn hòa.

Nhưng nhiệt tình của thanh niên Việt Nam từ Hà Nội đến Sài Gòn đã bị từ chối, các cuộc biểu tình ôn hòa tắt ngấm. Tôi mất việc đến hôm nay, nhiều người khác mất chỗ ở, mất việc làm kiếm sống. Những người hăng say nhất lại bị gặp khó khăn nhiều nhất. Có người bỏ nước ra đi… Những tấm lòng yêu nước nhìn nhau e dè. Nhưng tôi vẫn tin, dù chỉ là những cánh én nhỏ nhoi, những người thanh niên đầy sức sống ấy đã báo hiệu là Mùa Xuân của tổ quốc Việt Nam đang về. Tôi tin mỗi người dân Việt sẽ quyết không chấp nhận mất dù chỉ là một mẫu đất nhỏ của cha ông.

Uyên Vũ

 

 

 

Khi thanh niên Việt lên tiếng bảo vệ tổ quốc
Tuesday, December 08, 2009
 

 

 
 

 

Công an, cảnh sát đứng canh giữ Tòa Tổng Lãnh Sự, trong hình có những cấp bậc từ thiếu úy tới thiếu tá. (Hình: Blog Hồ Lan Hương)

Nhà thơ Lynn Bacardi giúp căng bức tranh biếm họa của sinh viên kiến trúc Kim Duy tố cáo âm mưu bành trướng của Trung Quốc tại biển Ðông. (Hình: CLB Nhà Báo Tự Do)

Biểu ngữ làm bằng nhiều tờ giấy ghép lại: “China, Stop your Invasion Act” – “Trung Quốc: Ngưng ngay hành động xâm lược.” (Hình: CLB Nhà Báo Tự Do)

Từ bên trong Tòa Tổng Lãnh Sự, nhân viên Trung Quốc chụp hình đoàn biểu tình. (Hình: CLB Nhà Báo Tự Do)

 

Hình bên: Hai năm trước, ngày 9 tháng 12 năm 2007, hàng trăm thanh niên sinh viên tại cả Hà Nội và Sài Gòn biểu tình trước cơ quan ngoại giao của Trung Quốc, khẳng định chủ quyền Việt Nam tại hai quần đảo Trường Sa, Hoàng Sa. (Hình: Blog Hồ Lan Hương)

Kỷ niệm 2 năm ngày biểu tình Trường Sa-Hoàng Sa

Xuống đường ở Hà Nội, Sài Gòn, ngày 9 tháng 12 năm 2007

Vũ Quí Hạo Nhiên/Người Việt

SÀI GÒN (NV) – Ðúng ngày này, hai năm trước, hàng ngàn sinh viên ở cả hai đầu nước Việt Nam nườm nượp xuống đường biểu tình tại Hà Nội và Sài Gòn, khẳng định chủ quyền Việt Nam trên hai quần đảo Trường Sa, Hoàng Sa, và phản đối việc Trung Quốc dự định lập huyện đảo Tam Sa. Cuộc biểu tình tự phát có một không hai gây tiếng vang to lớn và vẫn còn ảnh hưởng tới ngày hôm nay. Nhiều người từng trực tiếp tham gia cho rằng cuộc biểu tình này dẫn đến sự thay đổi trong suy nghĩ của giới trẻ, trong nhận thức của người dân, và cả trong hành động của nhà cầm quyền.

Biến cố thúc đẩy thanh niên Việt Nam lên tiếng đòi biểu tình là một quyết định của Quốc Hội Trung Quốc thành lập Tam Sa. Theo tin tức nhận được khi đó, Tam Sa sẽ là một thành phố cấp huyện, thuộc tỉnh Hải Nam, có thẩm quyền với quần đảo Hoàng Sa (Trung Quốc gọi là Tây Sa) và Trường Sa (Nam Sa) của Việt Nam. Cùng lúc đó, xuất hiện nhiều hình ảnh bản đồ Trung Quốc đòi chủ quyền trên toàn bộ biển Ðông theo đường “lưỡi bò.” Hai tin tức trùng hợp này lan tràn nhanh chóng trên Internet, gây phẫn nộ trong giới dùng Internet nhiều nhất tại Việt Nam, là thanh niên sinh viên.

Nguyễn Ðình Thắng là một thanh niên đã tham gia cuộc biểu tình tại Sài Gòn ngày Chủ Nhật 9 tháng 12 năm 2007. Anh thú nhận, “lúc đầu cũng không nghĩ là có biểu tình.” Ðến khi ra tận nơi, thấy sinh viên tập trung rất đông, Thắng mới thấy cuộc biểu tình có diễn ra thật và anh nhập cuộc.

Tới sớm hơn Thắng là Thảo, một nữ sinh viên cũng biết về cuộc biểu tình qua các trang blog. Thảo cho báo Người Việt biết cô tham gia vì biển Ðông “là vấn đề em quan tâm.” Thảo tới sớm, tới từ trước 8 giờ, trong khi lời kêu gọi biểu tình lúc 9 giờ sáng.

Ngay từ lúc gởi xe cách địa điểm biểu tình khoảng 50m, đi bộ tới, cô đã thấy không khí “cũng lạ kỳ lắm. Quang cảng thì bình thường, nhưng con người bất bình thường.”

Tòa Tổng Lãnh Sự Trung Quốc nằm tại số 39 Nguyễn Thị Minh Khai, tức là gần ngã tư Hồng Thập Tự và Duy Tân cũ. Ngay từ lúc đi bộ qua số 4 Phạm Ngọc Thạch (Nhà Văn hóa Thanh Niên), Thảo đã nhận thấy “có nhiều nhóm người, vừa công an, vừa thường dân.” Phía trước Tòa Tổng Lãnh Sự chưa có ai. Thảo đứng quan sát.

Ðược một lúc, Thảo thấy có nhóm chăng cờ, có nhóm rút biểu ngữ trong túi ra. Lúc đó họ mới biết mặt nhau, mới biết là có sự hưởng ứng cho lời kêu gọi biểu tình, và cùng kéo về hướng Tòa Tổng Lãnh Sự.

Ngăn cản

Trước đó, nhà cầm quyền Việt Nam đã cố gắng ngăn chặn sinh viên đừng tham gia. Trong một công văn ký ngày Thứ Sáu, Tiến Sĩ Hà Quang Thụy – hiệu phó Ðại Học Công Nghệ thuộc Ðại Học Quốc Gia Hà Nội yêu cầu: “Cán bộ, sinh viên, học viên cao học trong trường thực hiện đúng chủ trương của đảng và nhà nước đối với sự kiện này để tránh bị kích động, lôi kéo thực hiện những hành động đi ngược chủ trương trên”.

Trong công văn, chủ trương của nhà cầm quyền Việt Nam được mô tả là: “Mong muốn tăng cường quan hệ láng giềng hữu nghị với Trung Quốc, chủ trương giải quyết hòa bình mọi tranh chấp giữa hai nước trên cơ sở tôn trọng pháp luật quốc tế”.

Người dân cũng nhiều người lo ngại vụ biểu tình. Thảo kể rằng cô đã “được cảnh báo trước là không nên đi.” Những lời cảnh báo này đến từ người thân, bạn bè; họ lo ngại là cô sẽ “bị để ý, bị gây khó khăn.”

Một số người bị yêu cầu đích danh không tham gia. Thạc sĩ Nguyễn Tiến Trung, lúc đó còn tự do, viết trên mạng rằng vào hôm Thứ Bảy, “an ninh, công an, đảng ủy quận, phương đến gia đình mình để ‘vận động’ mình không tham gia biểu tình.” Những người này tố cáo Trung là “có âm mưu kích động” cuộc biểu tình.

Nhạc sĩ Tô Hải, đã 80 tuổi, cũng cố gắng đến tham gia biểu tình nhưng bị chặn lại từ ngoài, không được cho vào.

Ngay tại địa điểm biểu tình, Thảo nhận thấy có một số giảng viên đại học được phái đến để “khuyên can sinh viên.”

Ðám đông nườm nượp

Bất kể ngăn chặn, rất nhiều thanh niên tham gia biểu tình. Ở Hà Nội, hơn 500 người tụ tập đối diện Tòa Ðại Sứ Trung Quốc tại số 46 Hoàng Diệu. An ninh mặc thường phục lẫn cảnh phục đứng dàn rất đông trước cửa tòa đại sứ và trong lòng đường Hoàng Diệu. Ðường phố chung quanh tòa đại sứ bị chặn lại không cho xe vào.

Tại đây, theo lời kể của blogger Người Buôn Gió, có lúc một người cầm loa nói: “Yêu cầu mọi người giải tán, việc này đã có chính phủ Việt Nam và Trung Hoa giải quyết.” Blog Người Buôn Gió kể: “Câu nói trịch thượng này khiến đám đông phẫn nộ, họ phản đối nhao nhao:

- Giải quyết gì, 30 năm nay rồi có giải quyết gì đâu.

- Không giải tán, quyền gì mà bắt chúng tôi giải tán.”

Tại Sài Gòn, “khi người đã bắt đầu đông rồi thì công an chặn lại không cho vô thêm nữa,” Thắng kể. “Có một số bạn đi ra mua nước uống, lúc quay về không trở vào trong được.”

Ðiều Thắng nói cũng giống lời kể trên blog “Công Lý và Sự Thật” của Tạ Phong Tần. Trên blog, cô cho biết một số thanh niên đi mua nước không được vào lại, nên thùng nước phải xé ra và từng chai nước được chuyển riêng lẻ vào trong.

Trong số những người ra sớm là Phan Thanh Hải, một luật gia mới xong giai đoạn tập sự và cũng là blogger Anhbasg. Hải nổi tiếng vì đoạn băng thu thanh tiếng Hải cố vấn cho sinh viên Kim Duy khi anh bị công an tịch thu xe, đòi khám nhà, đòi kiểm tra hộ khẩu, chỉ vì Kim Duy vẽ tranh biếm họa chống Trung Quốc xâm lược.

Hải kể lại cho báo Người Việt: “Buổi sáng, tôi tới ngồi cà phê hẻm 47 Phạm Ngọc Thạch cùng với nhóm văn nghệ sĩ, sau đó mọi người cùng rủ nhau đi.” Lúc Hải đến nơi thì vẫn còn vắng. Hải cũng thấy người này người nọ nhưng “không ai biết ai vì blog đâu ai biết mặt ai.”

Nhóm của Hải đứng bên ngoài Nhà Văn hóa Thanh Niên, chờ. Lúc đó, Hải thấy một nhóm người lấy ra một lá cờ Trung Quốc. Họ trải lá cờ xuống đất rồi thò chân giẫm lên, và chụp hình. Hải cũng ghé vào, xin được thò chân đạp lên chụp hình. “Chụp được vài tấm thì xuất hiện vài anh bảo vệ chỉ trỏ ‘Sao lại làm chuyện này.’” Họ bảo, “Tại sao cờ nước người ta lại giẫm lên?”

Lời qua tiếng lại, những người dân quân quay vào trong, có vẻ nhưng kêu thêm người. Một người bèn nhét lá cờ vào giấu vào đế giầy rồi lết đi. Lúc đó, cả nhóm cùng kéo về phía Tòa Tổng Lãnh Sự.

Ðám người biểu tình mỗi lúc mỗi đông. Bên kia đường, công an, cảnh sát chặn lại. Họ cấm, “Không được qua đây.” “Không được chụp hình.” Hải cãi, “Có bảng cấm chụp hình không?”

Nhưng rồi đoàn biểu tình cũng đồng ý đi qua bên kia đường, phía đối diện Tòa Tổng Lãnh Sự. “Mỗi người móc đồ chơi ra,” Hải kể. Nhiều người phất cờ. Rất nhiều biểu ngữ tự vẽ, và một số tranh biếm họa. Từ bên trong Tòa Tổng Lãnh Sự, một số nhân viên Trung Quốc chụp hình ra.

Biểu ngữ viết bằng nhiều thứ tiếng Việt, Anh, Hoa, tất cả đều một nội dung tương tự nhau:

“Trường Sa Hoàng Sa là của Việt Nam.”

“Ðảo Hoàng Sa & Trường Sa là của Việt Nam chúng tôi!!”

“Trung Quốc ngưng ngay hành động xâm lược.”

Nhà thơ Thận Nhiên, Việt kiều Mỹ, mặc áo thun với dòng chữ viết tay: “Môi Việt Nam thì mềm, răng Bắc Kinh là răng cá mập.”

Áo của nhà thơ Lynn Bacardi có dòng chữ, cũng viết tay: “Ðừng để chúng cắt rời H.Sa và T.Sa ra khỏi thân thể đất nước.”

“Không khí rất hào hùng phấn khởi,” Thắng kể. “Nó cứ như mọi người bị đè nén lâu rồi, muốn nói cũng không được nói,” bây giờ bùng ra.

Blogger Hồ Lan Hương viết rằng không khí rất “náo nhiệt.” Cô viết: “Trái tim của từng người nơi này rung lên niềm tự hào con dân nước Việt. Chúng tôi tất thảy đều căm phẫn bọn cầm quyền Bắc Kinh, sự căm phẫn được thoát ra từng lời hô khẩu hiệu, từng lời hát thúc giục lên đường chống lại bọn xâm lăng.”

Nhân vật đứng hàng thứ nhì trong chính quyền thành phố, phó chủ tịch thường trực ủy ban nhân dân Nguyễn Thành Tài, kêu gọi thanh niên bỏ hàng biểu tình, vào hội trường Nhà Văn hóa Thanh Niên nghe ông nói chuyện. Một số người đi theo, nhưng cũng nhiều người nhất định không đi, ở lại biểu tình. Phải đến sau 1 giờ trưa, cuộc biểu tình tự phát mới vãn.

Phản ứng: Thẩm vấn, bỏ tù

Sau một ngày tung cảnh sát, công an dàn trải khắp chỗ biểu tình nhưng không ngăn chặn gì, nhà cầm quyền Việt Nam bắt đầu siết mạnh.

Có người cho rằng Việt Nam phản ứng mạnh vì nhu cầu ngoại giao với Trung Quốc. Hai ngày sau vụ biểu tình ở Hà Nội và Sài Gòn, phát ngôn viên Bộ Ngoại Giao Trung Quốc lên tiếng: “Chúng tôi hy vọng chính phủ Việt Nam sẽ có thái độ trách nhiệm đồng thời có các biện pháp hiệu quả nhằm ngăn chặn những sự việc làm tổn hại đến quan hệ song phương như vậy.”

Trên thực tế, công an Việt Nam đã áp dụng biện pháp mạnh ngay từ hôm biểu tình. Cô Thảo kể, “Không cần chờ mấy hôm đâu, ngay hôm đó em vừa lấy xe ra là có người đến yêu cầu em về đồn công an phường ở chỗ đó rồi.” Cô không chịu, bảo, “Em đi từ sáng đến giờ chưa ăn gì, bây giờ phải ăn trước rồi đi đâu mới đi.”

Người công an bèn nói, về đồn, họ mua cơm cho ăn. Không còn lý do để từ chối, cô đành theo họ về đồn. Tại đây, một sĩ quan công an nói chuyện nhã nhặn, “có ý muốn em cung cấp thông tin, nhưng em nhất quyết từ chối,” cô kể lại. Xong, đi về, tưởng rằng thế là hết.

Một ít lâu sau, Thảo bắt đầu vào làm việc tại VietNamNet. “Mới vào làm, đã có mấy ông công an đến nói chuyện với sếp. Vậy là tự nhiên em nổi tiếng,” Thảo nói. “Sếp lúc đầu thấy vậy cũng muốn đuổi em, nhưng sau lại thôi.” Một năm sau, Thảo nghỉ làm ở VietNamNet, qua làm một công ty khác, thì không thấy công an làm gì.

Ðó là nhẹ. Ở Hà Nội, nhà văn Trang Hạ viết trong blog mình rằng cô bị công an phường bắt giữ gần 12 tiếng đồng hồ vì phát đề can in chữ “Hoàng Sa Trường Sa là của Việt Nam.”

Ở Sài Gòn, blogger Ðiếu Cày bị công an kêu lên kêu xuống nhiều lần, rồi cuối cùng bị bắt và bị kết án tù 2 năm rưỡi với tội danh trốn thuế, mặc dù quá trình tố tụng hoàn toàn đi ngược với thủ tục đối với tội danh này.

Nhà thơ/blogger Uyên Vũ từ sau vụ biểu tình bị công an tới thăm sở làm, rồi bị mất việc từ đó tới nay.

Phan Thanh Hải thì “ngay từ khoảng đó đã có công an khu vực tới tâm sự rồi.” Sau đó chừng một tuần có giấy mời, cũng là lúc giới blogger đang chuẩn bị cuộc biểu tình thứ nhì. Hải kể rằng anh “la ầm ĩ,” bảo với công an rằng “không đi đâu hết, không có mời mọc gì hết” – vì giấy mời là mời lên làm việc ngày Chủ Nhật, mà Chủ Nhật là ngày đã định đi biểu tình đợt nhì rồi. Hải nhất quyết không lên đồn như trong giấy mời.

Vài tháng sau, Hải thi đậu kỳ thi kết thúc tập sự luật sư. Ðoàn Luật Sư Thành Phố thông báo kết quả, mời dự lễ kết nạp. Nhưng cuối cùng thì chứng chỉ và thẻ luật sư bị Bộ Tư Pháp giữ lại. Sau nhiều lần khiếu nại qua lại, Bộ Tư Pháp mới có công văn, không gởi cho Hải mà gởi cho Ðoàn Luật Sư, nêu lý do Hải “biểu tình gây phá rối trật tự” và “lợi dụng quyền luật sư” ngược lại quyền lợi nhà nước.

Biện pháp ngăn ngừa: Chặn Internet

Từ sau vụ biểu tình này, nhà nước Việt Nam càng quan tâm hơn nữa tới việc ngăn chặn thông tin bằng đường Internet. Cuộc biểu tình ngày 9 tháng 12 cũng như lần thứ nhì ngày 16 tháng 12 đều do giới blogger khởi xướng và kêu gọi bằng blog, bằng email, bằng diễn đàn điện tử.

Biết vậy, nhà nước bắt đầu siết chặt các blog, và họ làm vậy bằng cách siết chặt cá nhân các blogger. Blogger Ðiếu Cày bị bắt đi tù. Rất nhiều blogger bị kêu lên thẩm vấn.

Sinh viên Nguyễn Ðình Thắng cho biết anh không bị khó dễ gì, nhưng theo anh đó là vì anh không viết blog. “Những người hoạt động mạnh mẽ trên mạng đều gặp rắc rối,” Thắng nói.

Cho tới hai năm sau, nhà nước Việt Nam vẫn duy trì thái độ cứng rắn đối với người sử dụng Internet.

Vào Tháng Năm, năm 2009, doanh gia Trần Huỳnh Duy Thức bị bắt, cùng lúc với Luật Sư Lê Công Ðịnh, vì thông tin đưa trên trang blog Change we need.

Thạc Sĩ Nguyễn Tiến Trung bị bắt vào Tháng Tám. Anh được biết nhiều với những bài viết trên mạng, trên các trang diễn đàn, cũng như trên trang blog cá nhân.

Nhà báo Huy Ðức, nổi tiếng với trang blog Osin, bị cắt hợp đồng với báo Sài Gòn Tiếp Thị.

Hai blogger Mẹ Nấm và Người Buôn Gió cũng bị bắt rồi được thả vì bài viết trên Internet báo động về ảnh hưởng của Trung Quốc trong vụ khai thác bô-xít.

Nhạc sĩ Tô Hải vào Tháng Chín bị cắt Internet. Nhân viên hãng Internet nói thoái thác với ông rằng “đường dây bị mục nát cần sửa chữa.”

Tới gần đây, khi số người Việt Nam sử dụng trang mạng xã hội Facebook lên tới trên 1 triệu người, nhà nước Việt Nam bắt đầu chặn trang này.

Cuộc biểu tình ảnh hưởng tư duy người dân

Mặc dù người biểu tình bị gây khó khăn rất nhiều, tất cả những người từng tham gia biểu tình đều cho rằng việc làm của họ có tác động lớn tới người dân, tới thanh niên sinh viên.

Thắng cho rằng cuộc biểu tình “có ảnh hưởng.” Biến cố này “báo động đến người dân, những người không biết về Trường Sa Hoàng Sa thì bây giờ biết.” Thắng cũng cho rằng cuộc biểu tình đã tác động lên nhà cầm quyền, “gây áp lực lên chính quyền, làm cho họ không thể nhu nhược mãi.”

Ðối với thanh niên sinh viên, cuộc biểu tình của hai năm trước đã “đánh thức lòng yêu nước,” nhắc nhở họ là Trung Quốc rất mạnh, “từ đời nào tới giờ chuyên dùng vũ lực,” nhắc nhở đề phòng Trung Quốc và “dã tâm lấy hết biển Ðông,” theo lời Thắng.

Thảo cũng cho rằng cuộc biểu tình có mặt ảnh hưởng tích cực là “số người biết về lãnh thổ Việt Nam, về biển đảo, được nhân rộng ra.” Mặt khác, Thảo bi quan về phương pháp biểu tình. Cô cho rằng biểu tình khiến nhà nước phản ứng mạnh, “việc khác bị khó khăn.” Tuy nhiên, cô khẳng định cô “không có gì để tiếc,” vì mục tiêu yêu nước là chính đáng.

Thảo còn tiên đoán, nếu vụ Tam Sa xảy ra ngày hôm nay, “số lượng đi biểu tình sẽ đông hơn, một phần vì nhận thức cao hơn, một phần vì quan tâm nhiều hơn.” Cô nói, “Chưa đụng tới thì chưa đi,” chứ đụng tới thì thanh niên sinh viên sẽ đi.

Phan Thanh Hải đánh giá, “Cuộc biểu tình đem lại giải tỏa tâm lý và không khí hào hứng, phấn chấn cho rất nhiều người.” Cuộc biểu tình cho người ta cơ hội bộc lộ vụ “mất đất, mất biển, mất đảo.”

Hải còn cho rằng cuộc xuống đường Trường Sa – Hoàng Sa ngày 9 tháng 12 năm 2007 đã phá tan thành kiến về việc biểu tình. “Biểu tình ở Việt Nam là chuyện gì ghê gớm lắm,” Hải nói, nhưng nay thì khác. “Không còn là điều cấm kỵ nữa. Ở nước khác, khi mà người dân có một suy nghĩ, tâm tư nguyện vọng muốn đề bạt lên thì họ đi biểu tình thôi.”

Cuộc biểu tình hai năm trước cũng mở ra hàng loạt thông tin. Nhà nước đã phải “công khai dần những chuyện biên giới,” theo Hải. “Người dân quan tâm nhiều hơn trước rất là nhiều.”

Bởi vì, theo lời người blogger lấy tên Anhbasg, “Trung Quốc là nỗi ám ảnh mấy ngàn năm với dân tộc Việt Nam.”

Ðạo diễn Song Chi nói về cuộc biểu tình 9 tháng 12, 2007
Tuesday, December 08, 2009
 
 

 

 
   
 

 

 

Ðạo diễn Song Chi.

Họa sĩ Trịnh Cung bế con 1 tuổi tham gia biểu tình. (Hình: Blogger Hồ Lan Hương)

 

Ðinh Quang Anh Thái/Người Việt

Ðạo diễn Song Chi hiện sống tại Na Uy. Ngày 9 tháng 12 năm 2007, Song Chi có mặt trong cuộc biểu tình tại Sài Gòn chống Trung Quốc.

- ÐQAThái: Hôm nay, hồi tưởng lại sự kiện hai năm trước, khi chị tham dự cuộc biểu tình, chị có thể mô tả lại tâm trạng của chị cũng như là quang cảnh lúc đó ra sao?

- Song Chi: Cuộc biểu tình xuất phát từ sáng kiến của các blogger, các bạn trẻ trên mạng, chủ yếu do các bạn trẻ, các bạn đã hẹn nhau vào ngày đó để biểu tình phản đối Trung Quốc quyết định thành lập cái quận Tam Sa trên đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Còn với văn nghệ sĩ trí thức thì vào đêm trước hôm đó, bọn Chi gồm có một số anh em văn nghệ sĩ đang ngồi uống cà phê hỏi nhau là mọi người có biết ngày mai các bạn trẻ chuẩn bị biểu tình chống Trung Quốc hay không. Thì lúc đó nhiều người kể cả Chi cũng chưa biết nữa kia. Bọn này còn nói đùa là biểu tình chống đảng Cộng Sản Việt Nam thì chắc là sẽ xuống đường …

- ÐQAThái: Xin lỗi ngắt lời chị là chị vừa nói là “nếu biểu tình chống đảng Cộng Sản Việt Nam thì biểu tình”?

- Song Chi: Vâng, bọn Chi còn nói với nhau như vậy. Lúc đó còn bảo biểu tình chống Trung Quốc hả, nếu biểu tình chống Cộng Sản Việt Nam thì bọn này xuống đường ngay. Ngồi nói đùa như thế nhưng mà sáng hôm sau thì bọn Chi một số văn nghệ sĩ trí thức kể cả Trịnh Cung, Thanh Duyên, Tuấn Khanh, Hà Vũ Trọng… nói chung rất là nhiều, đều đi ra. Ðầu tiên đi ra để xem tình hình như thế nào, ngày đầu tiên là như vậy.

Ðến khi đi xuống khu vực ở phía trước tổng lãnh sự quán của Trung Quốc tại Sài Gòn, buổi sáng hôm đó cũng thấy là khá đông các bạn trẻ đã tập họp ở đó rồi, đã chuẩn bị tất cả các biểu ngữ, băng rôn nọ kia thấy rất là hào hứng, thế là anh em văn nghệ sĩ nhập cuộc luôn, vào đứng với các bạn. Lúc đó buổi đầu tiên như vậy là thành công, phải nói là lúc đó nhà nước cũng bất ngờ, chưa có chuyện gì xảy ra. Buổi sáng hôm đó là Chủ Nhật thì diễn ra được mấy tiếng đồng hồ như vậy tất cả biểu tình rồi hát, hô biểu ngữ ở phía trước, ngay bên ngoài của tòa tổng lãnh sự quán Trung Quốc, bên trong thì thỉnh thoảng thấy mấy người nhân viên của phía bên lãnh sự quán Trung Quốc họ thò đầu ra họ nhìn thôi, còn nói chung là buổi sáng hôm đó không gặp trở ngại nào.

- ÐQAT: Thưa chị, sứ quán Trung Quốc ở Sài Gòn nằm ở đường nào?

- Song Chi: Ðường Nguyễn Thị Minh Khai bây giờ, hồi xưa là Hồng Thập Tự, góc của nó ngay tại đường Phạm Ngọc Thạch, tức là ngày xưa góc đường Hồng Thập Tự và Duy Tân, rất gần nhà văn hóa thanh niên.

- ÐQAThái: Số người biểu tình sáng hôm đó có đông không?

- Song Chi: Cũng hơn trăm người, dân chúng đi qua rất là ngạc nhiên vì hồi nào đến giờ chưa thấy có một cuộc biểu tình như vậy. Quần chúng đi ngang họ cũng tò mò, có nhiều người dừng lại, có người cũng đứng lại luôn, rồi có người đi ngang cũng đọc các biểu ngữ. Buổi sáng đó phải nói là thành công, rồi anh em văn nghệ sĩ hào hứng lắm, Tuấn Khanh còn cầm loa chạy tới chạy lui, rồi Trịnh Cung đưa cả con đi mà mọi người nói đùa Trịnh Cung là một trong những người biểu tình lớn tuổi nhất mà con nhỏ nhất.

- ÐQAThái: Cháu bé mới sinh ra phải không?

- Song Chi: Không, Chi nhớ không lầm là cháu bé một tuổi rồi. Nhưng mà sau này mới biết nhạc sĩ Tô Hải còn lớn tuổi hơn họa sĩ Trịnh Cung. Buổi sáng đầu tiên là như vậy, phải nói rõ ràng đó là sáng kiến của các blogger trên mạng chứ không phải là sáng kiến của anh em văn nghệ sĩ. Sau đó thì anh em văn nghệ sĩ mới tham dự, trước hết là để coi cái đã, thấy có không khí thì đứng vào luôn.

Cho đến trưa thì bên chính quyền tức là ông chủ tịch thành phố, mời tất cả các bạn trẻ vào trong nhà Văn hóa Thanh Niên để trò chuyện và còn hứa cho các bạn biểu tình về vấn đề Trung Quốc chiếm Hoàng Sa, Trường Sa. Sau đó thì lời hứa đó chính quyền đương nhiên là không thực hiện vì họ hứa để cho sinh viên học sinh yên tâm họ ra về thôi.

Ðến Chủ Nhật sau thì các bạn lại biểu tình tiếp. Lúc đó thì giới nghệ sĩ là đông lắm và các bạn trẻ rất là đông, và bị khó khăn rồi. Hôm đó ngay trước khu vực tổng lãnh sự quán Trung Quốc, họ để sẵn những bảng “cấm tụ tập” rồi, họ không cho đứng khu vực đó, và nguyên khu vực đó buổi sáng có xe cảnh sát, xe các loại. Ngay lúc đó thì các bạn trẻ chuyển qua tập trung ở công viên trước Dinh Ðộc Lập cũ ngày xưa, tức Dinh Thống Nhất bây giờ và tập họp ngay đó. Tình hình khó khăn hơn rất nhiều, còn văn nghệ sĩ thì tất cả những ai mà người ta thấy mặt là người ta không cho qua phía bên kia, người ta bắt ngồi phía bên có quán cà phê vỉa hè trước nhà văn hóa Thanh Niên. Ngay cả nhà Văn hóa Thanh Niên hôm đó họ cũng dẹp luôn, họ không cho mở cửa vì họ sợ là lượng người từ trong nhà Văn hóa Thanh Niên ra thì sẽ đông hơn nữa. Ngay khi bắt đầu tụ tập thì từ khắp nơi công an mặc sắc phục có, thường phục có, rồi những người gọi là dân quân mặc đồ xanh cũng có nữa, xuất hiện và bao vây trong phạm vi hẹp, không cho lan rộng. Sau đó là giằng kéo qua lại, đẩy qua đẩy lại giữa các tự vệ với các anh em sinh viên học sinh, giằng qua giằng lại và cuộc biểu tình diễn ra rất là khó khăn. Thậm chí họ dùng đủ mọi cách, họ để những chiếc xe phá sóng để mà phá sóng điện thoại rồi họ bao vây khu vực đó để người bình thường không đi vào khu vực đó làm đông người thêm; rồi họ chia cắt những người văn nghệ sĩ, bao vây các bạn ở khu công viên đó, rồi bắt đầu giằng kéo qua lại, rồi họ mời một số ông thầy, ông hiệu trưởng nọ kia xuống khuyên các bạn về đừng đi biểu tình, biểu tình ảnh hưởng tới việc học; thậm chí còn dọa các bạn là nếu cứ biểu tình như thế này thì sẽ ảnh hưởng tới hạnh kiểm, tới nọ kia.

Sáng đó Chi còn nhớ Chi đứng cãi nhau với một ông thầy ở trường nào đó Chi không biết. Chi cãi nhau với ông để bênh các bạn. Tình hình là như vậy. Khi mà công an bắt đầu đẩy các em sinh viên, bọn Chi còn cãi với họ rằng “Các anh làm gì thế, đây cũng chỉ là các em học sinh cũng là con em trong nhà của các anh biểu tình để chống Trung Quốc là hoàn toàn hợp lý mà các anh làm gì vậy?” Thế là họ phải ngưng lại nhưng mà họ cứ bao vây không cho di chuyển ra khỏi khu vực đó.

Coi như là lần thứ hai không được thành công. Kể cả lần thứ hai đó ở Hà Nội cũng vậy, chỉ có lần đầu tiên ở cả hai miền, hai thành phố Sài Gòn và Hà Nội là vì nhà nước bị bất ngờ thôi và đến lần thứ ba, Chủ Nhật lần thứ ba đó khi các bạn muốn tổ chức thì hoàn toàn không tổ chức được nữa. Ngay lần thứ hai thì một số khá đông văn nghệ sĩ bị mời lên để làm việc, như anh Cung Tích Biền, Hà Vũ Trọng rồi nhiều lắm đều bị công an mời lên để làm việc.

- ÐQAThái: Thưa chị Song Chi, bản thân chị khi xuống đường như vậy, chị có sẵn sàng để đối đầu với một tình huống như thế không?

- Song Chi: Thật ra là cuộc biểu tình của sinh viên học sinh cách đây 2 năm thì nó hoàn toàn là sáng kiến của giới trẻ bloger, nó là một chuyện hoàn toàn tự phát nhưng mà sau khi nó diễn ra thì không khí, tinh thần của các bạn trẻ diễn ra rất là mạnh mẽ, tinh thần yêu nước đó cũng làm cho giới trí thức văn nghệ sĩ cũng hào hứng, tất cả đều tham gia và cảm thấy những ngày đó có một không khí rất là lạ, thậm chí những Chủ Nhật kế tiếp cũng vậy, tất cả mọi người bị công an mời lên làm việc nhưng mà tất cả đều cho mọi chuyện rất là bình thường, không có gì phải sợ hãi cả, chỉ sợ cho các em sinh viên học sinh thôi. Bởi vì các em đều bị thầy cô giáo, hiệu trưởng gọi các em lên làm việc và họ còn làm việc với ba mẹ phụ huynh các em để gây khó dễ, chứ còn đối với văn nghệ sĩ chúng tôi chẳng có gì lo ngại cả. Ðối với các em thì ngay sau đó thì lập tức gặp rất nhiều vấn đề, còn đến lần thứ ba thì không khí rất là căng, những ngày đó chỉ có một nhúm sinh viên thôi, các bạn trẻ không có một tấc sắt trong tay mà người ta huy động bao nhiêu lực lượng nào là công an, nào là áo xanh áo vàng, nào là thường phục rồi đủ thứ sắc phục như thế rồi huy động cả xe phá sóng. Vào Chủ Nhật thứ ba thì vắng tanh, vắng ngắt ở khu vực đó rồi có những xe cam-nhông lớn chạy vòng quanh để mà bố ráp nữa, làm không khí rất là kinh khủng.

Thậm chí những ngày đó còn thấy rất nhiều những người Trung Quốc mặc thường phục, họ nói chuyện điện thoại mà nói toàn bằng tiếng Hoa, và họ nói chuyện liên tục có vẻ đang canh khu vực đó, thật là căng. Thực tế là các em sinh viên và dân trí thức biểu tình tay không một cách rất là hòa hoãn với một lý do hoàn toàn xuất phát từ lòng yêu nước nhưng mà họ tạo ra một không khí rất là căng thẳng, không khí y như một cuộc bố ráp vậy. Sau đó mãi đến tháng 1 mới đến nhóm của văn nghệ sĩ và nhóm các bạn trong câu lạc bộ nhà báo tự do biểu tình ở nhà hát thành phố.

- ÐQAThái: Chị đánh giá ảnh hưởng của những cuộc biểu tình đó đối với tinh thần yêu nước của đồng bào mình ra sao?

- Song Chi: Tôi cho là thế này, ở một đất nước tự do dân chủ thì chuyện biểu tình là chuyện rất là bình thường, nhưng ở một quốc gia không có dân chủ như Việt Nam thì chuyện biểu tình là chuyện hiếm hoi, và chính vì nó hiếm hoi cho nên nó tạo ra một cái gì đó rất là lạ trong những ngày đó. Các bạn trẻ tự nhiên cảm thấy mạnh mẽ hẳn lên, tinh thần rất là hăng hái, kể cả những người dân bình thường cũng vậy. Song Chi cho là những cuộc biểu tình như vậy thực sự tác động đến các bạn trẻ cũng như là đến những người dân rất là nhiều và người ta thức tỉnh về lòng yêu nước đã đành, kể cả cái chuyện người ta lên tiếng nói, nó có một ảnh hưởng như vậy. Chính điều đó nhà nước họ biết nên đó là lý do tại sao họ phải ngăn chặn, một phần là vì tránh làm mất lòng Trung Quốc, nhưng điều thứ hai họ sợ rằng bắt đầu chỉ là cuộc biểu tình chống Trung Quốc như vậy, nhưng sau đó nó phát triển thành cái gì khác thì không ai biết được. Vì thực tế là có những quốc gia có những cuộc biểu tình ban đầu chỉ với lý do tăng lương, muốn có ngày nghỉ cuối tuần gì đó, nhưng sau đó nó trở thành những chuyện khác thì không ai kiểm soát được, đó là điều mà họ lo sợ.

- ÐQAThái: Nếu bây giờ chị có cơ hội lên tiếng nói với giới trẻ, với văn nghệ sĩ ở Việt Nam thì chị sẽ nói gì về biến cố 2 năm trước?

- Song Chi: Thực ra khi còn ở trong lẫn khi ra nước ngoài, khi ngồi nói chuyện với bạn bè giới văn nghệ sĩ, có những lúc mình cảm thấy hằng ngày mình thấy bao nhiêu chuyện bức xúc như vậy, bao nhiêu điều mình muốn nói, bao nhiêu điều mình muốn làm mà không làm được. Và nhiều lúc bạn bè trong giới văn nghệ sĩ ngồi nói với nhau là người Việt Nam mình không biết đến bao giờ mới thay đổi được. Nếu người Việt Nam vẫn cứ hoặc là an phận, hoặc là lo đi làm kiếm tiền và né tránh tất cả những chuyện liên quan đến chính trị, hoặc là họ có một nỗi sợ hãi ăn sâu trong tiềm thức, sợ hãi chế độ và bàng quang đến việc nước, thì nói thất vọng thì hơi quá đáng nhưng không biết đến bao giờ người Việt Nam mới biết đến tự do dân chủ để mà đứng lên để quyết định số phận của đất nước như những dân tộc Ðông Âu và dân tộc Nga họ đã làm. Nhưng khi gặp những chuyện như Trung Quốc, Hoàng Sa, Trường Sa thì mới phát hiện ra một điều là người Việt bên trong họ vẫn có những nỗi niềm băn khoăn với đất nước, quan tâm đến số phận của đất nước, họ vẫn có những nỗi niềm, nhưng chẳng qua chỉ chưa đến lúc đó thôi, chứ đến lúc thì mình mới thấy điều đó thể hiện ra và rõ ràng. Bằng chứng là càng ngày càng nghe được nhiều tiếng nói phản kháng ở trên mạng cho phép chúng ta hy vọng người Việt thật sự ra họ vẫn quan tâm đến số phận của đất nước và sẽ có một ngày đất nước thay đổi.

- ÐQAThái: Với đồng bào, văn nghệ sĩ và thanh niên tại hải ngoại, chị có tâm sự gì muốn nói không?

- Song Chi: Vừa rồi Chi có đi qua một số nước, một số thành phố, Chi đi qua Berlin của Ðức, đi qua Praha của Tiệp và đi qua Varsava của Ba Lan nhân dịp kỷ niệm 20 năm bức tường Berlin sụp đổ và 20 năm không còn chủ nghĩa Cộng Sản tại các quốc gia đó. Lúc đầu khi nhìn qua thì mình có cảm giác như khi mình ở trong nước. Ðó là cảm giác người Việt ở trong hay ở ngoài dường như chỉ quan tâm đến số phận của mình, số phận của gia đình mình, chỉ lo kiếm tiền, họ không quan tâm đến chuyện gì khác. Nhưng thực tế không phải như vậy. Ðến khi tiếp xúc với người này người kia thì vẫn cảm thấy ở bên trong tất cả vẫn có một nỗi niềm chung với tương lai số phận của dân tộc, điều đó là điều Chi tin rằng một ngày nào đó đất nước sẽ thay đổi. Mỗi người có một số phận riêng, và tính cách mỗi người góp phần tạo nên số phận đó thì một dân tộc cũng vậy, tính cách của dân tộc sẽ góp phần làm nên số phận của dân tộc đó. Dân tộc Việt Nam có một số nhược điểm đã làm nên bi kịch của đất nước, trong đó có sự chia rẽ, thiếu đoàn kết chẳng hạn, giá như mà người Việt biết được những nhược điểm của mình, bỏ qua những điều đó đoàn kết với nhau lại và một lòng thì chắc chắn tương lai, số phận đất nước sẽ thay đổi. Dân tộc Ba Lan hồi đó có đến hơn 10 triệu người Ba Lan ở nước ngoài, họ đã gởi tiền để ủng hộ cho phong trào công nhân nhân trong nước ở Ba Lan. Theo Chi được biết thì không có một tổ chức đảng phái nào cả, tất cả tập trung sức lực cho phong trào Công Ðoàn Ðoàn Kết thôi và cuối cùng là họ làm được điều mà họ muốn làm. Giá như mà người Việt cũng làm được điều như vậy.

- ÐQAThái: Cám ơn đạo diễn Song Chi đã dành thì giờ cho cuộc phỏng vấn của chúng tôi.

 
 

 

 
Phỏng vấn nhạc sĩ Tô Hải về biểu tình Trường Sa-Hoàng Sa
Tuesday, December 08, 2009
 
 

 

 
   
 

 

 

Hình nhạc sĩ Tô Hải đăng trong cuốn Hồi Ký Một Thằng Hèn.

 

‘Phải cố mà làm không sợ gì cả’

Ðinh Quang Anh Thái/Người Việt

Cách đây đúng 2 năm, vào ngày mùng 9 tháng 12 năm 2007, tại Sài Gòn và Hà Nội, một số thanh niên, sinh viên, học sinh, trí thức, văn nghệ sĩ và đồng bào đã biểu tình chống Trung Quốc. Một trong những người đã có mặt trong đoàn biểu tình đó là nhạc sĩ Tô Hải. Nhạc sĩ Tô Hải là người nổi tiếng với những bài viết của ông được đưa trên blog và đặc biệt là cuốn “Hồi Ký Một Thằng Hèn”, do Tủ sách Tiếng Quê Hương xuất bản tại hải ngoại. Dưới đây là cuộc phỏng vấn nhạc sĩ Tô Hải do Ðinh Quang Anh Thái thực hiện.

- ÐQAThái: Nhạc sĩ có thể cho biết khung cảnh cách đây đúng 2 năm, khi nhạc sĩ tham dự đoàn biểu tình chống Trung Quốc.

- Nhạc sĩ Tô Hải: Chuyện này có lẽ tôi nhớ suốt đời, vì lúc bấy giờ tôi đã 81 tuổi, nhưng ít nhất tôi cũng đã động viên được một số ông bạn tôi làm một việc đúng là đả đảo bọn bành trướng Trung Quốc lấy đất của mình, ngang nhiên tuyên bố Hoàng Sa và Trường Sa là đất của nó. Tôi muốn những người như lớp của tôi chứ tôi cũng chả dám đứng ra kêu gọi thanh niên đâu. Ðất của tôi, đất của cha ông chúng ta, đất mà bao nhiêu người đổ xương, đổ máu ra để bảo vệ đến ngày hôm nay chúng nó tuyên bố như thế thì nhiệm vụ các ông già đi trước, hay là nói một cách khác, những người như chúng tôi đã từng đổ máu, đã từng hy sinh, đã từng bỏ hết nhà cửa, bỏ học hành xếp bút nghiên để chống bọn xâm lược, ngày hôm nay chúng nó xâm lược mình, mình lên đả đảo chúng nó, mình đòi Hoàng Sa và Trường Sa là của Việt Nam.

- ÐQAThái: Hồi tưởng khung cảnh của hai năm trước, xin ông có thể mô tả lại tâm lý của ông lúc đó, khung cảnh lúc đó ra sao để cho độc giả của Người Việt được biết?

- Nhạc sĩ Tô Hải: Cái này thì tôi có viết một bài “Tớ đi tụ tập đông người không được phép” và bài đó nhiều trang mạng đã đăng.

Tóm lại biểu tình ở Hà Nội thì khá hơn, hăng hơn; đùng một cái họ làm ngay nhưng ít nhất họ cũng đi được một đoạn, chứ còn ở Sài Gòn thì công an nó biết trước, nó canh gác hết các đầu đường, ai mà đi vào là nó bắt ngay từ đầu. Thậm chí các quán cà phê kê ghế ở dọc đường ngày hôm đó là nó cấm hết, cho nên tôi mới viết là “Eo ôi, ở đâu mà ra lắm cá thế?” Tóm lại là về sau biến thành những nhóm một tập họp ở trước cửa Sở Ngoại Vụ, vào nhà Văn hóa Thanh Niên, và do bị công an đàn áp ngay từ đầu, cho nên có thể nói 10 người định đi biểu tình thì có 100 người đủ các sắc phục và không sắc phục ngăn chặn từ đầu. Tôi xin nói là những thằng đứng gác đầu đường gọi telephone di động cho nhau bằng tiếng Tàu. Cho nên chưa có đi được, chưa có giải quyết được gì cả thì nó đã giải tán ngay từ đầu. Nó bảo vệ Tòa lãnh sự Tàu kinh lắm.

- ÐQAThái: Nhạc sĩ Tô Hải vừa mới nói rằng có những bọn dùng máy để nói với nhau bằng tiếng Tàu, phải chăng đó là bằng chứng cụ thể cho thấy rằng an ninh của Trung Cộng đã có mặt ngay tại Việt Nam trong những ngày xảy ra cuộc biểu tình đó?

- Nhạc sĩ Tô Hải: Tôi khẳng định là có. Kể cả đến ngày đi biểu tình chống ngọn đuốc Olympics Bắc Kinh chạy qua Sài Gòn, tôi ngồi ở một cái quán gần đó để bắt đầu tập hợp anh em nhập vào đoàn biểu tình, nhưng mà bọn Tàu thì rất nhiều, chúng nó đi từng ô tô một, chúng nó đến và ơi ới gọi nhau toàn bằng tiếng Tàu thôi. Khổ cái là tôi không biết tiếng Tàu nó nói cái gì, có khi nó vừa nói vừa chửi nhân dân ta cũng không biết chừng.

- ÐQAThái: Thưa nhạc sĩ, hôm 9 tháng 12, hôm đó ông hành động ra sao ạ?

- Nhạc sĩ Tô Hải: Ðầu tiên tôi bắt được ngay một con mụ chỉ điểm. Sau này mình mới biết nó là công an, nó dắt mấy anh công an có trang bị tận răng đến để bắt mấy anh em biểu tình. Nó dẫn công an đến bắt 3 người, thì tôi mới la ầm lên “anh em ơi, con mụ này dắt công an đến bắt anh em đây này!”, nó bắt chỉ vì các anh em đang cầm các khẩu hiệu “Hoàng Sa, Trường Sa là của Việt Nam”. Thế là anh em mới quay lại.

Tôi không nhập được vào đoàn biểu tình, nên tôi chỉ đứng tại chỗ và nói cho những người chung quanh rằng, tại sao công an ngăn chặn chúng tôi, rồi tôi kể chuyện tại sao năm 1979 khi Tàu nó đánh 6 tỉnh miền Bắc thì các anh hô chúng tôi lên đường bảo vệ tổ quốc, văn nghệ sĩ chúng tôi thì anh hô là viết sáng tác chĩa mũi dùi thẳng vào cái bọn các anh gọi là kẻ thù nguy hiểm ở trước mắt; còn bây giờ các anh lại đổi, các anh quay, thái độ của các anh quay hẳn 180 độ như thế và các anh bắt nhân dân chúng tôi quay theo à. Tôi vạch ra chuyện các anh lãnh đạo hèn, không dám làm chuyện mà các anh em thanh niên, sinh viên cũng như cá nhân lão già này ra đây làm. Ðã vậy mà các anh lại còn bắt thì rõ ràng các anh hèn.

- ÐQAThái: Qua cuộc biểu tình này, nhạc sĩ Tô Hải đánh giá như thế nào về lòng yêu nước của đồng bào mình?

- Nhạc sĩ Tô Hải: Tôi thấy rằng biểu tình không thành, bị phá ngay từ đầu. Bản thân tôi bị áp huyết cao, và một nhóm những người nhiệt tình nhất sau đó thì họ khiêng tôi vào trong nhà Văn hóa Thanh Niên và sau đó đưa tôi taxi về nhà. Mấy ngày hôm sau thì anh em có đến tận nơi động viên tôi và cảm ơn tôi, một người đã 80 tuổi mà đi tham gia những chuyện này. Tôi nói rằng những điều này là những điều các cháu phải cố mà làm không sợ gì cả.

Các anh ở nước ngoài, các anh không hiểu được đâu, ở cái nước này gần 80 năm sống trong một xã hội mà tôi phải nói xã hội bầy đàn, ai bảo gì thì cứ thế mà làm, ai bảo ăn gì thì ăn đó, ai bảo xem gì thì xem đó, ai bảo nói gì thì nói đó, ai bảo không được làm cái này thì không được làm… tóm lại, xã hội này, đất nước này có thể nói là nó chả giống ai cả, kể cả cách của người lãnh đạo cũng như của người bị lãnh đạo. Cho nên mọi người chỉ trông chờ. Nói thật, lắm lúc tôi buồn, tôi chán lắm, đất nước này cho đến ngày hôm nay thằng Tàu nó chỉ huy được đủ mọi mặt, nó vào tận Cà Mau, nó lên đến Tây Nguyên, nó lên than Móng Cái, ba tỉnh biên giới coi như của nó rồi, nó sờ sờ ra đấy. Bây giờ vào một tiệm ăn ở Hà Nội hay một tiệm ăn ở Sài Gòn, chúng ta thấy người ta nói tiếng Tàu, kẻ đó là ai, kẻ đó toàn là Tàu nó đi chơi, nó đi làm gì thì ai biết được. Nó sang nó cứ tụ tập ở những chỗ này chỗ khác rất nhiều.

Bi quan. Tôi đánh giá là hiện nay chưa có một sự chuyển động gì lạc quan. Thời điểm này chưa đến nỗi phải gọi là khủng bố trắng, nhưng hiện nay là khủng bố hồng, khủng bố đỏ… đang lù lù đấy.

- ÐQAThái: Nếu bây giờ lại xảy ra những cuộc biểu tình chống Trung Quốc nữa thì nhạc sĩ có tham dự không?

- Nhạc sĩ Tô Hải: Tôi hiện nay đau yếu nên có lẽ khó đi lắm. Hai năm qua sức khỏe tôi xuống lắm. Nếu mà tôi khỏe thì tôi nói thật, tôi đi ngay.

- ÐQAThái: Cảm ơn nhạc sĩ đã trả lời phỏng vấn của Người Việt.

 

VOA

Tại hội nghị tư vấn được tổ chức mỗi năm hai lần, vừa diễn ra trong hai ngày 3 và 4 tháng 12, các nhà tài trợ cho Việt Nam đã nhấn mạnh yếu tố minh bạch hóa và kêu gọi chính quyền Việt Nam hãy tôn trọng quyền được thông tin, quyền tự do ngôn luận của công dân cũng như vai trò, vị trí của các tổ chức dân sự…

Hình chụp từ trang báo điện tử VietnamNet Thứ trưởng Bộ Thông tin và Truyền thông Đỗ Quý Doãn: Thông tin điện tử là lĩnh vực mới mẻ, nhạy cảm, không thể buông lỏng quản lý.

Đây không phải là lần đầu tiên các nhà tài trợ cho Việt Nam đề cập đến những nội dung như vừa kể. Vì sao? Trân Văn tổng hợp và tường trình.

Cần minh bạch, tự do ngôn luận, thông tin.

Ở hội nghị tư vấn vừa diễn ra tại Hà Nội, đại diện nhiều quốc gia cũng như các tổ chức đang tài trợ cho Việt Nam xác nhận, Việt Nam đã đạt nhiều thành tựu trong phát triển kinh tế và xóa đói giảm nghèo.

Tuy nhiên, các nhà tài trợ cho Việt Nam cũng công khai bày tỏ sự lo ngại trước nhiều dấu hiệu cho thấy, chính quyền Việt Nam vẫn chưa tôn trọng quyền được thông tin, quyền tự do ngôn luận của công dân, cũng như hạn chế hoạt động của các tổ chức dân sự. “

Ông Michael Michalak, Đại sứ Hoa Kỳ tại Việt Nam, cho rằng tăng trưởng kinh tế và phát triển đòi hỏi một môi trường cởi mở và minh bạch cho mọi đối tượng tham gia, cả̉ Việt Nam lẫn quốc tế.

Giới tài trợ cho Việt Nam đã trưng dẫn một số sự kiện để chứng minh sự lo ngại của họ là có cơ sở, chẳng hạn việc Thủ tướng Việt Nam ban hành Quyết định 97, vừa nhằm giới hạn “lĩnh vực” hoạt động của các viện nghiên cứu tư nhân, vừa cấm các cơ quan, tổ chức nghiên cứu công bố ý kiến phản biện về đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước Việt Nam. Điều này đã khiến Viện Nghiên cứu và Phát triển (gọi tắt là IDS) – tổ chức tư nhân đầu tiên chuyên nghiên cứu về tương quan giữa chính sách với phát triển tại Việt Nam – phải tuyên bố tự giải thể. Tiến sĩ Nguyễn Quang A, cựu thành viên của IDS – giải thích với Đài Á Châu Tự Do: “Tôi là một công dân, thi hành rất là nghiêm túc các luật, bất luận tôi nghĩ rằng, luật đó sai nhưng mà có hiệu lực thì tôi vẫn cứ phải chấp hành. Những đồng nghiệp của tôi ở Viện IDS cũng như vậy. Cho nên chúng tôi cho rằng Quyết định 97 sai nhưng khi Quyết định ấy không được hoãn, không được hủy bỏ và vẫn có hiệu lực thì chúng tôi cũng tuân thủ. Chính vì thế trước khi Quyết định đó có hiệu lực năm giờ đồng hồ, chúng tôi tuyên bố giải tán.”

Trong hội nghị vừa kể, ông Michael Michalak, Đại sứ Hoa Kỳ tại Việt Nam, cho rằng, tăng trưởng kinh tế và phát triển đòi hỏi một môi trường cởi mở và minh bạch cho mọi đối tượng tham gia, cả Việt Nam lẫn quốc tế.

Còn ông Rolf Bergman, Đại sứ Thụy Điển thì đề nghị Việt Nam nên xóa bỏ các biện pháp hạn chế sử dụng Internet. Trước sự kiện Việt Nam hạn chế người sử dụng Internet dùng Face Book – một mạng xã hội trên không gian ảo, ông Michael Michalak khuyến cáo, đó không đơn thuần là hạn chế thanh thiếu niên tán gẫu với nhau mà là sự hạn chế công dân liên lạc, trao đổi ý tưởng, kinh doanh. Đại diện cho Thụy Điển, quốc gia đang giữ vai trò chủ tịch luân phiên của Cộng đồng Châu Âu, ông Rolf Bergman yêu cầu Việt Nam phải để cho báo chí, giới nghiên cứu, giới luật sư góp ý cho chính quyền.

“Còn ông Rolf Bergman, Đại sứ Thụy Điển thì đề nghị Việt Nam nên xóa bỏ các biện pháp hạn chế sử dụng Internet.

Thay mặt cho Canada, Đại sứ Deanna Horton, khuyến cáo chính quyền Việt Nam phải làm sao để những quy định pháp luật liên quan đến báo chí cũng như các tổ chức dân sự khuyến khích dân chúng tham gia mạnh mẽ hơn vào tiến trình phát triển đất nước…

Sau hội nghị tư vấn mới diễn ra tại Hà Nội, các khoản viện trợ mà nhiều quốc gia và tổ chức quốc tế cam kết dành cho Việt Nam đã tăng từ 6 tỷ đô la (hồi năm ngoái) lên 8 tỷ đô la. Trong đó, khoản viện trợ mà Ngân hàng Thế giới dự trù dành cho Việt Nam là 2,4 tỷ. Tiếp đến là Nhật (khoảng 1,6 tỷ), rồi tới Ngân hàng Phát triển Châu Á (khoảng 1,4 tỷ), Cộng đồng Châu Âu (khoảng 1 tỷ),…

Chỉ cam kết, tuyên bố

Thế còn chính quyền Việt Nam? Liệu họ có lắng nghe các đề nghị, xem xét các khuyến cáo, thực hiện các yêu cầu mà giới tài trợ đã đề cập để các khoản viện trợ mà cộng đồng quốc tế dành cho Việt Nam, sẽ mang lại những lợi ích thực sự tốt đẹp cho Việt Nam? Không ai dám chắc!

Trên thực tế, cộng đồng các nhà tài trợ cho Việt Nam đã nhiều lần yêu cầu Việt Nam phải minh bạch hóa hoạt động của hệ thống công quyền, tôn trọng quyền được thông tin, quyền tự do ngôn luận của công dân, cũng như mở rộng hoạt động của các tổ chức dân sự, bởi theo họ, đó là biện pháp duy nhất để ngăn chặn tham nhũng, lạm dụng quyền lực nhằm trục lợi, bảo đảm tiến trình phát triển tại Việt Nam thực sự bền vững và ổn định.

Tuy cộng đồng quốc tế vừa thúc giục, vừa sử dụng nhiều biện pháp hỗ trợ nhằm giúp chính quyền Việt Nam thực hiện những nội dung vừa kể nhưng hiệu quả rất thấp. Có khá nhiều dấu hiệu cho thấy, các nỗ lực thay đổi của chính quyền Việt Nam mới chỉ dừng ở mức, đưa ra những cam kết, những tuyên bố. Thậm chí ngay cả người đứng đầu hệ thống hành pháp cũng không muốn hành động. “Hơn ba năm nay, tôi làm Thủ tướng tôi cũng chưa xử lý kỷ luật một đồng chí nào, chắc là cũng phải học theo đồng chí Phạm Văn Đồng.

TT Nguyễn Tấn Dũng Hồi giữa năm nay, thời điểm diễn ra hội nghị tư vấn của cộng đồng các nhà tài trợ cho Việt Nam, Thủ tướng Việt Nam ban hành một Nghị quyết công bố Chiến lược quốc gia về Phòng chống tham nhũng cho đến năm 2020. Theo đó, để ngăn chặn tham nhũng, Việt Nam sẽ thu hẹp phạm vi xác định các bí mật nhà nước. Phân công, phân cấp rõ ràng. Qui định rành mạch chức năng, quyền hạn của mỗi cấp quản lý, chức trách từng vị trí công tác, nhất là trách nhiệm người đứng đầu.

Hoàn thiện và thực hiện cơ chế về trách nhiệm giải trình của cán bộ, công chức, cơ chế miễn nhiệm, bãi nhiệm, cho từ chức, tạm đình chỉ chức vụ của người đứng đầu khi để xảy ra tham nhũng trong cơ quan, tổ chức, đơn vị do mình quản lý, phụ trách.

Trong nghị quyết vừa đề cập, Thủ tướng Việt Nam xác định các biện pháp mà chúng tôi mới trích dẫn là phương cách chủ yếu để loại bỏ những xung đột lợi ích, phản kháng xã hội, cản trở đổi mới, đe dọa sự tồn tại của chế độ.

Thế nhưng, cuối tháng trước, khi bị Quốc hội chất vấn về thực hiện kỷ cương, cũng chính ông Nguyễn Tấn Dũng, trả lời: “Về xử lý kỷ luật, trong pháp luật thì Thủ tướng có quyền như thế nhưng xử lý kỷ luật cũng phải theo trình tự quy định của pháp luật, theo tính chất, mức độ của từng sự việc, theo quy định của pháp luật và quy định của Đảng.

Việc này Chính phủ cũng như Thủ tướng hết sức cố gắng làm đầy đủ chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của mình. Tôi nhớ đồng chí Phạm Văn Đồng có lần cũng nói, đồng chí có lẽ làm Thủ tướng lâu nhất của đất nước nhưng đồng chí chưa xử lý kỷ luật một đồng chí nào, từ đồng chí chủ tịch xã, phường trở lên. Hơn ba năm nay, tôi làm Thủ tướng tôi cũng chưa xử lý kỷ luật một đồng chí nào, chắc là cũng phải học theo đồng chí Phạm Văn Đồng.”

Và không chỉ có thế! Trong một bài khác, chúng tôi sẽ tường trình tiếp về khoảng cách giữa các cam kết minh bạch hóa hoạt động của hệ thống công quyền, tôn trọng quyền được thông tin, quyền tự do ngôn luận của công dân, cũng như mở rộng hoạt động của các tổ chức dân sự tại Việt Nam, với thực tế hành động của chính quyền Việt Nam. Mời quý vị đón nghe.

Copyright © 1998-2009 Radio Free Asia. All rights reserved. >

Mạng Hoàn Cầu viết gì về Biển Đông?

BBC, ngày 5 tháng 12, 2009

Dương Danh Dy 

Nhà nghiên cứu Trung Quốc 

Hải quân Trung Quốc

Trước tiên xin phép được nói đôi lời về nguồn gốc của mạng Hoàn Cầu (huan qiu wang-环球网- http://www.huanqiu.com).

Có thể nói mẹ đẻ của mạng này là tờ Hoàn cầu thời báo.

Tờ này do Nhân Dân nhật báo – cơ quan của Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc chủ trì, ra số đầu tiên ngày 3/1/1993 với tên gọi là tạp chí Hoàn Cầu văn túy, đến năm 1997 mới đổi tên là Hoàn cầu thời báo, từ tháng 1/2006 ra hàng ngày (từ thứ Hai đến thứ Sáu).

Hoàn Cầu thời báo là tờ báo quốc tế có uy tín tại Trung Quốc, lượng phát hành mỗi số là 1,6 triệu bản. Báo có phóng viên tại 65 nước trên thế giới.

Mạng Hoàn cầu đưa lại tin của báo mẹ và đăng lại nhiều tin của các báo và mạng chính thức có tên tuổi trên khắp Trung Quốc và thế giới.

Số bài và tin liên quan đến Biển Đông, mạng Hoàn Cầu đưa khá đều và khá nhiều.

Để tránh trùng lặp, chúng tôi chỉ giới thiệu những ý chính, mới của họ từ tháng 3/2009 đến gần đây, và chỉ dịch tên đầu bài vì nếu giới thiệu hết sẽ rất dài. Hơn nữa chỉ cần đọc tên bài, bạn đọc cũng có thể hiểu được họ định nói gì.

Chủ đề Biển Đông

Dưới đây là một số tên bài thu thập được trên mạng Hoàn Cầu tiếng Trung được dịch ra tiếng Việt

- “Biển Đông, biển phức tạp nhất thế giới” (18/3/2009)

- “Chuyên gia bàn vấn đề Biển Đông: thành ý hòa bình của Trung Quốc bị các nước xung quanh lợi dụng” (18/3/2009)

- “Biển Nhật Bản, Biển Đông, Trung Quốc giải quyết vấn đề nào trước thì tốt” (1/4/2009)

- “Chuyên gia quân sự: dựa vào sự hiển thị “cơ bắp” giải quyết vấn đề Biển Đông không được đâu” (28/4/2009)

- “Nguyện vọng lương thiện không thể bị lợi dụng.Giải quyết vấn đề Biển Đông cần tư duy mới” (23/5/2009)

- “Không thể để mất lãnh hải” đưa lại bài của mạng Trung quốc tân văn ngày 27/5/2009

- “Vấn đề Biển Đông, vì sao Quân Giải phóng không chọn phương thức giải quyết trên bộ?” (30/6/2009)

- “Vấn đề Biển Đông cuối cùng nước Mỹ đã nhảy ra trước sân khấu” (1/7/2009)

- “Trung quốc phải sử dụng vũ lực giải quyết vấn đề Biển Đông” (3/7/2009)

- “Dân mạng Trung Quốc tán thành trên vấn đề Biển Đông phải cứng rắn hơn nữa” 4/7/2009 đưa lại tin của mạng Nhân Dân

- “92% dân mạng Trung Quốc tán thành dùng vũ lực giải quyết vấn đề Biển Đông” (5/7/2009)

- “Quân Giải phóng giải quyết bằng vũ lực vấn đề Biển Đông, nước Mỹ không có khả năng trực tiếp tham chiến” (16/7/2009)

- “Quan điểm của phái phản đối: vấn đề Biển Đông cần giải quyết nhanh, càng kéo dài càng chết” (5/8/2009)

- “Cuộc chiến ở Biển Đông: năm nguyên nhân lớn khiến Trung Quốc nên đánh cho Việt Nam lụn bại” (18/8/2009)

- “Nghị sĩ Mỹ thăm Việt Nam nói ủng hộ lập trường của Việt Nam tại Biển Đông” (22/8/2009)

- “Trung Quốc không giải quyết xong vấn đề Biển Đông thì đừng nghĩ đến việc thu hồi vùng Tạng Nam(vùng đất Trung Quốc đang tranh chấp với Ấn Độ) (27/8/2009)

- “Túi khôn Mỹ: Trung Quốc không thể chỉ dựa một mình sức mạnh mềm giải quyết vấn đề Biển Đông” (26/8/2009)

- “Trung Quốc không thể lại để mất thời cơ lớn để giải quyết triệt để vấn đề Biển Đông” (7/9/2009)

- “Xâm chiếm các đảo của ta, quân Việt Nam đã có thế hệ thứ hai. Giải quyết vấn đề Biển Đông không thể chậm được nữa” (8/9/2009)

- “Vấn đề Biển Đông khó giải quyết, Mỹ phải chịu trách nhiệm” (26/10/2009)

- “Trung tướng Quân Giải phóng nói dữ dằn: “đã chuẩn bị đánh ở Biển Đông rồi” (27/10/2009)

- “Truyền thông Anh: Việt Nam có ý đồ quốc tế hóa vấn đề Biển Đông” đưa lại tin của BBC ngày 26/11/2009

- “Âm mưu mới của Việt Nam tại Biển Đông, muốn quốc tế hóa vấn đề Biển Đông” (29/11/2009)

- “Mưu cầu quốc tế hóa vấn đề Biển Đông, Việt Nam mời “hòa thượng Tây” đọc kinh” (30/11/2009)

Ghi chú quan trọng: Ngoài mạng Hoàn cầu, nhiều mạng chính thức khác của Trung Quốc như “Trung Hoa võng, Trung Quân võng, Trung Tân võng, Thiết huyết luận đàn, Nhân Dân võng v.v..cũng đều đưa tin về Biển Đông theo lập trường, quan điểm của nước họ.

Nguyên nhân thất bại của hội nghị Việt Kiều

Nguyễn Ðạt Thịnh 

Việt Cộng thất bại, không đạt được mục đích của chúng, trong tổ chức hội nghị Việt Kiều, kéo dài 3 ngày từ thứ Bẩy 11/21 đến thứ Hai 11/23 tại Hà Nội. Chúng thất bại vì tạo sự nghi ngờ cho Việt Kiều ngay từ câu “chào mừng” đầu tiên của Nguyễn Thanh Sơn, thứ trưởng ngoại giao, kiêm chủ tịch ”Uỷ ban nhà nước về người Việt Nam ở nước ngoài”.                              

Nguyễn thanh Sơn, Chủ nhiệm Uỷ ban Nhà nước về người Việt Nam ở nước ngoài. 

Ông Sơn tuyên bố hội nghị người Việt toàn thế giới  kỳ này sẽ thảo luận về việc các chuyên gia, trí thức, doanh nhân,  kiều bào đóng góp phần mình vào công cuộc xây dựng, phát triển đất nước. Sơn còn nói đây cũng là cơ hội để người Việt trong và ngoài nước gặp gỡ, trao đổi, học hỏi, tương trợ nhau, để xích gần nhau hơn, tạo tình đoàn kết, thân ái. Sơn khoe sẽ dàn dựng một chương trình đại nhạc hội hoành tráng, tôn vinh văn hóa dân tộc,  với chủ đề “Việt Nam Quê Hương Tôi”.

“Cái này cũng là một cái biện pháp để chống suy thoái kinh tế. Thông tin cho biết thế này,” Sơn nói. “Tôi nghĩ  thành công, thành công, cái này cũng thể hiện nội lực bên ngoài cũng quan trọng. Nghĩa là ai cũng hướng về tổ quốc, cũng không phải là ra ngoài làm ăn là quên tổ quốc.”

Làm đến thứ trưởng ngoại giao,nhưng ông Sơn ăn nói lọng cọng, kiến thức hẹp hòi, không biết nhiều về người Việt hải ngoại. Ông hoàn toàn không ý thức được là họ phân biệt rất rõ đâu là tổ quốc, và không chấp nhận cho Việt Cộng nhập nhằng đánh lận tự cho cái Xã Hội Chủ Nghĩa và đảng Cộng Sản của chúng là tổ quốc.

Ông Sơn cũng sai khi ông nói là gần 35 năm truớc người Việt Nam “ra ngoài làm ăn”. Ông không biết việc 2 triệu người cùng “xuất ngoại” trong vòng một tuần lễ không phải là để “ra ngoài làm ăn”, mà để vượt thoát khỏi ách cộng sản, dù vượt thoát với cái giá có thể dễ dàng mất mạng, để không phải sống với Việt Cộng.

Ông Sơn cũng không biết là người Việt hải ngoại không bao giờ “quên tổ quốc”: bằng cớ là giữa lúc Biển Ðông nổi sóng, ngư dân Việt Nam bị bắn giết, bị cấm đánh bắt cá, và giữa lúc Việt Cộng không dám ngo ngoe gì cả trước sức mạnh của Trung Cộng, thì một thanh niên hải ngoại, cậu Lê Bá Hùng, đã đem chiến hạm về Ðà Nẵng, tạo niềm tin cho ngư dân Việt Nam.

Ông Sơn ấp úng nói, “Tôi nghĩ  thành công, thành công, cái này cũng thể hiện nội lực bên ngoài cũng quan trọng”; ông cần đến một công lực mà ông cố tình gọi lầm là “nội lực bên ngoài”. Ý ông muốn nói là dù bên ngoài nhưng tiềm lực Việt Nam hải ngoại vẫn là của Việt Cộng, để không phải nhìn nhận rằng Việt Cộng đang muối mặt xin xỏ. 

Ðài phát thanh Hà Nội mớm lời là, “một số đại biểu Việt kiều nhấn mạnh vào chính sách bảo hộ công dân, bảo vệ lợi ích của người Việt ở nước ngoài, đấu tranh với các hoạt động gọi là đi ngược với lợi ích của cộng đổng và đất nước.”

Tiếng Việt Cộng nói “chính sách bảo hộ công dân” có nghĩa là toà đại sứ và lãnh sự Việt Cộng “bảo vệ” Việt Kiều! Nhưng họ làm gì có khả năng, có quyền hạn để bảo vệ chúng ta, trong lúc đa số chúng ta đã lấy quốc tịch Pháp, Ðức, Mỹ, Úc, Nhật, … để thích nghi với cuộc sống lưu vong tị nạn? 

Trong lời chào mừng của Nguyễn Thanh Sơn, chúng ta cần quan tâm đến một câu, “… đấu tranh với các hoạt động gọi là đi ngược với lợi ích của cộng đổng và đất nước.”

Việt Cộng sẽ vận động chúng ta “đấu tranh” với chúng ta chống những việc chúng ta thường vẫn làm là chống cộng.

Chúng muốn “đấu tranh” chống lại những cuộc biểu tình vạch rõ bộ mặt phản dân tộc của bọn Nguyễn Minh Triết, Nguyễn Tấn Dũng, Nông Ðức Mạnh, mỗi khi bọn này lú mặt ra hải ngoại; và chống những cuộc biểu tình khác phản đối việc chúng lập tòa lãnh sự tại Houston; chúng cũng muốn “đấu tranh” chống lại những bài báo, những chương trình phát thanh, truyền hình tố giác bộ mặt thật của chúng.

Ðài phát thanh Hà Nội còn kêu gọi “Trí thức chuyên gia và doanh nhân kiều bào góp phần vào sự nghiệp xây dựng đất nước”. Chúng vận dụng việc “xây dựng, bổ sung, hoàn chỉnh chính sách và biện pháp thu hút chuyên gia trí thức người Việt, và vốn của người Việt hải ngoại để “xây dựng đất nước”. 

Việc mời gọi giới trí thức và chuyên gia về nước, Việt Cộng nên mời bác sĩ Nguyễn Văn Ngải, San Jose, thêm một lần nữa. Lần trước, theo lời mời của chúng bác sĩ Ngải đã về Việt Nam dạy về khoa mổ tim cho các bác sĩ Việt Nam. Cơm không lành, canh không ngọt, chúng mời ông lên đồn công an làm việc suốt nhiều ngày không thả ông về. Một người Mỹ đồng hành với ông phải lên tiếng báo động, chúng mới thả ông và cho ông trở về Hoa Kỳ.

Về việc góp vốn về nước làm ăn, một Việt Kiều tại Úc hỏi, “người Việt hải ngoại gửi về nước 10 tỉ mỹ kim mỗi năm chưa đủ ư? Cần thêm bao nhiêu nữa?” 

 Hội nghị Việt kiều năm nay quy tụ khoảng 900 người, phần đông thuộc thành phần cao niên. VietnamNet viết lên mục đích của nhà nước là “chủ yếu vận động những  đóng góp cho sự nghiệp tuyên truyền của đảng Cộng sản Việt Nam hơn là trong lĩnh vực kinh tế hay khoa học kỹ thuật của nhà nước.”

Sau những nỗ lực lớn tại Hà Nội với một kết quả rất nhỏ, kể cả kết quả về mặt tuyên truyền, Việt Cộng lại tiếp tục cay đắng và bất lực đối đầu với thái độ chán ghét chúng của người Việt hải ngoại.

Tôi mách chúng một chính sách Kiều Vận rất kiến hiệu: chúng không cần mời 900 Việt Kiều về Hà Nội, chúng cũng không cần gửi ra hải ngoại những show văn nghệ “hoành tráng”, mà chỉ cần mở cửa ngục trả tự do cho những chiến sĩ dân chủ hiện đang bị chúng giam giữ, và tuyên bố sẽ tổ chức bầu cử tự do để người Việt Nam chọn những nhân vật cầm quyền hai ngành hành pháp và lập pháp.

Chỉ cần ngần đó thôi, vốn và tài nguyên nhân lực hải ngoại sẽ đổ dồn về nước để xây dựng Việt Nam tiến bộ hầu bắt kịp đà tiến bộ của Nam Hàn, Nhật Bản, trong vùng và những cường quốc khác trên thế giới. 

Ðó mới là “nội lực bên ngoài” mà Nguyễn Thanh Sơn và nhà nước Việt Cộng thất bại trong mưu tìm mời gọi. 

Nguyễn Ðạt Thịnh

VN sắp ký hợp đồng mua vũ khí của Nga

BBC, ngày 5 tháng 12, 2009

Tàu ngầm của Nga

Báo Nga cho hay quá trình soạn thảo hợp đồng đã hoàn tất cho Việt Nam mua sáu tàu ngầm dùng diesel và máy bay tiêm kích.

Báo Vedomosti dẫn nguồn thân cận với doanh nghiệp đóng tàu tại St Petersburg nói văn bản hợp đồng mua sáu chiếc tàu ngầm dùng diesel hạng Kilo có cải tiến, tiếng Nga là hạng Varshavyanka Project-636, đã hoàn tất và hợp đồng này sẽ được ký trong vòng vài tháng tới.

Báo này cũng cho hay một quan chức của công ty Rossiyskiye Tekhnologii cũng xác nhận tin này.

Kể từ hồi tháng Tư, khi thông tin về việc Việt Nam có thể mua tàu ngầm của Nga rò rỉ ra ngoài, đã có các tin tức lẫn lộn về hợp đồng này.

Mới đây cũng có nguồn tin nói Việt Nam không tiếp tục hợp đồng vì chi phí “quá tốn kém”. Trị giá của sáu tàu ngầm có thể lên tới gần hai tỷ đôla.

Tuy nhiên tường trình mới nhất của tờ Vedomosti cho thấy có thể quá trình thương lượng về tàu ngầm giữa hai bên vẫn còn đang tiếp tục.

Theo Vedomosti, hợp đồng sẽ ký bao gồm không chỉ các tàu ngầm và khóa huấn luyện cho thủy thủ đoàn, mà cả cơ sở trên bờ để phục vụ các tàu này vì Việt Nam chưa từng có tàu ngầm hiện đại từ trước tới nay.

Ông Konstantin Makiyenko, chuyên gia tại Trung tâm Phân tích Chiến lược và Công nghệ của Nga được trích lời nói về trị giá “đây sẽ là hợp đồng cung cấp tàu ngầm đơn lẻ lớn nhất trong lịch sử hậu Soviet”.

Về số lượng, chỉ có một hợp đồng lắp tám tàu ngầm cho Trung Quốc hồi năm 2002 là lớn hơn.

Nếu so sánh với các nước khác thì chỉ có Pháp là đang thực hiện hợp đồng quy mô tương tự thông qua việc lắp đặt các tàu ngầm dạng Scorpene theo bản quyền của Pháp tại Ấn Độ.

Đây sẽ là hợp đồng cung cấp tàu ngầm đơn lẻ lớn nhất trong lịch sử hậu Soviet.

Konstantin Makiyenko, Trung tâm Phân tích Chiến lược và Công nghệ của Nga

Tàu ngầm hạng Kilo được cho là loại tàu ngầm ít tiếng ồn nhất thế giới. Nó còn được đặt biệt danh “Lỗ đen” vì có khả năng bất thần “biến mất” để tránh bị phát hiện.

Tàu ngầm dạng này có thể dùng để chống tàu ngầm cũng như tàu chiến thông thường, và trong hoạt động tuần tra.

Tàu này có trọng tải 2.300 tấn, đạt độ sâu 350 mét, tầm xa 6.000 hải lý và có thủy thủ đoàn 57 người.

Trung Quốc có 12 tàu ngầm loại Kilo. Hải quân Nga được tin đang sử dụng 16 chiếc và có 8 chiếc dự trữ.

Các nước khác có tàu ngầm loại này là Ấn Độ, Iran, Ba Lan, Romania và Algeria.

Máy bay tiêm kích

Bản tin của Vedomosti cũng đề cập tới hợp đồng cung cấp 12 chiến đấu cơ Su-30MK2 cho Việt Nam, mà theo tờ báo đã được thực hiện tại một nhà máy của Tập đoàn Sản xuất máy bay hỗn hợp.

Thực tế Việt Nam mới chỉ ký hợp đồng mua tám chiếc Su-30MK2 hồi tháng 01/2009 và trước đó đã mua 16 máy bay dạng Su27/30.

Su-30MK2 là phiên bản nâng cấp của loại Su-27UB Flancker hai chỗ ngồi, có khả năng phóng tên lửa chống tàu, tiêu diệt mục tiêu mặt nước và mặt đất.

Nếu mua thêm Su-30, hợp đồng ký kết có thể tăng lên trên 600 triệu đôla.

Một nguồn tin từ tập đoàn sản xuất máy bay còn cho hay quân đội Việt Nam đang nghiên cứu khả năng mua các máy bay tiêm kích MiG-29 và Su-35, là phiên bản mới nhất của chiến đấu cơ Sukhoi.

Ông Dmitriy Vypryazhkin, đại diện của công ty mua bán máy bay Vertolety Rossii tại Đông Nam Á, được dẫn lời phát biểu tại triển lãm vũ khí LIMA ở Langkawi, Malaysia, rằng Việt Nam cũng sắp ký hợp đồng mua một số lượng lớn trực thăng Mi-17 của Nga.

Với các hợp đồng kể trên, Việt Nam sẽ trở thành nước mua nhiều vũ khí và thiết bị quốc phòng của Nga nhất nhì thế giới.

Quân đội Việt Nam đang trên đường hiện đại hóa, ngân sách quốc phòng mỗi năm đều được tăng lên.

Tuy nhiên điều này cũng là xu thế chung của quốc tế và khu vực. Nước láng giềng Trung Quốc năm nay loan báo tăng ngân sách quốc phòng gần 15%, lên tới trên 70 tỷ đôla.

Chính trị cũng là kinh tế

Ngô Nhân Dụng  

Các chế độ chuyên quyền độc đoán thường dựng lên một ảo tưởng, là chính quyền độc tài giữ cho xã hội được ổn định, do đó kinh tế phát triển nhanh hơn trong các xã hội tự do. 

Nhiều người đã nêu ra các chứng cớ và lý luận bác bỏ suy nghĩ sai lầm đó. Muốn so sánh hệ quả kinh tế của độc tài và dân chủ thì chỉ cần so sánh Nam Hàn với Bắc Hàn. Hoặc Ðông Âu với Tây Âu trong 40 năm sau Ðại Chiến Thứ Nhất. Ngay trong số các nước Tây Âu, kinh tế các nước Tây Ban Nha, Bồ Ðào Nha cũng chậm phát triển nhất, vì bị các chính quyền độc tài ngự trị suốt mấy chục năm. Hai nước đó thua cả nước Ý dân chủ, mà nước Ý thì đảng phái phân liệt, chính phủ thay đổi liên miên, lộn xộn nhất trong số các nước dân chủ.

Có thể thấy rõ là chính thể dân chủ tự do tạo nhiều cơ hội cho kinh tế phát triển, hơn hẳn các chế độ độc tài. Khi được tự do hơn, người lao động lập công đoàn tranh đấu cho quyền lợi của họ, họ sẽ làm việc hăng hái hơn. Ðược tự do, nhà kinh doanh dám chấp nhận đầu tư vào những dự án mới nhiều rủi ro, vì biết nếu thành công sẽ được hưởng các thành quả. Chính trị quyết định kinh tế, điều này đã hiển nhiên khi cả khối Liên Xô sụp đổ, chỉ vì chính trị độc tài nên kinh tế thất bại.

Tuy vậy, vẫn có người nêu lên trường hợp hai nước Ấn Ðộ và Trung Hoa để kết luận rằng Trung Quốc hiện nay tiến nhanh hơn về kinh tế là nhờ họ theo chế độ độc tài, còn Ấn Ðộ vì dân chủ nên vẫn chưa đuổi kịp. Nếu không nghiên cứu kỹ thì nhiều người sẽ mắc bẫy mà tin theo lối suy nghĩ sai lầm này. Hai nước Ấn Ðộ và Trung Quốc có lịch sử khác hẳn nhau, điều kiện văn hóa, xã hội, chủng tộc khác hẳn nhau từ gốc rễ, không thể đem so sánh được. Nếu muốn nhìn thấy ảnh hưởng của chính trị trên kinh tế, hãy so sánh Trung Quốc với Ðài Loan, Ấn Ðộ với Pakistan.

Giáo Sư Hoàng Á Sinh năm ngoái mới xuất bản cuốn “Kinh tế tư bản với đặc tính Trung Hoa, Capitalism with Chinese characteristics” và đang soạn một cuốn sách khác so sánh kinh tế Trung Quốc với Ấn Ðộ. Ông là người Trung Quốc, chỉ sang Mỹ sau khi đã tốt nghiệp đại học, cho nên hiểu biết về nước Trung Hoa sâu xa hơn nhiều nhà nghiên cứu ngoại quốc.

Hoàng Á Sinh nêu lên một nhận xét mà hầu hết các người nghiên cứu về kinh tế thường không nhìn thấy, mà các du khách cũng như các nhà báo cũng không thể thấy. Kinh tế hai nước Trung Quốc và Ấn Ðộ đều có lúc lên lúc xuống, nhưng Hoàng Á Sinh nhận ra là những lúc thành công và những khi thất bại của cả hai nước đều do những nguyên nhân tương tự. Ông nói rõ hơn: “Kinh tế hai nước đều khá hơn khi chế độ chính trị ở các nước này được tự do hơn. Ngược lại, kinh tế của họ bị trì trệ khi chính trị độc tài hơn.” Ðây là một nhận xét đáng tìm hiểu, để xóa đi những ảo tưởng và ngụy biện.

Ấn Ðộ mới trở thành một quốc gia năm 1947 (khác với Trung Quốc đã lập quốc từ 2000 năm trước). Từ khi mới độc lập, Ấn Ðộ đã chọn theo đường lối kinh tế xã hội chủ nghĩa mặc dù chính thể là dân chủ. Nhưng tình trạng kinh tế nước này đã trở nên trì trệ hơn vào thời gian chính quyền Ấn Ðộ quay sang lối chính trị độc tài; mà hậu quả còn di hại cho tới ngày nay. Và từ khi chính phủ nước này trở lại với cung cách dân chủ, nhờ mấy lần thay đổi đảng cầm quyền, thì kinh tế mới bắt đầu khá.

Bà Indira Gandhi và đảng Quốc Ðại nắm quyền trong hầu hết thời gian từ 1966 đến 1984. Bà không những áp dụng chính sách kinh tế xã hội chủ nghĩa theo lối Liên Xô bằng cách quốc hữu hóa các ngân hàng và nhiều xí nghiệp lớn, mà bà còn tìm cách cai trị dân theo lối một nhà độc tài, mặc dù vẫn còn Hiến Pháp. Trong Hiến Pháp Ấn Ðộ có điều 356 cho phép gia tăng quyền hành của chính phủ liên bang và lấn quyền các tiểu bang. Trong 10 năm từ 1966 đến 1976, Indira Gandhi đã sử dụng điều khoản đó tổng cộng 36 lần! Từ 1980 đến 1984 bà Indira Gandhi lại sử dụng quyền khẩn trương này thêm 13 lần nữa, tính ra mỗi năm 3 lần! Trước đó, từ 1950 đến 1965 các chính phủ Ấn Ðộ chỉ dùng điều này có 9 lần, khi phải đối phó với những vụ bạo động vì tôn giáo, chủng tộc hay ngôn ngữ – mà ở quốc gia tân lập này đó là một vấn đề thường xuyên xảy ra.

Một chính quyền kiểu Indira Gandhi không thể gọi là dân chủ. Bà Gandhi còn gây tai hại cho cơ cấu đảng Quốc Ðại mà thân phụ bà để lại. Bà không kính trọng hệ thống tổ chức trong đảng, dựng lên một mạng lưới chia chác quyền lợi cho đám đàn em trung thành với bà. Hậu quả là các tay chân của bà, và tay chân của bọn tay chân đó, khi cầm quyền không ai cảm thấy họ chịu trách nhiệm với các đảng viên Quốc Ðại cũng như với các cử tri.

Khi một guồng máy chính quyền không cảm thấy chịu trách nhiệm với cử tri mà chỉ lo được lòng cấp trên, thì họ không lo tính đến những kế hoạch kinh tế ích quốc lợi dân lâu dài nữa. Vì vậy, trong những năm bà Gandhi cai trị, kinh tế Ấn Ðộ đã xuống dốc. Ðiều đáng khen bà Indira Gandhi là bà vẫn kính trọng bản Hiếp Pháp, có lẽ vì đã nhiễm quen nếp sống tôn trọng luật pháp trong nền nếp giáo dục Anh Quốc, nhờ thế thể chế dân chủ nước Ấn Ðộ vẫn tồn tại. Khi đảng Quốc Ðại bị cử tri bất tín nhiệm bà đã lẳng lặng trở về đời sống thường dân để đợi thời, và chấp nhận bị đưa ra tòa.

Nhưng ảnh hưởng tai hại của thời kỳ Indira Gandhi độc tài còn lưu họa đến ngày nay: Khi các nhà chính trị không còn chịu sự kiểm soát của cử tri bỏ phiếu, mà chỉ tùy thuộc vào guồng máy tay chân do bà Gandhi cầm đầu, thì họ không chăm lo các nhu cầu thiết yếu cho việc phát triển kinh tế. Hai lãnh vực bị bỏ quên trong thời gian đó là giáo dục và y tế, đến nay nước Ấn Ðộ còn đang cố gắng chạy nhanh hơn sau những năm thụt lùi. Chính trị sai lầm không những làm kinh tế chậm phát triển mà còn để lại những hậu quả tai hại lâu đời khiến đời sau phải mất công sửa chữa. Mà các chế độ độc tài chính là những chế độ lơ là với giáo dục và y tế.

Sau khi “triều đại Gandhi” bị gạt bỏ, chính phủ mới đã bắt đầu cải tổ theo kinh tế thị trường. Sau đó, khi đảng Quốc Ðại được tái cử họ vẫn theo chính sách đổi mới đó, vì giấc mộng xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô cũng đã tan vỡ. Nhưng điều quan trọng hơn là không khí chính trị đã cởi mở và dân chủ hơn. Người cầm quyền, dù thuộc đảng Quốc Ðại hay đảng khác, đều biết lo đến tương lai. Các chính phủ mới đã đầu tư vào giáo dục và y tế, nhất là ở nông thôn, vì biết đó là chìa khóa mở cửa tương lai. Năm 2007, trong khi kinh tế dự phóng sẽ tăng 9%, chính phủ thuộc đảng Quốc Ðại đã tăng ngân sách giáo dục thêm 34% và ngân sách y tế tăng 22%. Trong khung cảnh đó, kinh tế Ấn Ðộ mới bắt đầu cất cánh.

Giáo Sư Hoàng Á Sinh quan sát quá trình đổi mới ở Trung Quốc, ông thấy có hai giai đoạn khác nhau, chứng tỏ chính trị cởi mở giúp kinh tế hưng thịnh. Thập niên 1980 là giai đoạn Trung Quốc phát triển sâu và rộng, đặc biệt là ở các vùng nông thôn, nâng mức sống của hàng trăm triệu người lên cao. Nhiều người phân tích giai đoạn này thường chỉ chú trọng đến chính sách nông nghiệp tự do, nhưng Hoàng Á Sinh còn khám phá ra một lãnh vực sản xuất công nghiệp mà các nhà kinh tế phương Tây không thấy. Số sản xuất ở Trung Quốc trong thập niên 1980 lên cao là nhờ hệ thống những xí nghiệp tư nhân ở khắp các vùng nông thôn, khi người dân được tự do hơn. Những xí nghiệp hương thôn này thường được các nhà kinh tế ngoại quốc coi là quốc doanh, nhưng ông Hoàng Á Sinh nghiên cứu tận gốc nên thấy rõ đại đa số là của tư nhân, chính lớp doanh nhân nông thôn này vực nền kinh tế cả nước dậy.

Hoàng Á Sinh khẳng định lý do chính của sự phát triển trong thời gian này là nhờ những thay đổi trong không khí chính trị. Chính trị tự do hơn giúp kinh tế mạnh hơn. Ðặng Tiểu Bình lên, sau khi đã bị Mao Trạch Ðông đầy đọa mấy lần, dân Trung Hoa nhìn thấy ông như một người dám đoạn tuyệt với các tư tưởng và chủ trương của Mao. Người dân Trung Hoa cảm thấy được cởi trói, họ chấp nhận đổi mới cơ cấu, làm việc hăng hái và dám thí nghiệm những lối làm việc mới. Giáo Sư Bùi Mẫn Hân, một người Trung Quốc khác, cũng nhận xét rằng hầu hết các thay đổi chính trị quan trọng ở Trung Quốc đã diễn ra trong thập niên 1980. Thí dụ quyết định buộc các nhân viên nhà nước và Quốc Hội đến hạn tuổi phải về hưu, cải tổ hệ thống tư pháp, gia tăng quyền lực cho Quốc Hội, thí nghiệm cho dân bàu trực tiếp chính quyền hương thôn, đều được đưa ra trong giai đoạn này, tạo nên một không khí phấn khởi. Cùng lúc đó, nông dân được vay vốn dễ dàng hơn, do đó những xí nghiệp hương thôn mở ra khắp nơi giảm bớt nạn khiếm dụng, 10 triệu trong số 12 triệu xí nghiệp đó hoàn toàn do tư nhân làm chủ, sản năng của họ cao gấp bội các doanh nghiệp nhà nuớc.

Biến cố Thiên An Môn năm 1989 đã khiến Bắc Kinh thay đổi. Ðảng Cộng Sản Trung Hoa bỏ rơi nông dân, xây dựng lớp trung lưu thành thị phần lớn là cán bộ đảng viên tập trung dưới sự bảo trợ của đảng.

Trước năm 1989, những người như Triệu Tử Dương, Vạn Lý, Ðiền Kỷ Vân đều tiến thân nhờ những thí nghiệm cải tổ của họ thành công ở nông thôn. Sau Thiên An Môn, họ bị thay thế bằng “nhóm Thượng Hải,” là một thành phố mà từ 1980 vẫn là nơi cải tổ ít và chậm nhất nước. Từ 1990 cho tới gần đây, chính sách kinh tế của Cộng sản Trung Quốc bỏ rơi nông thôn, bỏ rơi kinh tế tư nhân. Tiền “kích thích kinh tế” được trao cho các cán bộ, đảng viên trong những doanh nghiệp nhà nuớc. Các dự án xây dựng hạ tầng cơ sở là cách đưa tiền từ ngân hàng nhà nước cho các doanh nghiệp nhà nuớc đứng thầu. Kế hoạch kích thích gần 600 tỷ đô la phần lớn được dùng trong chiều hướng đó. Ông Dư Vĩnh Ðịnh (Yu Yongding), một cố vấn của ngân hàng trung ương Trung Quốc nhận xét rằng những món chi tiêu này là phí phạm, không dùng tài nguyên đúng chỗ.

Khi Hồ Cẩm Ðào và Ôn Gia Bảo lên cầm quyền, họ cũng muốn thay đổi mạng lưới Thượng Hải, một hành động quyết liệt là bắt Bí Thư Thị Ủy Trần Lương Ngọc về tội tham nhũng. Nhưng chưa thấy nông dân được hưởng những lợi ích như thời 1980.

Ðiều khiến hai nhà nghiên cứu người Trung Quốc là Hoàng Á Sinh và Bùi Mẫn Hân lo ngại nhất là từ thập niên 1990, đầu tư vào giáo dục và y tế ở Trung Quốc không tăng mà còn giảm. “Trong khi Thượng Hải xây thêm 3,000 nhà chọc trời thì trong dân chúng Trung Hoa tăng thêm 30 triệu người mù chữ!” Người tiêu thụ trước kia được hưởng gần 50% tổng sản lượng nội địa thì hiện nay chỉ được hưởng 33%, chỗ sai biệt đưa vào túi các cán bộ điều khiển các công ty.

Nước giầu hơn, nhưng dân nghèo đi, người nghèo kém xa người giầu hơn trước. Chỉ vì chế độ vẫn là độc tài đảng trị. Chính trị chắc chắn ảnh hưởng đến phần chia chiếc bánh kinh tế của tầng lớp dân nghèo!

 

Hội Nghị Tư Vấn: Tự do thông tin hỗ trợ phát triển

BBC, ngày 3 tháng 12, 2009

Hội nghị Tư vấn các Nhà tài trợ tháng 12/2009
Hội nghị Tư vấn các Nhà tài trợ họp một năm hai lần

Các nhà tài trợ nước ngoài nói việc hạn chế tự do thông tin và ngăn chặn internet sẽ ảnh hưởng xấu tới phát triển ở Việt Nam.

Hội nghị Tư vấn các Nhà tài trợ (CG) họp một năm hai lần đang diễn ra trong hai ngày 03/12-04/12 tại Hà Nội.

Trong bài phát biểu tại phiên khai mạc, Đại sứ Hoa Kỳ Michael Michalak nói với đại diện các quốc gia tài trợ và Việt Nam: “Tăng trưởng kinh tế và phát triển đòi hỏi một môi trường cởi mở và minh bạch cho mọi đối tượng tham gia, cả Việt Nam và quốc tế”.

Ông đại sứ nhận xét rằng gần đây ở Việt Nam đã xảy ra tình trạng “thu hẹp dần không gian thông tin trung thực và tin cậy”.

Ông Rolf Bergman, Đại sứ Thụy Điển, nước đang giữ chức Chủ tịch luân lưu của Liên hiệp châu Âu, thì nói: “Chúng tôi khuyến cáo (Việt Nam) xóa bỏ mọi hạn chế đối với mạng internet”.

Cả hai ông đại sứ đều bày tỏ quan ngại trước thông tin nói mạng xã hội Facebook bị chặn.

Ông Michalak nói: “Đây không phải chuyện thanh thiếu niên chat trên mạng với nhau mà đây là vấn đề quyền của người dân được liên lạc, trao đổi ý tưởng và làm ăn.”

Tuy nhiên, một số người ở Hà Nội nói với BBC hôm 03/12 rằng Facebook đã trở lại hoạt động bình thường và nhiều trang mạng mà trước bị tường lửa nay đã truy cập được.

Các nhà tài trợ quốc tế tại cuộc họp ở Hà Nội cũng bày tỏ quan ngại về các luật lệ mới mà theo họ sẽ hạn chế báo chí cũng như hoạt động của các tổ chức phi chính phủ.

Các nhà nghiên cứu, các nhà báo và luật sư phải được khuyến khích lên tiếng để có thể đóng góp cho tương lai của đất nước.

Đại sứ Thụy Điển Rolf Bergman

Họ nhắc tới Quyết định 97 của Thủ tướng Chính phủ về các tổ chức khoa học – công nghệ, từng bị chỉ trích là ngăn chặn phản biện.

Hãng thông tấn AFP trích lời Đại sứ Michalak nói quyết định này khiến Việt Nam “giảm hấp dẫn trước các đối tác nước ngoài, nhất là trong lĩnh vực giáo dục”.

Đại sứ Thụy Điển thì còn mạnh mẽ hơn khi yêu cầu: “Việt Nam phải cho phép báo chí được theo dõi chính quyền. Các nhà nghiên cứu, các nhà báo và luật sư phải được khuyến khích lên tiếng để có thể đóng góp cho tương lai của đất nước.”

Hãng Reuters trích lời ông Bergman nói: “Không được chặn tiếng nói hay làm họ nản chí”.

Ông đại sứ cho rằng gần đây đang có các dấu hiệu đáng lo ngại về chiều hướng ngược lại ở Việt Nam.

Việt Nam đã có những thành tựu đáng tự hào trong việc phát triển kinh tế và xóa đói giảm nghèo, nhưng còn nhiều phương diện cần được cải thiện.

Đại sứ Canada Deanna Horton, thay mặt Na Uy, New Zealand và Thụy Sỹ thì được AFP trích lời nói các nước này khuyến cáo chính phủ Việt Nam cân nhắc để bảo đảm rằng các quy định và luật lệ mới về vai trò của các nhóm dân sự và báo chí sẽ khuyến khích người dân tham gia mạnh mẽ hơn vào tiến trình phát triển trong nước, chứ không phải hạn chế sự tham gia của họ.

Tại sao lại chơi trò ném đá giấu tay?


Giám đốc Học viện Ngoại giao, Phó giáo sư Dương Văn Quảng chủ trì thảo luận.

 

do Học viện Ngoại giao Việt Nam phối hợp với Hội Luật gia Việt Nam tổ chức trong hai ngày 26 và 27/11/2009.

“Biển Đông: Tăng cường hợp tác vì an ninh và phát triển ở khu vực”

Trước đe doạ ngày càng nghiêm trọng mất chủ quyền trên Biển Đông và sợ bị Tàu Bắc Kinh chiếm vĩnh viễn hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, nhà nước Cộng sản Việt Nam đã biết mở mắt la làng, nhưng không dám chủ động mà lại mượn tay người khác, kể cả người nước ngoài.

Bằng chứng đã diễn ra tại Hà Nội qua cuộc hội thảo được báo chí trong nước gọi là “khoa học quốc tế” với chủ đề:

Đã biết mở mắt bảo vệ chủ quyền biển đảo?

Phạm Trần

Bị áp lực mạnh từ Hoa Kỳ: CSVN sắp xét xử các nhà hoạt động dân chủ

BBC, ngày 3 tháng 12, 2009

Luật sư Lê Công Định trong băng video "nhận tội"
Truyền hình Việt Nam chiếu cảnh ông Định đọc bản “nhận tội”
 

Quá trình tố tụng đang được hoàn tất để đưa các nhân vật hoạt động dân chủ bị bắt hồi mùa hè ra tòa.

Thân nhân của các ông Lê Công Định, Nguyễn Tiến Trung và Trần Huỳnh Duy Thức cho hay họ đều đã được tiếp xúc gia đình và được thông báo ngày xét xử đang đến gần.

Luật sư biện hộ Đoàn Thái Duyên Hải thuộc Văn phòng luật Hải Đoàn đã được vào trại giam tiếp xúc với Nguyễn Tiến Trung hôm 27/11 trong vòng một tiếng đồng hồ.

Bà Lê Thị Minh Tâm, thân mẫu thạc sỹ Nguyễn Tiến Trung, người bị bắt từ hôm 07/07, thì cho hay có thể tội danh xét xử Trung sẽ đổi từ “Tuyên truyền chống Nhà nước” sang “Hoạt động lật đổ chính quyền”.

Được biết hồ sơ của Nguyễn Tiến Trung đã được chuyển từ Viện Kiểm sát sang cho tòa án, dấu hiệu là phiên tòa xử Trung đã cận kề, tuy tòa án vẫn chưa tống đạt quyết định đưa vụ án ra xét xử.

Theo luật tố tụng hình sự của Việt Nam, trong vòng một tháng từ khi Viện Kiểm sát chuyển cáo trạng thì tòa phải mang vụ án ra xét xử.

Tuy nhiên, bà Tâm cho biết hiện Nguyễn Tiến Trung vẫn còn đang cân nhắc có chấp nhận luật sư hay tự bào chữa.

Bà nói: “Lý do tại sao, thì chúng tôi không được rõ, nhưng nếu Trung không chấp nhận luật sư gia đình mời, thì Trung sẽ phải tự bào chữa trước tòa.”

Thuê luật sư

Gia đình ông Lê Công Định đã thuê luật sư nhưng nay cũng ngừng công việc này sau khi ông Định từ chối.

Ngọc Khánh, vợ luật sư Định, nói với BBC rằng tòa có thể chỉ định luật sư, nhưng phải chờ quyết định cuối cùng của ông.

Luật sư Lê Công Định cùng các doanh nhân Trần Huỳnh Duy Thức và Lê Thăng Long đều bị bắt trong đợt trấn áp đầu mùa hè vừa qua.

Ông Thức, nguyên Tổng giám đốc công ty OCI, bị bắt hôm 24/05, thoạt đầu để điều tra tội “trộm cước viễn thông”. Ông Định bị bắt hôm 13/06.

Lý do tại sao, thì chúng tôi không được rõ, nhưng nếu Trung không chấp nhận luật sư gia đình mời, thì Trung sẽ phải tự bào chữa trước tòa.

Mẹ Nguyễn Tiến Trung, bà Lê Thị Minh Tâm

Gia đình ông Trần Huỳnh Duy Thức cũng đang hoàn tất thủ tục thuê luật sư cho vụ xét xử mà họ được thông báo là sẽ tiến hành trong vòng “trên dưới một tháng tới”.

Hôm 19/08, truyền hình Việt Nam đã chiếu băng video ghi cảnh “nhận tội” của một số nhân vật bị bắt.

Cơ quan chức năng Việt Nam đã khởi tố năm người bị bắt cùng đợt tội “Tuyên truyền chống nhà nước Xã hội chủ nghĩa” theo Điều 88 của Bộ Luật Hình sự.

Đây là tội danh mà chính quyền sử dụng trong đa số các vụ liên quan bất đồng chính kiến.

Nhưng theo mẹ Nguyễn Tiến Trung, nay con bà có thể sẽ bị mang ra xử tội “Hoạt động lật đổ chính quyền nhân dân” theo Điều 79, Bộ Luật hình sự.

Thay đổi tội danh?

Điều 88 Bộ Luật Hình sự Việt Nam quy định tội phạm gồm các hành vi: Tuyên truyền xuyên tạc, phỉ báng chính quyền nhân dân; Tuyên truyền những luận điệu chiến tranh tâm lý, phao tin bịa đặt, gây hoang mang trong nhân dân; Làm ra, tàng trữ, lưu hành các tài liệu, văn hoá phẩm có nội dung chống Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

Người phạm tội có thể bị phạt tù từ ba năm đến mười hai năm. Nếu trường hợp đặc biệt nghiêm trọng thì bị phạt tù từ mười năm đến hai mươi năm.

Tiến sỹ luật Cù Huy Hà Vũ nhận xét rằng, tội “Hoạt động lật đổ” bị coi là tội nặng hơn so với “Tuyên truyền chống Nhà nước”.

Ông nói với BBC từ Hà Nội: “Tội hoạt động lật đổ nặng hơn vì liên quan tới hành vi cụ thể”.

“Điều 79 quy định khung hình phạt cho tội này từ 12 năm tới chung thân hoặc tử hình. Hình phạt này cũng tương đương tội Làm gián điệp theo Điều 80 Bộ Luật Hình sự.”

Việc thay đổi tội danh nếu xảy ra, theo ông Hà Vũ, cho thấy có sự “không chắc chắn” của cơ quan an ninh điều tra.

“Ở Việt Nam không hiếm lần có việc cứ bắt đã, rồi tính tội sau.”

Trong khi đó, tin cho hay tuần trước phụ tá ngoại trưởng Hoa Kỳ đặc trách nhân quyền Michael Posner đã có cuộc gặp với một số đại diện các tổ chức chính trị người Việt ở hải ngoại để thông báo về cuộc đối thoại nhân quyền giữa Hoa Kỳ và Việt Nam vào ngày 10/11.

Tin từ mạng lưới dân chủ tại hải ngoại nói ông Posner cho hay Hà Nội ra chỉ dấu sẽ thả một số người hoạt động dân chủ, tuy không nói rõ tên.

Hoa Kỳ ‘can thiệp cho tám người (chiến sĩ dân chủ)’

BBC, ngày 3 tháng 12, 2009

Nguyễn Tiến Trung khi bị bắt
Nguyễn Tiến Trung bị bắt ngày 07/07

Một nguồn tin nói với BBC rằng Hoa Kỳ đã yêu cầu Việt Nam trả tự do cho tám người hoạt động chính trị.

Mặc dù phía Mỹ không tiết lộ tên những người này, nhưng Phó Tổng Thư Ký Đảng Dân Chủ Việt Nam ở hải ngoại nói dường như trong số này có ông Lê Công Định và Nguyễn Tiến Trung.

Bác sĩ Nguyễn Xuân Ngãi là một trong những người được mời dự một buổi gặp hôm 30/11 tại Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ.

Ông Michael Posner, phụ tá ngoại trưởng Hoa Kỳ đặc trách nhân quyền, đã thông báo cho đại diện các tổ chức chính trị người Việt Nam ở Mỹ về cuộc đối thoại nhân quyền Việt – Mỹ diễn ra hôm 10/11.

Lẽ dĩ nhiên hiện chưa có chi tiết gì về chuyện sự ‘can thiệp’ của giới chức Mỹ nếu có thì có tác động cụ thể thế nào đến việc xét xử hay bản án dành cho các ông Định và Trung hoặc những người bị bắt cùng vụ việc.

‘Được lưu tâm’

Nói với BBC, bác sĩ Nguyễn Xuân Ngãi nói tin đáng chú ý từ cuộc gặp là Hoa Kỳ “đề nghị thả tám nhân vật đặc biệt được lưu tâm, mà tên của họ đến giờ chưa được tiết lộ”.

“Họ can thiệp bằng cách phải có bản án xử như thế nào để sớm trả tự do, chứ không ngồi tù lâu quá.”

Họ can thiệp bằng cách phải có bản án xử như thế nào để sớm trả tự do, chứ không ngồi tù lâu quá.

Nguyễn Xuân Ngãi

Ông Ngãi nói “rõ nhất có lẽ là Lê Công Định và Nguyễn Tiến Trung, vì gia đình đã được vào thăm họ ba ngày sau khi diễn ra cuộc đối thoại nhân quyền”.

Trong cuộc gặp, ông Michael Posner bày tỏ quan tâm vấn đề công đoàn độc lập tại Việt Nam, đồng thời, tự do tôn giáo cũng được đề cập.

Có người đề cập trường hợp linh mục Nguyễn Văn Lý, người gần đây phải nhập viện sau khi liệt nửa người vì tai biến mạch máu não lần thứ hai trong năm.

Bác sĩ Ngãi nói cha Lý “có vẻ không có trong danh sách tám người vì phía Mỹ nói họ sẽ cố gắng bổ túc vào danh sách”.

Khi được hỏi về quan hệ Việt – Mỹ thời điểm này, bác sĩ Ngãi cho rằng “vì vấn đề Biển Đông, Mỹ chú ý đến Việt Nam nhiều hơn trước”.

Cuộc tiếp xúc với ông Michael Posner hôm 30/11 không đề cập vấn đề an ninh quốc phòng.

Tuy nhiên, ông Ngãi cũng nói ông gặp Thượng nghị sĩ Jim Webb của tiểu bang Virginia, người được cho là cổ vũ cho xu hướng đối trọng ảnh hưởng của Trung Quốc, gần đây có chuyến công du đến Đông Nam Á đến Việt Nam và Miến Điện.

BBC chưa có điều kiện kiểm chứng lại với các nguồn tin khác, nhất là từ chính giới Hoa Kỳ và Việt Nam về những phát biểu của ông Nguyễn Xuân Ngãi.

Tin mới nhất từ Việt Nam chỉ cho ngày xử các ông Lê Công Định, Nguyễn Tiến Trung và Trần Huỳnh Duy Thức đã sắp diễn ra dù không có chi tiết cụ thể về ngày giờ.

Thân nhân của những người bị bắt giam từ tháng 7/2009 xác nhận với BBC qua điện thoại rằng họ đều đã được tiếp xúc gia đình và được thông báo ngày xét xử đang đến gần.

Luật sư biện hộ Đoàn Thái Duyên Hải thuộc Văn phòng luật Hải Đoàn đã được vào trại giam tiếp xúc với Nguyễn Tiến Trung hôm 27/11 trong vòng một tiếng đồng hồ.

Đập phá hay sửa chữa Chùa An Hòa Tự PGHH?

Thanh Quang, phóng viên đài RFA 2009-12-03

Chúng tôi được tin nhiều tín đồ Phật Giáo Hòa Hảo ở Miền Tây báo động rằng Ban Trị Sự Trung Ương của Giáo Hội Phật Giáo Hòa Hảo mà họ cho là “quốc doanh” sắp sửa đập phá Chùa An Hòa Tự – một thánh tích của Phật Giáo Hòa Hảo tại An Giang.
Photo courtesy hoahao.org
Chùa An Hòa Tự Phật Giáo Hòa Hảo

Thanh Quang liên lạc với ông Nguyễn Thành Út, Giáo lý viên của Ban Trị Sự Trung Ương Giáo Hội PGHH vừa nói, và ông Trần Hòai Ân, một tín đồ PGHH luôn trăn trở cho quyền tự do tín ngưỡng của PGHH cùng truyền thống của Đạo này. Trước hết, ông Nguyễn Thành Út cho biết:

Sửa chữa không làm mất giá trị đạo giáo của Chùa

Ông Nguyễn Thành Út : Ban Trị Sự Trung Ương PGHH đang chuẩn bị để có thể là sửa sang lại một số cấu trúc, cấu kiện xây dựng hồi trước đây đã bị xuống cấp trầm trọng cho nên làm lại cho nó khang trang thêm chớ hổng có đập bỏ ạ.

Thanh Quang : Thưa, có tín đồ PGHH cho là Ban Trị Sự Trung Ương GHPGHH, mà họ gọi là quốc doanh đó, thực ra đã có thánh danh là Thánh Địa Hoà Hảo, giờ muốn xoá thánh tích PGHH là An Hoà Tự, thì vấn đề này như thế nào ạ? 

Cái chủ trương của Ban Trị Sự Trung Ương GHPGHH hiện nay không có gì gọi là thay đổi và làm mất đi cái giá trị cấu trúc của chân lý của Đức Huỳnh Giáo Chủ, mà đó là chỉ thay đổi trên một phương diện của địa dư mà thôi, thì đó cũng là cái tính của luật đào thải của xã hội mà thôi

Ô. Nguyễn Thành Út 

Ông Nguyễn Thành Út : Nói chung là không có cái gì là xóa hết và nó tuỳ vào tình hình và hoàn cảnh thực tế của một cái sự diễn tiến của xã hội mà thôi. Đây là một quy luật, nói chung là một quy luật đào thải. Nếu mà con người hiểu được cái tính duyên khởi của nó thì tất nhiên hiểu được là cái chủ trương của Ban Trị Sự Trung Ương GHPGHH hiện nay không có gì gọi là thay đổi và làm mất đi cái giá trị cấu trúc của chân lý của Đức Huỳnh Giáo Chủ, mà đó là chỉ thay đổi trên một phương diện của địa dư mà thôi, thì đó cũng là cái tính của luật đào thải của xã hội mà thôi 

Khi một cái tổ chức nào đó mà không định hình được bởi vì nó mất đi cái giá trị đạo đức và cái nhân và quả mà, cho nên cái tiến trình duyên khởi của nó sẽ bị trù dập và cái sự đổi mới khác sẽ tiến lên và sự tiến lên đó cũng vẫn giữ một bản chất đặc thù quan trọng của tinh thần của Đức Huỳnh Giáo Chủ.

Thanh Quang : Thưa, nhưng mà tín đồ PGHH than phiền là An Hoà tự hiện đang trong tình trạng tốt đẹp và theo họ thì một trăm năm nữa vẫn tốt đẹp, sao cần phải đập sửa lại ạ?

Ông Nguyễn Thành Út : Cái đó là một cái nhìn trù dập, một cái nhìn biên kiến và một cái nhìn thiếu đi cái bản chất của sự vật và sự việc của vấn đề. Vì mình là cái người hiểu biết theo cái lối kiến trúc về khoa học thì mình thấy rằng trên cuộc đời này nó có bốn cái quy luật gọi là thành trụ hoại không, khi mà cái giai đoạn nó đã đến hoại thì cái chu kỳ nó không thể còn bảo lưu và tồn tại được thì mình cũng có thể thay đổi, nhưng cái hình dáng nó không thay đổi mà mình chỉ cần thay đổi cái cấu trúc ở bên trong cho nó chắc chắn lại, còn tất cả cái hình thức, cái mô hình nó trước đây vẫn giữ y nguyên như vậy. Thì tôi nghĩ rằng cái sự thay đổi này nó không làm mất đi cái giá trị đạo đức của sự tiến bộ cho đạo PGHH của chúng ta ở Miền Nam Việt Nam. 

Trên cuộc đời này nó có bốn cái quy luật gọi là thành trụ hoại không, khi mà cái giai đoạn nó đã đến hoại thì cái chu kỳ nó không thể còn bảo lưu và tồn tại được thì mình cũng có thể thay đổi, nhưng cái hình dáng nó không thay đổi mà mình chỉ cần thay đổi cái cấu trúc ở bên trong cho nó chắc chắn lại, còn tất cả cái hình thức, cái mô hình nó trước đây vẫn giữ y nguyên như vậy.

Ô.Nguyễn Thành Út. 

Thanh Quang : Dạ. Xin cảm ơn ông Nguyễn Thành Út.

Cố ý xóa bỏ thánh tích dấu ấn của Đức Hùynh  Giáo Chủ

Chúng tôi liên lạc với ông Trần Hoài Ân, một chức sắc của Giáo Hội PGHH thuần tuý ở Miền Tây để tìm hiểu vấn đề này và được ông cho biết như sau .

Ông Trần Hoài Ân : Sự thật, trong mấy ngày gần đây vấn đề tín ngưỡng của PGHH lại tiếp tục xáo trộn. Ban Trị Sự GHPGHH Trung Ương quốc doanh do Đảng CSVN dựng lên sắp sửa đập phá một thánh tích của PGHH tức là ngôi chùa An Hoà Tự có vị trí tại vùng thánh địa PGHH, Thánh Địa Hoà Hảo, làng Hoà Hảo của tỉnh An Giang – Long Xuyên, nơi Đức Huỳnh Giáo Chủ khai sáng Đạo PGHH. 

Chính tay Đức Huỳnh Giáo Chủ thỉnh lư hương từ Tổ Đình, tức là nơi sanh của Ngài, đến an vị tại chánh điện của ngôi chùa An Hoà Tự. Cho nên từ năm 1945 đến nay chùa An Hoà Tự là một thánh tích đặc biệt không thể dời đổi, không thể đập phá, rất tôn nghiêm, rất trân trọng của cộng đồng tín đồ PGHH. 

Chùa này, trước khi Đức Huỳnh Giáo Chủ khai sáng Đạo PGHH thì là một chùa làng, nhưng khi Đức Huỳnh Giáo Chủ khai sáng PGHH, quý ông trong làng như quý ông Biện Hùm, quý ông Tư Sư Vàng sau khi quy ý với Đức Huỳnh Giáo Chủ thì các ông hiến dâng ngôi chùa đó cho PGHH, và sở dĩ nó là thánh tích đặc biệt của PGHH là vì chính tay Đức Huỳnh Giáo Chủ thỉnh lư hương từ Tổ Đình, tức là nơi sanh của Ngài, đến an vị tại chánh điện của ngôi chùa An Hoà Tự. Cho nên từ năm 1945 đến nay chùa An Hoà Tự là một thánh tích đặc biệt không thể dời đổi, không thể đập phá, rất tôn nghiêm, rất trân trọng của cộng đồng tín đồ PGHH. Nhưng trong thời cai trị của Đảng CSVN thì khi dàn dựng ra một ban trị sự GHPGHH quốc doanh để loè mắt công luận quốc tế rằng là đã cho PGHH tự do nhưng mà thật sự ở bên trong là thôn tính hết mọi cái đường nét tín ngưỡng quan trọng của PGHH, kể cả hôm nay chuyện rất quan trọng là Ban Trị Sự Trung Ương GHPGHH quốc doanh chuẩn bị đập phá, thay đổi cái dạng tích của ngôi chùa có truyền thống thiêng liêng đó.

Thanh Quang : Dạ thưa, Ban Trị Sự GHPGHH Trung Ương quốc doanh như ông vừa nói có đưa ra lý do gì để họ đập phá hay sửa sang lại An Hoà Tự hay không ạ?

Ông Trần Hoài Ân : Thưa toàn thể quý vị, tất nhiên họ viện dẫn là chùa kém vẻ mỹ quan và chùa bị xuống cấp, nhưng thật sự nếu mọi người có đến Việt Nam thì xin quý vị một lần tới An Hoà Tự. An Hoà tự hiện còn rất đẹp đẽ, rất uy nghiêm, rất khang trang, bởi vì mới có tôn tạo nền năm 2001 đây, cho nên tôi khẳng định một trăm phần trăm là cái vẻ mỹ quan của chùa An Hoà Tự và cái sức tồn tại của chùa An Hoà Tự ít nhứt một trăm năm nữa mới bị xuống cấp. Nhưng mà người ta dựa vào hai yếu tố giải thích đó để người ta đập phá, người ta cho rằng người ta sẽ làm lại đẹp hơn. 

Sự thật bên trong thâm tâm là người ta muốn đập phá cái di tích quan trọng của PGHH. Xây dựng lại mới đồng ý là nó sẽ khang trang, nó sẽ đẹp hơn, nhưng mà nó sẽ là ngôi chùa vô hồn đối với khách thập phương và đối với cộng đồng tín đồ PGHH. 

Thanh Quang : Như vậy, theo tín đồ PGHH thì thực chất của vấn đề là ở chỗ nào ạ?

Ông Trần Hoài Ân : Sự thật bên trong thâm tâm là người ta muốn đập phá cái di tích quan trọng của PGHH. Xây dựng lại mới đồng ý là nó sẽ khang trang, nó sẽ đẹp hơn, nhưng mà nó sẽ là ngôi chùa vô hồn đối với khách thập phương và đối với cộng đồng tín đồ PGHH, cho nên cái mà tín đồ PGHH muốn duy trì là gì, đây là cái thánh tích đặc biệt có dấu tay của Đức Huỳnh Giáo Chủ, và trước khi bị thảm sát vắng mặt Đức Huỳnh Giáo Chủ có dặn lại Đức Ông, tức là thân sinh của Ngài, là ngôi chùa này nguyên hình nguyên trạng của nó phải được giữ gìn cho đến ngày Ngài trở lại, không ai có thể thay đổi hết, cho nên cái cách của GHPGHH quốc doanh do Đảng dựng lên nhằm mục tiêu người ta muốn xoá thánh tích, tức là người ta muốn xoá mờ đi những cái thiêng liêng, những cái đặc biệt của tôn giáo, của các tôn giáo trong nước, ví dụ như Phật Giáo, Thiên Chúa Giáo, Cao Đài Giáo cũng chịu chung số phận đó như PGHH.

Xin ngưng mọi sửa chữa thay đổi Chùa An Hòa Tự 

Thanh Quang : Dạ. Thưa, họ có nói cụ thể là vào thời điểm nào họ sẽ thực hiện lời họ vừa nói hay không ạ?

Ông Trần Hoài Ân : Thưa anh Thanh Quang, thời gian không còn lâu nữa, rất cận.

Thanh Quang : Thưa, ngay trong lúc này thì phản ứng của tín đồ PGHH ra sao ạ?

Ông Trần Hoài Ân : Cộng đồng tín đồ PGHH trong nước và hải ngoại đang cực lực lên tiếng kiến nghị, phản đối, và bằng mọi giá là xin Ban Trị Sự Trung Ương PGHH dù đang phục vụ cho Đảng cũng phải dừng lại sự việc đó, bởi vì nếu tiến hành làm như thế là làm tổn thương rất lớn cho tín ngưỡng của tín đồ PGHH.  

Chúng ta nên đến đó hoặc chúng ta làm văn thư, hoặc chúng ta đến đó xin tiếp kiến trực tiếp, trong tinh thần ôn hoà chúng ta bày tỏ cái ý chí và cái mong muốn của chúng ta là xin quý vị không nên với tư cách gì mà đập phá và thay đổi cái thánh tích của PGHH.  

Gần đây rất đông rất nhiều tín đồ PGHH các nơi điện thoại về hỏi ý kiến chúng tôi là mình phải như thế nào để chận đứng sự việc, kể cả PGHH ở hải ngoại, thì tôi khuyên anh em là chúng ta nên đến đó hoặc chúng ta làm văn thư, hoặc chúng ta đến đó xin tiếp kiến trực tiếp, trong tinh thần ôn hoà chúng ta bày tỏ cái ý chí và cái mong muốn của chúng ta là xin quý vị không nên với tư cách gì mà đập phá và thay đổi cái thánh tích của PGHH.

Theo lời đề xuất của chúng tôi thì anh em đồng đạo PGHH đã làm những công việc là thành lập những đoàn từ vài chục người thay phiên nhau đến xin tiếp kiến với Ban Trị Sự Trung Ương PGHH quốc doanh để mà bày tỏ mong muốn là họ không bao giờ muốn thánh tích PGHH bị đập phá.

Rồi cộng vào đó là người ta làm văn thư, làm tâm thư, v.v. bằng mọi cách người ta gửi tới để người ta cản ngăn và người ta xin Ban Trị Sự Trung Ương PGHH dù đang phục vụ cho ai cũng phải biết trân trọng cái thánh tích của PGHH. Còn nếu công việc không dừng lại, Ban Trị Sự PGHH quốc doanh vẫn tiếp tục làm thì tôi không biết cái gì có thể xảy ra xung quanh vấn đề này..

Thanh Quang : Thưa, nhân đây ông có nhận xét như thế nào về nỗi thăng trầm của PGHH trong giai đoạn hiện nay ?

Ông Trần Hoài Ân : PGHH sau 30-4-1975 thì PGHH gánh quá nhiều tai nạn, ví dụ như trước kia thì Đức Huỳnh Giáo Chủ của Hoà Hảo đã bị thảm sát, rồi giáo lý của Đạo Hoà Hảo đã bị cắt xén đi quá nhiều, rồi thánh danh PGHH, tức là Thánh Địa Hoà Hảo trong thời Đệ Nhị Cộng Hoà – nơi sanh của Đức Huỳnh Giáo Chủ gọi là Thánh Địa Hoà Hảo, kể cả thể thức hành chánh của chính quyền thời đó cũng là Thánh Địa Hoà Hảo, nhưng mà tới cái thời cộng sản thì người ta đã đổi lại là thị trấn Phú Mỹ, tức là người ta xoá thánh danh, rồi bây giờ lại là chuẩn bị phá thánh tích, rồi thánh lễ của PGHH gồm có 3 lễ lớn thì người ta cắt bỏ một lễ 25 tháng 2. Nói tóm lại là tín ngưỡng chân truyền của PGHH bị xâm hại, bị tổn thất gần hết.

Thanh Quang : Dạ. Xin cảm ơn ông Trần Hoài Ân, một chức sắc PGHH ở Miền Tây .

Thư của một cán bộ lão thành CSVN về kết qủa điều tra vụ Tổng Cục 2

Dưới đây là phóng ảnh nguyên văn bức thư này

 Thulaothanh CSVNve vuVUMINHTRI_0001

Thulaothanh CSVNve vuVUMINHTRI_0002

Thulaothanh CSVNve vuVUMINHTRI_0003[1]

Thulaothanh CSVNve vuVUMINHTRI_0004[1]

Thulaothanh CSVNve vuVUMINHTRI_0005[1]

Mâu thuẫn trong việc giải quyết các tăng sinh Làng Mai

Gia Minh, phóng viên RFA 2009-12-02

Thông tin mới nhất về số những tăng sinh tu tập theo pháp môn Làng Mai bị cưỡng bức rời khỏi Bát Nhã hồi ngày 27 tháng 9 vừa qua là nhóm gần 20 người được vị trụ trì Chùa Từ Đức tại huyện Cam Lâm, tỉnh Khánh Hòa bảo lãnh cho tá túc trong thời gian qua cũng đã bị công an tỉnh Khánh Hòa trục xuất hồi chủ nhật 29 tháng 11 vừa rồi. 

photo courtesy phusa-online

Các tăng sĩ bị đuổi ra khỏi Thiền Viện Bát Nhã  

Phần âm thanh

Tải xuống âm thanh

Email bản tin này

Thông tin mới nhất về số những tăng sinh tu tập theo pháp môn Làng Mai bị cưỡng bức rời khỏi Bát Nhã hồi ngày 27 tháng 9 vừa qua là nhóm gần 20 người được vị trụ trì Chùa Từ Đức tại huyện Cam Lâm, tỉnh Khánh Hòa bảo lãnh cho tá túc trong thời gian qua cũng đã bị công an tỉnh Khánh Hòa trục xuất hồi chủ nhật 29 tháng 11 vừa rồi.

Hành động trục xuất mới của chính quyền địa phương tỉnh Khánh Hòa không phù hợp tinh thần của những tuyên bố từ phía Ban Tôn giáo Chính phủ Việt Nam, cũng như công văn của Trung ương giáo hội Phật giáo Việt Nam đưa ra.

Hướng giải quyết của GHPGVN

Trước khi xảy ra sự việc hồi ngày 27 tháng 9 vừa qua, khi số gần 400 tăng sinh tại Tu viện Bát Nhã, ở xã Dambri, huyện Bảo Lộc tỉnh Lâm Đồng bị trục xuất ra khỏi đó trong một ngày chủ nhật mưa bão, chúng tôi có cuộc trao đổi với ông Bùi Hữu Dược, viên chức phụ trách Phật giáo của Ban Tôn giáo chính phủ Việt Nam và được ông trình bày giải pháp mà theo ông là phù hợp như sau:

Sau việc của ngày 27 tháng 6, thì ngày 5 tháng 7, đoàn đại diện của GHPGVN đã lên làm việc với Ban Trị sữ tỉnh Lâm Đồng và đã tới làm việc trực tiếp với nhóm tăng ni thuộc tu viện Bát Nhã và nhóm người tu theo pháp môn Làng Mai tại tu viện Bát Nhã. Theo đề nghị của phía GHPGVN là tôn trọng việc tu hành của những người đang tu tại tu viện Bát Nhã trong mùa An Cư, nên đại diện của GHPGVN đề nghị nên để cho họ tiếp tục tu cho mãn mùa An Cư, tức nhằm vào ngày 15 tháng 7 âm lịch hay ngày mùng 2 tháng 9 dương lịch. GHPGN cũng có một hướng có thể giải quyết giúp cho nhóm tu theo pháp môn Làng Mai đó là họ có thể lựa chọn những người thầy tri kỷ của mình trong truyền thống của Phật giáo để có thể được tiếp tục tu theo pháp môn Làng Mai.

Đó là đề nghị của phía GHPGVN và chúng tôi thấy điều đó là hoàn toàn hợp lý, sau đó tôi nghĩ nhóm tu theo pháp môn Làng Mai nên thực hiện đúng tinh thần của pháp luật.

Do có sự không bảo lãnh của Thượng tọa Thích Đức Nghi trụ trì tu viện Bát Nhã, cho nên việc ở lại Bát Nhã của nhóm tu theo pháp môn Làng Mai là không có thuận lợi lắm, và tôi được biết GHPGN cũng có một hướng có thể giải quyết giúp cho nhóm tu theo pháp môn Làng Mai đó là họ có thể lựa chọn những người thầy tri kỷ của mình trong truyền thống của Phật giáo để có thể được tiếp tục tu theo pháp môn Làng Mai; hoặc họ có thể xin phép GHPGVN tới tu tập tập trung ở một trường Phật học nào đó do Giáo hội Phật giáo Việt Nam quản lý, như vậy điều kiện và cơ hội cho họ tiếp tục tu theo pháp môn Làng Mai là vẫn còn, và hướng giải quyết như thế tôi cho là hợp tình, hợp lý. 

Đơn bảo lãnh các tăng sinh không được giải quyết?

Ngoài Chùa Phước Huệ ở thị xã Bảo Lộc, nơi đầu tiên mà các tăng sinh bị trục xuất phải chạy tới tá túc đầu tiên, thì một số nơi khác cũng mong muốn được bảo lãnh toàn bộ các tăng sinh Làng Mai như Thiền Viện Vạn Hạnh tại Đà Lạt. Tuy nhiên đến nay đơn bảo lãnh đó vẫn chưa được phúc đáp như trình bày của thượng tọa Thích Viên Thanh, trụ trì Thiền Viện Vạn Hạnh ở Đà Lạt:

Trung ương có ra văn bản 507 đề xuất ý kiến để giải quyết, nhưng mà bên tỉnh Lâm Đồng chưa có ý kiến. Thường trực Ban Trị sự cũng thống nhất là để tăng thân tu học cho ổn định.

Tôi đã bảo lãnh 380, nhưng bây giờ có một số bị về các nơi rồi, còn ở Phước Huệ khoảng hơn 200. Họ có thể xin phép GHPGVN tới tu tập tập trung ở một trường Phật học nào đó do Giáo hội Phật giáo Việt Nam quản lý, như vậy điều kiện và cơ hội cho họ tiếp tục tu theo pháp môn Làng Mai là vẫn còn. 

 

Gia Minh:Cơ sở vật chất để bảo lãnh có đầy đủ không thưa Thầy?  

Thầy Thích Viên Thanh: Vì thấy tinh thần tu học của họ nên bảo lãnh về chứ cơ sở thì không rộng rãi bằng các nơi.  

Gia Minh: Hẳn nhiên là Thầy có theo dõi và nắm thông tin là có một số người địa phương không bằng lòng với số tăng sinh Làng Mai đang ở Chùa Phước Huệ và yêu cầu họ phải đi?  

Thầy Thích Viên Thanh: Cái đó cũng có. Giáo hội muốn tìm một chổ cho tăng thân họ ở để tu học cho ổn định, vì tất cả những người này họ chỉ chuyên tu thôi.

Gia Minh: Thầy có thấy trước là sẽ có những trở ngại như ở Chùa Phước Huệ khi Thầy bảo lãnh các tăng thân Làng Mai đến tại Thiền viện Vạn Hạnh?  

Thầy Thích Viên Thanh: Khi mà bảo lãnh về thì được sự thống nhất của trung ương, và tỉnh Lâm Đồng cũng đồng ý nữa thì chúng tôi sẽ làm các thủ tục giấy tờ để họ tu ổn định, mà khi thủ tục giấy tờ đầy đủ thì cũng  không có vấn đề gì.  

Gia Minh: Thầy có hy vọng là phía chính quyền có đồng ý với đơn bảo lãnh cho 380 vị đó không?  

Thầy Thích Viên Thanh: Tôi cũng đang chờ đợi và không biết ý của họ như thế nào để mà ổn định, giáo hội cũng đang chờ đợi thôi. Trong thời gian chờ đợi hơn hai tháng qua, các tăng sinh đang tá túc tại Chùa Phước Huệ ở thị xã Bảo Lộc, cũng như những nơi khác vẫn gặp trở ngại vì chưa thể ổn định cuộc sống tu học, và không biết bị trục xuất vào lúc nào.

 

Trong thời gian chờ đợi hơn hai tháng qua, các tăng sinh đang tá túc tại Chùa Phước Huệ ở thị xã Bảo Lộc, cũng như những nơi khác vẫn gặp trở ngại vì chưa thể ổn định cuộc sống tu học, và không biết bị trục xuất vào lúc nào.

Gần đây nhất, vào chiều chủ nhật ngày 29 tháng 11 vừa qua, nhóm hơn  20 tăng sinh theo pháp môn Làng Mai tiếp tục bị trục xuất khỏi nơi tu tập mới, đó là Chùa Từ Đức ở huyện Cam Lâm, tỉnh Khánh Hòa. Chùa này do thượng tọa Thích Giác Viên trụ trì và bảo lãnh các tăng sinh theo tinh thần các công văn của Giáo hội Phật giáo Việt Nam, tức giáo hội được chính quyền Hà Nội công nhận, với yêu cầu các vị trụ trì nhận cho ở tại chùa và địa phương tạo điều kiện giúp các tăng sinh được tiếp tục tu học.   

Sự kiện này cho thấy trong tuyên bố của người đại diện Ban Tôn giáo Chính phủ và thực tế các diễn biến trong thời gian qua, thì các tăng sinh Làng Mai tiếp tục gặp khó trong bước đường tu học; dù rằng theo họ thì lý do đưa ra đầu tiên là người trụ trì Bát Nhã không bảo lãnh họ nữa, phải tìm người khác bảo lãnh, nay dù có những vị tri kỷ muốn tiếp nhận họ đến tu tập như tại Chùa Phước Huệ, , Thiền viện Vạn Hạnh ở Đà Lạt, Chùa Từ Đức ở Khánh Hòa… họ vẫn tiếp tục bị yêu cầu phải ra đi.

Khi nhà văn Phạm Đình Trọng vĩnh biệt đảng Cộng sản

Bùi Tín

Nhà văn Phạm Đình Trọng vừa tuyên bố từ bỏ đảng cộng sản. Tin này đang làm xôn xao hàng ngũ các nhà văn, nhà báo, cựu chiến binh và anh chị em trí thức, sinh viên và học sinh ở trong nước. Vì Phạm Đình Trọng là một khuôn mặt được quen biết rộng rãi, một nhà văn của quần chúng, một nhà báo gắn liền với thời sự quê hương, một nhà thơ có cốt cách dân gian, được tuổi trẻ ngưỡng mộ, gần đây được cư dân bloggers trong nước quý mến.Tôi quen biết Phạm Đình Trọng từ cuối những năm 70, khi anh là sỹ quan thông tin, thỉnh thoảng gửi tin và lời bình luận cho báo Quân đội Nhân dân.Trọng rất chịu khó đi, đi nhiều và đi xa, có mặt ở những địa điểm hiểm yếu, ít người đến được. Anh từng đi dọc Trường Sơn, cả phía Đông và phía Tây, xuống tận Hòn Khoai, đảo Phú Quốc, đảo Thổ Chu, ra tận Trường Sa, rồi lên tận Vị Xuyên, Hà Giang khi còn nặng mùi thuốc súng. Tôi còn nhớ những sổ ghi chép dày của anh và chiếc máy ảnh khoác vai; một nhà báo xông xáo nhưng trầm tư, con người sống sâu sắc, lại rất tình cảm.Tôi cũng có dịp ghé quê anh, ở huyện Tiên Lữ, Hưng Yên, quê của nhãn lồng, nhãn tiến, với những đầm sen thơm nức, và làng Thiện Phiến của Trọng, nổi tiếng về táo, quả táo ta tròn mọng, thơm béo, xâu từng chuỗi dài, đông khách mua ở cổng trường trung học.Trọng học Đại học Văn, từng qua Trường Viết Văn Nguyễn Du, rồi về làm báo ở Thời báo Tài chính. Trọng có những tác phẩm gây tiếng vang, do tính ngay thật của anh, “dọc đường thấy chuyện bất bình chẳng tha”… 

Cuốn “Rừng và Biển” và “Sự Tích Đảo” kết hợp khoa học với trữ tình được bạn đọc trẻ ưa thích. Cuốn “Thời nghịch lý” tô đậm thời sự nóng hổi đất nước gây nhiều tranh cãi. Bài báo “Tiếng Hà Nội ” của anh làm xôn xao giới giáo dục và học sinh. Nhưng bài báo dài gây phản ứng mạnh, đồng tình mạnh mẽ mà phản ứng cũng gay gắt là “Ăn Mày Dĩ Vãng “trên mạng Talawas, đề cập đến cuộc vận động học tập đạo đức Hồ Chí Minh mà tác giả cho là giả dối, một vở kịch suy đồi, đầy tính chất đạo đức giả.

Phạm Đình Trọng gần đây trở thành một gương mặt kẻ sỹ Bắc Hà mang bản chất phản biện khá quyết liệt.

Con người của Trọng có tư chất đấu tranh sâu sắc còn ở chỗ anh là một chiến sỹ, một “con nhà võ” có nòi, vì quê anh có nhiều lò võ cổ truyền, bản thân anh rất sùng võ nghệ, anh từng luyện võ gian khổ, thành một võ sư quyền thuật cổ truyền.

Ngày 3-3-2009, nhà báo Phạm Đình Trọng gửi lá thư cho thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng góp ý, kiến nghị, chất vấn, nhân danh một công dân, về những chuyện lớn lao của quốc gia, từ chống tham nhũng đến bảo vệ chủ quyền, lãnh thổ, biển đảo của tổ quốc, về chủ trương nguy hiểm tệ hại khai thác bô-xít trên Tây Nguyên…

Ngày 20-11-2009, khi Phạm Đình Trọng tuyên bố công khai vĩnh biệt đảng Cộng sản sau gần 40 năm trong đảng, tôi cho là một bước tất yếu.

Cũng như ông Trần Độ từ bỏ hết danh nghĩa hão huyền trung tướng, hàng tá huân chương vô duyên, danh nghĩa đảng viên mai mỉa, để trở về với quần chúng và lẽ phải, đòi lại quyền tự do cho bà con mình; như ông Hoàng Minh Chính từ bỏ đảng cộng sản để trở về xây dựng đảng dân chủ (mới) của thế kỷ 21, như hàng trăm ngàn đảng viên từ bỏ sinh hoạt đảng cộng sản, ngấm ngầm vĩnh biệt đảng, quay lưng lại với đảng.

Hãy nghe ông tổng bí thư Nông Đức Mạnh và ông trưởng ban tuyên gíáo Tô Huy Rứa la trời lên về hiện tượng “nhạt lý tưởng”, “nhạt đảng” lan tràn trong đảng, về hiện tượng đảng bị suy yếu, xói mòn, khinh thị và chê bai bởi nhân dân, về nguy cơ mà bộ chính trị cộng sản gọi là “tự diễn biến hoà bình”, nghĩa là tự nó rã rời, rữa nát, tự nó phá nó từ nhũng căn bệnh hiểm nghèo trong lục phủ ngũ tạng, nặng nề nhất là bệnh quan liêu, tham nhũng, cướp đất cướp của của dân, cậy quyền thế áp bức hà hiếp dân đen, kết bè phái để làm giàu trên tiền của của đất nước và nhân dân.
 
Cái danh nghĩa “đảng viên cộng sản” càng thêm tủi nhục khi trong thế giới văn minh đã kết luận rành rọt rằng chủ nghĩa cộng sản và chủ nghĩa xã hội hiện thực (bao gốm toàn phe XHCN trước đây mà đảng CS Việt nam là một thành viên) là tội ác lớn nhất, là sai lầm lịch sử lớn nhất trong thế kỷ 20.

Xin hãy nghe ông Đặng Quốc Bảo, từng là trung tướng, uỷ viên trung ương đảng Cộng sản, trưởng ban Khoa giáo trung ương đảng, từng từ bỏ chức Bí thư thứ nhất Đoàn Thanh niên CS Hồ Chí Minh, phát biểu đầu năm nay: “Sai lầm lớn nhất của Đoàn thanh niên CS năm 2008 là đã giới thiệu 15 vạn thanh niên vào đảng cộng sản, mà đều không phải là thanh niên ưu tú, lại toàn là thanh niên cơ hội, vào đảng chỉ do động cơ vụ lợi cá nhân”…Một nhận định sâu sắc, điểm đúng huyệt, từ bên trong.

Cho nên nhà văn Phạm Đình Trọng chào vĩnh biệt đảng Cộng sản đâu là chuyện lạ. Sẽ còn nhiều, rất nhiều đảng viên Cộng sản vỡ mộng, tự trọng, kiên cường chọn cho mình con đường danh dự mà lương tâm và lòng yêu nước trong sáng mách bảo.

Từ Pháp, nhân danh người từng quen biết anh, cũng từng vỡ mộng từ trong đảng Cộng sản để trở thành nhà báo tự do của nhân dân, tôi xin ngả mũ kính chào anh, một nhà văn tự do cao quý!

Nguồn: VOA

Xô dân vào nơi khốn! Đẩy nước đến chốn nguy!!!

Xã luận bán nguyệt san Tự do Ngôn luận số 88 (01-12-2009)

           Ngày 23-11-2009, bất chấp những phân tích hơn thiệt và sự phản đối kịch liệt của nhiều nhà trí thức trong lẫn ngoài nước, Quốc Hội CSVN đã thông qua Luật về dân quân, tự vệ. Theo luật mới này, người dân “phải tham gia dân quân tự vệ, các địa phương phải tổ chức lực lượng dân quân, các cơ quan phải tổ chức tự vệ để đóng góp cho nền quốc phòng toàn dân”.

Theo báo Nhân Dân, dự thảo Luật được thông qua với tỷ lệ hơn 89% số đại biểu tán thành và sẽ có hiệu lực thi hành kể từ ngày 1-7-2010. Áp dụng cho tranh chấp trên biển, mỗi đội tàu cá sẽ có một tổ vừa đánh cá, vừa thi hành nhiệm vụ của dân quân tự vệ, được gọi là “Dân quân tự vệ biển”. Lực lượng mới này sẽ được trang bị súng ống và sẽ phối hợp với biên phòng, cảnh sát biển lẫn hải quân để bảo vệ ngư dân và bảo vệ chủ quyền lãnh thổ.

            Hai ngày sau, 25-11-09, cũng bất chấp sự thiếu hiểu biết chuyên môn của mình và lời cảnh báo của nhiều nhà khoa học lẫn kinh tế học đầy tâm huyết, các thành viên Quốc hội CSVN lại thông qua (với 77% phiếu tán đồng) Nghị quyết về điện hạt nhân (ĐHN). Nghị quyết này nêu rõ: sẽ tiến hành Dự án điện hạt nhân tại tỉnh Ninh Thuận, gồm 2 nhà máy tạo ra năng lượng nguyên tử để cung cấp điện cho hệ thống điện quốc gia cùng góp phần phát triển kinh tế xã hội cả nước và toàn tỉnh. Nhà máy số 1 đặt tại xã Phước Dinh, huyện Thuận Nam, nhà máy số 2 đặt tại xã Vĩnh Hải, huyện Ninh Hải, tỉnh Ninh Thuận, với công suất trên 4.000 MW. Tổng mức đầu tư dự toán khởi thủy là 12 tỷ mỹ kim. Nhà máy số 1 sẽ bắt đầu được xây dựng năm 2014, để tổ máy đầu tiên được vận hành vào năm 2020.            

            Đây là hai sự kiện đã gây xôn xao dư luận, nếu không muốn nói là gây lo âu, ngỡ ngàng, thất vọng và phẫn nộ cho cộng đồng người Việt trong lẫn ngoài nước. Tại sao ?

            1- Ngay từ khi còn là dự luật, “Dân quân tự vệ biển” đã bị rất nhiều người phản đối vì cho rằng đây là một đạo luật đẩy ngư dân vào chỗ khốn, buộc họ phải đối mặt với những nguy cơ chết người trên biển. Những đồng bào này, ngoài việc phải thường xuyên đối phó với sóng to gió lớn, thời tiết bất ngờ đổi thay, phải căng mắt vểnh tai để dò ra các luồng cá di chuyển, còn phải dáo dác nhìn quanh để phát hiện sự xuất hiện của “các tàu lạ” (nói theo kiểu nhà nước và báo chí CS) hòng chạy trốn cho kịp. Nay lại buộc mang thêm cây súng với khả năng “tay ngang, không chuyên nghiệp”, làm sao họ chống trả được với những lực lượng nhỏ như cướp biển, nói gì đến những tầu chiến được trang bị tối tân của Trung Cộng đang tung hoành trên khắp Biển Đông? Không vũ khí thì còn hy vọng sống sót, chứ nếu bị phát hiện có súng ống khí tài, thì cầm chắc là họ sẽ bị tiêu diệt.

            Một trong những người có ý kiến tiêu biểu về vấn đề này là tiến sĩ luật Cù Huy Hà Vũ. Trong Kiến nghị khẩn cấp gởi Quốc hội ngày 19-11-2009, ông đã cho rằng lập Dân quân Tự vệ biển là một sai lầm chiến lược với những lý do như sau: 1- Bảo vệ tính mạng của nhân dân là nghĩa vụ của Nhà nước, nay trang bị vũ khí cho ngư dân để họ tự vệ trong trường hợp bị nước ngoài tấn công trên biển là Nhà nước thoái thác nghĩa vụ này. 2- Thành lập Dân quân Tự vệ nói chung, Dân quân Tự vệ biển nói riêng là vượt quá Hiến pháp điều 77 vốn quy định “công dân phải làm nghĩa vụ quân sự và tham gia xây dựng quốc phòng toàn dân” giữa thời bình trong tổ chức duy nhất là quân đội. 3- Khẳng định và bảo vệ chủ quyền quốc gia trên biển không phải là chức năng của ngư dân. Người dân đi biển là để mưu sinh còn khẳng định hay bảo vệ chủ quyền tổ quốc trên biển là chức năng của Nhà nước và quân đội. 4- Dân quân Tự vệ biển rất dễ trở thành “ngòi nổ” cho chiến tranh xâm lược lãnh thổ Việt Nam. Bởi lẽ với tư cách lực lượng vũ trang không chuyên, thiếu phương tiện và sự chỉ huy thống nhất như lực lượng vũ trang chính quy, họ có thể bắn nhầm dân thường nước ngoài hoặc nổ súng không cần thiết khi bị khiêu khích, và như vậy tạo cớ cho ngoại quốc xâm lược. 5- Dân quân Tự vệ không thể là lực lượng tác chiến trên biển. Cuộc chiến trên biển khác hẳn cuộc chiến trên đất liền. Chỉ các vũ khí tối tân như phi cơ, tàu chiến, tên lửa mới có khả năng bảo vệ hải phận. Giao cho dân binh nhiệm vụ bảo vệ chủ quyền quốc gia trên biển không gì khác hơn là đẩy họ vào chỗ chết. 6- Lập Dân quân Tự vệ biển để bảo vệ sinh mạng của ngư dân, bảo vệ chủ quyền quốc gia trên biển là làm mất uy tín của quân đội, là cổ võ thường dân xông vào cửa tử thay cho binh lính.

            Trên thực tế, điều này không phải không có cơ sở. Kể từ vụ ngư dân Thanh Hóa bị lính Trung Cộng bắn chết tháng 1-2005 đến vụ ngư dân Quảng Ngãi bị lính Trung Cộng cướp bóc tháng 9 mới rồi, đồng bào hành nghề trên biển luôn bị nhà cầm quyền, tàu cứu hộ và lực lượng hải quân CSVN bỏ mặc. Trong cuộc phỏng vấn của đài Á châu Tự do ngày 03-11-2009, hai ngư dân đã chua chát cho biết: “Trong những trường hợp “tàu lạ” đâm chìm tàu đánh cá, tàu hàng của mình (như hôm 19-05-2009), thì tàu hải quân Việt Nam lẫn tàu cảnh sát biển đều không có… Chúng tôi phải gọi ngư dân cùng quê làm ở gần đó tới cứu và sau đó chúng tôi phải thuê một cái ghe chở 26 lao động vào trong đất liền”. Còn trong cơn bão số 1 năm 2008, “anh em cũng chìm, cũng chết, nhưng tàu cứu nạn, cứu hộ chỉ chạy ra đứng chờ mình đi kiếm. Mấy ông tỉnh điện thoại, biểu mình cố gắng đi kiếm người rồi nhà nước cho dầu mỡ.  Kiếm rồi hết bao nhiêu dầu mỡ thì về họ cho lại”…

            Thành ra, Dân quân tự vệ biển chỉ là một mưu đồ của Việt Cộng nhằm tránh đụng độ trực tiếp với đàn anh Trung Cộng trên biển. Ngoài ra, còn phải thêm rằng việc buộc người dân “phải tham gia dân quân tự vệ, các địa phương phải tổ chức lực lượng dân quân, các cơ quan phải tổ chức tự vệ để đóng góp cho nền quốc phòng toàn dân” ngay giữa thời bình như thế này chỉ là cách đảng CS muốn có thêm một biện pháp để kiểm soát xã hội cho chặt chẽ hơn, trong tình thế nhân dân đang chực nổi loạn để lật đổ cái chế độ xấu xa, thối nát và tàn bạo này!

            2- Dự án điện hạt nhân cũng là một vấn đề gây lo âu và công phẫn trong dư luận. Nhiều nhà khoa học, nhà kinh tế đã mạnh mẽ cảnh báo về chuyện này. Nổi bật nhất trong số đó là ông Phùng Liên Đoàn, một chuyên gia thượng thặng người Việt về điện hạt nhân đang sống tại Mỹ. Ông cho biết: “Điện rất cần thiết cho phát triển kinh tế, nhưng việc sản xuất điện mất rất nhiều tiền và thời gian. Vì thế, khảo sát và đề xuất cách cung cấp điện cho tương lai là việc quan trọng. Tuy nhiên, việc đệ trình lên Quốc hội một đề án Điện hạt nhân lớn 8000 MW, trong khi Quốc hội có rất ít thì giờ [lẫn kiến thức! BBT] và người dân đủ mọi thành phần chưa có cơ hội hiểu biết và đóng góp, là một việc làm có rất nhiều rủi ro sai lầm dẫn đến phí phạm ngân sách quốc gia vốn đã rất eo hẹp. Mong muốn xây dựng nhà máy ĐHN để thành một “cường quốc” ĐHN là một việc duy ý chí không có cơ sở vững chắc. Tôi ở nước ngoài nghe nói vài năm trước ta có dự án lớn “điện toán hóa” các cơ quan giáo dục toàn quốc nhưng ngày nay tiền đã tiêu hết nhưng kết quả thì không như dự kiến. Chương trình có ĐHN to lớn để sánh vai với các nước giàu và công nghệ cao thì tốn kém hơn ngàn lần kinh nghiệm đó. Ta không thể tin ngay một số người đã có định kiến sẵn là ta “thừa sức làm” vì đó là duy ý chí. Quốc hội nên yêu cầu chính phủ nghiên cứu kỹ lưỡng hơn với điều kiện có sự phản biện của người dân, nhất là giới trí thức có am hiểu về khoa học, kinh tế, xã hội, và quốc phòng liên quan đến ĐHN và tương lai của đất nước”. Ông Đoàn cũng phân tích những rủi ro VN có thể gặp phải khi xây dựng loại nhà máy này: “Rủi ro thì nhiều lắm! Tôi chỉ tóm tắt thành 7 rủi ro phóng xạ và kỹ nghệ, 6 rủi ro kinh tế, và 2 rủi ro quốc phòng. Trong trường hợp VN, tôi nghĩ rủi ro lớn nhất là ta sẽ mắc nợ triền miên mà người dân lại không có điện theo như dự kiến. Việc này có xác suất khá cao… Ví dụ, khả năng ta hiểu chưa kỹ các lời chào bán của người bán hàng ĐHN là cao; khả năng ta suy tính sai vì duy ý chí là cao; khả năng ta làm sai vì thiếu hiểu biết là cao; khả năng ta có nhiều kiện tụng, như Phần Lan hiện nay, với các công ty ngoại quốc khi nhà máy đang xây là cao” (Bài hỏi đáp “10 phương pháp không cần điện hạt nhân mà vẫn giúp Việt Nam tăng thêm nội lực” đăng trên http://bauxitevietnam.info ngày 19-11-2009).

            Quả thế, đang khi ngân sách dự trữ quốc gia chỉ có 22 tỷ đôla (theo lời đại biểu Nguyễn Minh Thuyết), thì dự án hạt nhân trong giai đoạn đầu đã ngốn đến 12 tỷ, và có thể tăng lên gấp đôi chỉ sau vài năm (theo lời giáo sư Nguyễn Khắc Nhẫn tại Pháp). Rõ ràng đây là một nguy cơ kinh tế và một gánh nặng tài chánh kinh khủng cho đất nước. Phải chăng trong dự án phiêu lưu liều lĩnh này, Việt cộng đang có lời hứa hẹn bảo trợ của Trung cộng? Nếu thế thì lại thêm một sợi xích tròng vào cổ Tổ quốc (sau sợi xích 50 tỷ đôla cứu vãn nền tài chính mới đây của VN). Ngoài ra, nguy cơ về sinh thái (rò rỉ phóng xạ nguyên tử) không phải là nhỏ. Với thói vô trách nhiệm thâm căn cố đế thường thấy trong các chế độ CS và nơi những con người CS, một Tchernobyl thứ hai tại Việt Nam là điều rất có thể xảy ra, một khi các nhà máy ĐHN tại Ninh Thuận đi vào hoạt động. Lúc ấy thì quả là một tai họa khôn lường cho nhân dân và đất nước!

            Qua hai cuộc bỏ phiếu tán đồng nói trên (sau sự im lặng tán đồng việc Bộ Công thương lập “Ban Chỉ đạo thực hiện các dự án bôxit Tây Nguyên” hôm 30-10), Quốc hội lại một lần nữa tỏ ra là gia nô của đảng CSVN, bất chấp bao nguy cơ tiềm tàng cho Dân tộc.

Mặt khác, hai sự kiện nói trên cũng cho thấy giữa Việt cộng và Trung cộng lại một lần thể hiện mối quan hệ chủ tớ, vốn đã bắt nguồn tự tư tưởng thần phục -khởi từ Hồ Chí Minh chuyển qua đồ đệ và đồng đảng- luôn coi Trung cộng là chỗ dựa vững chắc cho mình. Rõ ràng đảng CSVN đang đùa với vận mệnh dân tộc và tính mạng của nhân dân.

            BAN BIÊN TẬP

Những Tên Trí Thức Vô Học Mặt Mo Không Biết Nhục !

 

Vợ chồng Trần Thanh Vân nhận bằng khen của đảng

Người bạn tôi hỏi trí thức làm sao mà gọi là “vô học” ? Tôi trả lời, trí thức là những người đạt được bằng cấp, sau khi đạt được bằng cấp mà vẫn đối xử với những người khác một cách hạ cấp thì không thể gọi là người có học được. Xưa nay người ta đi học trước hết là “Tiên học Lễ, rồi mới tới Hậu học Văn” Sự chia sẻ của ông cụ Gs. TS Trần Thanh Vân, việt kiều Pháp từ năm 1950, khi ông về Việt Nam dự Hội nghị “Người Việt Nam trên toàn thế giới” lần thứ nhất tổ chức tại Hà Nội. Ông Trần Thanh Vân trả lời tờ báo Dân Trí , phát biểu một câu hết sức thất học và vô ý thức.

“Tôi khẳng định rằng, người Việt Nam ở nước ngoài rất muốn trở về Việt Nam để làm việc. Tôi nói thật người Việt mình sống ở nước ngoài như Mỹ, Pháp cũng khổ lắm, đi làm việc cả ngày khi về phải nấu ăn, rửa chén bát, làm hết mọi việc trong gia đình.

Tôi thấy sống ở Việt Nam rất hấp dẫn và sung sướng hơn nhiều ở nước ngoài. Các GS được xã hội rất tôn trọng, sinh viên kính phục – ở nước ngoài không được như thế”.

Dưới đây là những câu trả lời của bạn đọc được đăng trên trang blog của ông Hoàng Ngọc Tuấn tại Sydney, trả lời cho lời phát biểu của ông Gs TS Trần Thanh Vân . (trích)

Trần Thanh Vân: “Tôi khẳng định rằng, người Việt Nam ở nước ngoài rất muốn trở về Việt Nam để làm việc”.

Tôi muốn hỏi:

— Ông lấy tư cách gì mà “khẳng định” dùm cho hàng triệu người Việt Nam ở nước ngoài ?

— “Người Việt Nam ở nước ngoài” mà ông nói đến ở đây chiếm bao nhiêu phần trăm trên tổng số người Việt Nam ở nước ngoài ?

— Hay “người Việt Nam ở nước ngoài” mà ông nói đến ở đây chỉ là một nhóm người có tư cách giống y như ông ?

— Tại sao chính ông “rất muốn trở về Việt Nam để làm việc” nhưng lại không về hẳn cho toại nguyện, mà chỉ thỉnh thoảng ghé về theo kiểu cưỡi ngựa xem hoa dăm ba bữa, rồi trở ra nước ngoài để sống, làm việc, mà than van là “khổ lắm” !?

Trần Thanh Vân: “Tôi nói thật người Việt mình sống ở nước ngoài như Mỹ, Pháp cũng khổ lắm, đi làm việc cả ngày – khi về phải nấu ăn, rửa chén bát, làm hết mọi việc trong gia đình”.

Tôi muốn hỏi:

— Theo ông Trần Thanh Vân thì người Việt sống trong nước không khổ ?  Họ đi làm về thì không phải nấu ăn, rửa chén bát, làm hết mọi việc trong gia đình ?

— Thế thì ai làm cho họ những việc ấy ?  Những người đầy tớ chăng ?

— Những người đầy tớ ở Việt Nam là người ngoại quốc chứ không phải là “người Việt mình” hay sao ?

— Có phải ông Trần Thanh Vân ở bên Pháp không có đủ tiền thuê đầy tớ, cho đến khi về thăm Việt Nam thì ở khách sạn có người phục vụ, hay mướn nhà ở ngắn hạn và thuê đầy tớ với giá rẻ mạt, nên ông cảm thấy cuộc sống của ông sang trọng hẳn lên, không “khổ lắm” như khi còn ở Pháp ?

— Việt kiều đem tiền về nước sống rủng rỉnh trên đầu của một nhóm đầy tớ nghèo nàn khốn khổ thì vinh dự lắm chăng , là thể hiện lòng “yêu nước” chăng ?

— Phải chăng nỗi khổ của một kẻ trí thức thì chỉ vỏn vẹn ở chỗ phải nấu ăn, rửa chén bát, làm việc nhà ?

— Thế còn khi chứng kiến những sự đàn áp, xâm phạm nhân quyền, bất công xã hội, tham nhũng tràn lan trong xã hội, thì kẻ trí thức vẫn sung sướng , không hề cảm thấy khổ sở chút nào ư ?

Trần Thanh Vân: “Tôi thấy sống ở Việt Nam rất hấp dẫn và sung sướng hơn nhiều ở nước ngoài. Các GS được xã hội rất tôn trọng, sinh viên kính phục ở nước ngoài không được như thế”.

Tôi muốn hỏi:

— Xin ông Trần Thanh Vân cho biết cụ thể sống ở Việt Nam thì “rất hấp dẫn và sung sướng hơn nhiều ở nước ngoài” trên những phương diện nào ?

— Có phải ông Trần Thanh Vân làm Giáo sư ở Pháp suốt bao nhiêu năm nay mà không được xã hội Pháp tôn trọng ?  Không được sinh viên Pháp kính phục ?  Chỉ khi về đến Việt Nam thì ông mới được “xã hội tôn trọng, sinh viên kính phục” ?

— Phải chăng một nhà giáo là kẻ chỉ biết sung sướng khi được “xã hội tôn trọng, sinh viên kính phục”, bất chấp cái xã hội đó đầy những ung nhọt văn hoá , bất chấp cái nền giáo dục đó tệ hại , nhếch nhác ?

Tôi thấy Trần Thanh Vân và Nguyễn Hữu Liêm rất giống nhau, chỉ khác một chút xíu là Trần Thanh Vân không có lối nói giả giọng triết lý để làm sang. Về Nguyễn Hữu Liêm thì tôi đã có phát biểu một ý kiến ngắn. Tôi xin chép lại nơi đây cái ý kiến đó để mời ông Trần Thanh Vân và những người giống như ông đọc thử:

Tôi đến sở thú xem người ta dạy thú. Tôi thấy những con thú nghe lời răm rắp. Người ta dạy bằng cách nhét vào mồm chúng những viên thức ăn. Bây giờ tôi mới hiểu rằng để dạy một hạng người nào đó thì cũng tương đương như vậy. Cứ thảy cho vài viên ngọt ngọt, thì hạng người nào đó cũng nói bô bô theo lời chủ, chẳng khác gì những con vẹt đói khát và ngu xuẩn. Tất nhiên so với loài vẹt thì hạng người đó có phần hơn, vì còn biết chêm triết lý vặt vào cho sang trọng nữa!

(hết trích)

Khi một người học xong để làm Thầy thì người đó có trách nhiệm phải dạy lại cho người đi sau biết những điều hay lẽ phải , dạy đạo đức trước khi dạy đến ngành chuyên môn . Ông Gs Trần Thanh Vân đã thể hiện một phong cách thiếu đạo đức , trong lòng của ông, những người dân VN trở thành những tên nô lệ cho hạng người trí thức như ông .

Người dân VN bao nhiêu năm qua đã sống đau khổ dưới chế độ CSVN , ngày hôm nay đảng CSVN lại đưa thêm những thành phần “trí thức” luôn coi dân VN là nô lệ – thử hỏi những hạng người này có xứng đáng được gọi là những người có học hay không ?

Xuân Nhi
Giáo Sư, Thạc sĩ Ngành Toán
California State University, East Bay.

Chủ tịch Nguyễn Minh Triết làm phân hóa nội bộ Mỹ!

Nguyễn Minh Triết: Mình vừa động viên ông Obama… mình vừa muốn phân hóa cái nội bộ của ổng.   

… Cái vai trò, cái vị thế của mình bây giờ… cũng… ngang hàng với người ta,… cũng… nói năng, …cũng… đúng mức, đàng hoàng.

Xin bấm vào link dưới đây để xem video này:

http://www.youtube.com/watch?v=IbHnOIA4qR0

__________________________

Nguyễn Minh Triết: “Ông Obama ơi, vấn đề này là khó lắm đó!”

Trần KhảiSo trong lịch sử nhiều ngàn năm của Việt Nam, vị lãnh đạo có những câu tuyên bố  độc đáo nhất chính là ông Chủ Tịch Nước Nguyễn Minh Triết. Sau naỳ lịch sử sẽ nói rằng có một vị vua nối dõi đời nhà Hồ đã từng đi khắp thế giới, từng dự khóa họp của cả Hội Đồng Bảo An Liên Hiệp Quốc, tuyên bố những câu làm chấn động ngoại giao toàn cầu. Trước ông Triết, chưa thấy ai dám nói như thế; và sau ông Triết, có lẽ cũng khó có ai nói ngang tầm như thế.

 

Ông Nguyễn Minh Triết cũng nổi tiếng trong cộng đồng Việt Nam hải ngoại. Phần lớn, vì ông Triết chịu khó đi ra nước ngoài, gặp gỡ nhiều người Việt hải ngoại hơn các lãnh tụ khác. Tuy là Việt kiều được các sứ quán tuyển chọn trước với lập trường đã sàng lọc, nhưng như thế cũng cho thấy rằng ông thích đi, thích bắt tay bắt chân, thích nói (dù là có lộ vẻ không thích nghe). Còn Đỗ Mười, Lê Duẩn, Lê Khả Phiêu, Phan Văn Khải… thì không đi nhiều, gặp nhiều, nói nhiều như ông Triết. 

“Ông Obama ơi, vấn đề này là khó lắm đó” [Michelle Obama, Đệ nhất Phu nhân Mỹ, Nguyễn Minh Triết CT Nước CHXHCNVN, Barack Obama, TT Mỹ, tại Metropolitan Museum ở New York, Sept. 23, 2009]
Nguồn: Official White House Photo by Lawrence Jackson.

Gần đầy nhất, mới hai tuần qua, một hội nghị Việt kiều tổ chức tại Hà Nội. Trong buổi nói chuyện trước khoảng 900 Việt kiều, ông Nguyễn Minh Triết với tư cách Chủ Tịch Nước đã chào mừng, và đặc biệt giảỉ thích về các “tồn đọng lịch sử” trong chế độ. Để trấn an cho các Việt kiều khỏi bị shock về tình hình tham nhũng ở Việt Nam, ông Triết giảỉ thích, qua giọng Miền Nam đặc biệt của ông:

“…. Chúng ta từ một nước trong chiến tranh,chưa có những cái kinh nghiệm trong quản lý, và ở nước người ta đó thì muốn tiêu cực, muốn tham nhũng cũng khó, vì hệ thống luật pháp nó chặt chẽ. Còn ở Việt nam của mình, thì có khi không muốn tham cũng động lòng tham, cái người thủ quĩ cứ giữ tiền khư khư, ở quĩ lúc nào cũng có số dư, cho nên lúc bí quá thì em mượn một chút, mượn không thấy ai đòi hết, thì em mượn thêm. Chứ không phải người Việt nam tham những nhứt thế giới, không phải vậy! Cho nên tui đề nghị quí vị ở nước ngoài khi nghe những thông tin này, rồi nhìn về Việt Nam cũng đừng có hốt hoảng, cứ nghĩ rằng trong nước mình tiêu cực quá… Mấy hồi sao mấy ổng óanh giặc sao giỏi thế? Mà bây giờ ổng tiêu cực thế… Đây là qui luật muôn đời.

Con người ta, trong mỗi người, ai cũng có hỉ, nộ, ái, ố hết chơn. Chúng ta là con một nhà, là con Lạc, cháu Hồng, cùng một bọc trứng sinh ra, trên thế giới này ít nơi nào có cái đó lắm…” 

(Trích từ băng hình, đánh máy lại ở trang www.x-cafevn.org)

Tuyệt vời. Có thể trao tặng giải Nobel Kinh Tế cho ông Nguyễn Minh Triết về lời giải thích: quỹ dư, nên cán bộ mượn một chút; mượn không thấy ai đòi, nên mượn thêm… Chứ không phải tham nhũng nhất thế giới.Câu định nghĩa trên đưa ra cho cả nước học tập là tuyệt, có thể in thành biểu ngữ treo khắp nước để hù dọa tham nhũng rằng sẽ cho “quỹ hết dư,” thì cán bộ sẽ không “mượn một chút” nổi. 

Rồi cũng mới đây, ông Nguyễn Minh Triết sau khi dự hội nghị LHQ về nước, đã kể chuyện ngọai giao với các cán bộ cao cấp ngày 22/11/2009 tại Hà Nội, trong đó ông Triết kể chuyện ông qua New Zealand (Tân Tây Lan) nghe bà Thủ Tướng nói cả nội các Tân Tây Lan là “thế hệ Việt Nam,” ý có vẻ muốn nói thế hệ của những người trưởng thành trong không khí phản chiến đối với cuộc chiến Việt Nam; gặp Thủ Tướng Na Uy thì nghe kể là hồi còn bé, Thủ Tướng Na Uy quyên góp tiền giúp Việt Nam (có thể hiểu là giúp chế độ Hà Nội, không phải Sài Gòn), gặp Thủ Tướng Áo và Tổng Thống Hy Lạp lại nghe lời ngoại giao kiểu khác… Ông nói rằng như thế, “mình cũng nói năng đúng mức, đàng hoàng ngang hàng với người ta…”
Các lời ông Triết kể là như thế, không thể kiểm chứng hoàn toàn bằng các bản tin quốc tế như AP, AFP hay Reuters…
Nhưng tuyệt vời của sân khấu hài là khi ông Nguyễn Minh Triết kể về chuyện gặp Tổng Thống Hoa Kỳ Barack Obama. Ông Triết nói với Obama qua diễn đàn khoáng đại LHQ:

“… Và ngay Đạị Hội Đồng LHQ vừa rồi, kỳ họp 64, cũng ở diễn đàn đó mình lại lên tiếng mình phê phán cái việc là cấm vận Cu Bạ Và trong cái cuộc họp đó ngoài những cái ý kiến chung thì tôi có thêm một cái ý kiến tôi hoang nghinh ông Obama. Ổng tuyên bố là ổng sẽ đóng cửa nhà tù “Ga ta na mô” (Guantanamo) mà. Nhưng mà tui nói rằng, “Ông Obama ơi, vấn đề này là khó lắm đó! Tui chúc ông phải nỗ lực để thực hiện cho bằng được cái này.” Tôi nói mà tôi nhìn Obama; tôi thấy ổng cũng chăm chú lắm á! Cũng lắng nghe. Như thế là mình vừa động viên ông Obama nhưng mà mình vừa muốn phân hoá cái nội bộ của ổng.
Tôi muốn nói với các đồng chí với các quý vị rằng, cái vai trò, cái vị thế của mình bây giờ cũng ngang hàng với người ta cũng nói năng cũng đúng mức đàng hoàng…” (Chuyển biên từ Youtube – DCVOnline)

Lại Chủ tịch nước CHXHCNVN “nói năng đúng mức, đàng hoàng”.

Tuyệt vời, ông Nguyễn Minh Triết tuyên bố ông đã nói có một câu, mà phân hóa được nội bộ chính phủ Obama. Ông Hồ Chí Minh cũng chào thua vậy.Còn nhớ hồi mấy tháng trước, khi viếng thăm Cuba cuối tháng 9-2009, ông Nguyễn Minh Triết trong bài diễn văn đã nói, trích và ghi lại từ băng hình: 

“Có người ví von Việt Nam, Cuba như là trời đất sinh ra, một anh ở phía đông, một anh ở phía tây. Chúng ta thay nhau canh giữ hoà bình cho thế giới. Cuba thức thì Việt Nam ngủ, Việt Nam gác thì Cuba nghỉ…”

Tuyệt vời. Nói còn hơn nghệ thuật sân khấu. Chỉ với một câu nói này thôi, có thể đề nghị giảỉ Nobel Hòa Bình cho hai chính phủ đang thay nhau canh giữ hòa bình cho thế giới này.
Tất cả các băng hình nêu trên, đều có thể tìm dễ dàng qua mạng www.YouTube.com, khi vào xin gõ vào ở Search nhóm chữ “nguyen minh triet tuyen bo” (không cần dấu).

Chưa hết, chuyện mới xảy ra mấy hôm nay. Ông Nguyễn Minh Triết nói trong một hội nghị ở Singapore là VN sẽ không phá giá đồng bạc VN, thế nhưng chỉ vài hôm sau, Ngân Hàng Trung Ương VN ra lệnh phá giá đồng bạc VN tới 5% để giảm áp lực chợ đen và tăng khả năng xuất cảng hàng hóa.
Trên báo Thanh Niên ngày 17-11-2009, trong bản tin nhan đề “Chủ tịch nước đối thoại doanh nghiệp Singapore: Việt Nam không phá giá tiền đồng” ngay ở dòng nhập đề đã viết: 

“Hôm qua, tại buổi đối thoại với doanh nghiệp ở Singapore, Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết và Bộ trưởng Tài chính Vũ Văn Ninh khẳng định kinh tế Việt Nam đang dần ổn định và không có chuyện phá giá VND.”

(hết trích)

Và trên trang web của Đài Tiếng nói Hoa Kỳ VOA hôm 27/11/2009, bản tin nhan đề “VN giảm giá tiền đồng – tín hiệu cảnh báo cho đối thủ xuất khẩu” kể về tình hình VN phá giá tiền: 

“Việt Nam vừa giảm 5% giá trị tiền đồng
 Quyết định giảm giá tiền tệ của Việt Nam là tín hiệu cảnh báo đối với các đối thủ xuất khẩu tại Châu Á giữa lúc các nền kinh tế chủ yếu dựa vào xuất khẩu trong khu vực đang khó khăn cạnh tranh với lượng đơn đặt hàng từ các nước Châu Âu và Mỹ sút giảm do ảnh hưởng của suy thoái kinh tế toàn cầu.
Tờ The Wall Street Journal hôm thứ sáu cho biết Việt Nam vừa giảm 5% giá trị tiền đồng.
Bài báo nhận xét rằng sự mất giá của tiền đồng khiến giá thành sản phẩm sản xuất nội địa rẻ hơn các mặt hàng của các nứơc khu vực, giúp cải thiện vị trí cạnh tranh của hàng Việt Nam trên thương trường quốc tế…”

(hết trích)

Cũng tuyệt vời nữa. Như thế, Ngân Hàng Nhà Nước Việt Nam chắc chắn là không chịu lắng nghe lời của ông Chủ Tịch Nước Nguyễn Minh Triết.Tại sao Ngân Hàng Nhà Nước VN không chịu nghe lời ông Triết, mà lại có Việt Kiều chịu lắng nghe tưởng như thiệt? 

Dạng háng thế này thì đã “đúng mức, đàng hoàng” chưa?
Nguồn: daylife.com

Tin cập nhật về các nhà họat động dân chủ đang bị giam giữ

Gia Minh, phóng viên RFA, 2009-12-03

RFA file, Ba nhà họat động dân chủ

Số ít ỏi những người dám công khai lên tiếng đòi hỏi cho dân chủ, nhân quyền và tố cáo việc chính quyền Hà Nội nhượng bộ Bắc Kinh trong vấn đề biên giới có người đã bị kết án như chín người phải ra tòa hồi đầu tháng 10 vừa qua, có người vẫn còn bị giam chưa được đưa ra xét xử

Cô Phạm Thanh Nghiên

Một nhân vật nữ từng cùng những người đã bị xét xử trong những phiên tòa hồi đầu tháng 10 vừa qua tại Hải Phòng và Hà Nội, hoạt động công khai lên tiếng như viết đơn xin biểu tình, hay tọa kháng tại gia phản đối việc để mất Hoàng Sa, Trường Sa đó là cô Phạm Thanh Nghiên. Cô cũng bị bắt hồi tháng chín năm ngoái, và thông tin cho hay đến ngày 17 tháng 12 này cô mới phải ra tòa. Thông tin này do chính mẹ của cô là bà Phạm Thị Lợi cho biết vào sáng ngày 2 tháng 12 vừa qua.

17 tháng 12 sẽ xử, tòa án mang giấy xuống gia đình thông tin như vậy.

Cũng qua thông tin từ gia đình cô Phạm Thanh Nghiên ở Hải Phòng từ khi cô bị bắt hồi tháng 9 năm ngoái đến nay, dù cô bị giam ở trại giam Trần Phú ngay ở Hải Phòng nhưng gia đình chưa được gặp mặt. Cán bộ trại giam có một lần mang thư của cô đến cho bà mẹ đọc rồi sau đó thu mang về. Bà Phạm thị Lợi cho biết:

Gia đình chưa được gặp lần nào. Về vấn đề sức khỏe thì hôm nọ tòa án xuống tôi cũng có hỏi và anh đó nói chị trắng ra và trông khỏe lắm. Tôi hỏi anh trông thái độ- tinh thần có thoải mái không thì anh ấy bảo chị thoải mái lắm. Còn người thì nhỏ con từ hồi nào giờ. Thư thì tháng đầu tiên cũng có thư do một anh công an mang xuống nhưng rồi anh đọc và thu về chứ không cho giữ.

Thạc sĩ Nguyễn Tiến Trung

Một nhân vật trẻ khác cũng được nhiều người biết đến là thạc sĩ công nghệ thông tin Nguyễn Tiến Trung. Anh này bị bắt hồi ngày 7 tháng 7 vừa qua. Mẹ của Nguyễn Tiến Trung cho biết những thông tin liên quan con trai bà qua cuộc nói chuyện với chúng tôi cũng vào sáng ngày 2 tháng 12 vừa qua:

Được gặp một lần rồi, trong lần gặp như thế thì người ta cũng nói là có khả năng phiên tòa sắp xảy ra nhưng người ta nói đã thay đổi tội danh: không còn là theo điều 88 Bộ Luật Hình sự nữa mà chuyển sang Điều 89 tức nặng hơn – đó là thành lập tổ chức để lật đổ chế độ, lật đổ chính quyền nhân dân.

Gia Minh: Ngoài việc được thông báo thay đổi tội danh như vậy thì gia đình gặp trực tiếp Nguyễn Tiến Trung và có những chia xẻ ra sao?

Bà Lê Thị Minh Tâm: Gia đình thấy Trung cũng khỏe chứ không đến nỗi nào. Trung cũng nói cho gia đình an lòng vì có những câu nói mà không thể biết thực chất như thế nào: Trung bảo là người ta đối xử tốt và có thời gian luyện tập.

Gia Minh: Nhận xét của một bà mẹ về sức khỏe của con thì ra sao?

Bà Lê thị Minh Tâm: Có mập hơn so với thời ở quân đội nhưng xanh sao hơn, chắc thiếu ánh sáng.

Gia Minh: Còn về tinh thần thì ra sao?

Bà Lê thị Minh Tâm: Trung cũng rất vững vàng, nói chung cũng tự tin. Trung cũng rất lo lắng cho gia đình sợ gia đình không được an tâm nên không hiểu thực chất thế nào. Khi nói chuyện thì có ba cán bộ điều tra cũng cùng ngồi để nói chuyện.Tuyệt đối chúng không được nói về vấn đề gì khác ngoài hỏi thăm sức khỏe.

Gia Minh: Có thay đổi tội danh còn thời gian xét xử thì gia đình có nắm được thông tin gì không?

Bà Lê thị Minh Tâm: Hôm đấy thì cơ quan điều tra có nói là đã điều tra xong và đã chuyển hồ sơ sang Viện Kiểm sát. Đến hôm nay thì chúng tôi cũng nghe tin hồ sơ đã chuyển sang Tòa án rồi. Việc thay đổi tội danh làm gia đình rất lo vì việc đổi tội danh như thế là rất nặng. Chúng tôi thì bao giờ cũng nghĩ rằng Trung không bao giờ có tư tưởng lật đổ mà bao giờ cũng có tư tưởng cùng hợp tác để đưa đất nước tốt hơn lên.

Gia Minh: Hẳn gia đình cũng có nhờ luật sư bào chữa cho Nguyễn Tiến Trung?

Bà Lê thị Minh Tâm: Gia đình có mời luật sư Đoàn Thái Duyên Hải. Luật sư đã có gặp Trung rồi. Qua quá trình luật sư cùng Trung nói chuyện thì cuối cùng Trung có nói là nếu như em tự bào chữa thì sao. Có câu nói đó thì chúng tôi cũng không hiểu thế nào và Trung có chấp nhận luật sư này chưa thì chúng tôi cũng chưa hiểu được.

Thầy giáo Vũ Hùng

Một nhà dân chủ khác bị xử án hồi đầu tháng 10 vừa qua về tội treo khẩu hiệu về chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sà và Trường Sa, cũng như chống tham nhũng, đó là Thầy giáo Vũ Hùng. Sau khi bị kêu án ba năm tù giam và ba năm quản chế, ông đã tuyên bố tuyệt thực trong tù để chống lại bản án. Ban quản lý trại giam phải nhờ vợ nhà giáo đến gặp chồng hồi ngày 7 tháng 10 vừa qua để yêu cầu ông này ngưng tuyệt thực.

Tuy nhiên từ sau cuộc gặp hôm ngày 7 tháng 10 cho đến nay, thì gia đình cũng chưa được gặp mặt lại thầy giáo Vũ Hùng tại trại giam. Vào sáng ngày 1 tháng 12 vừa qua, chúng tôi có cuộc điện đàm với bà Lý thị Tuyết Mai và được bà thông tin về chuyến đến trại thăm chồng hôm cuối tháng 11:

Đến đấy thì không được thăm gặp,họ chỉ nhận quà thôi.

Hôm 26 đến thì họ hẹn đến sáng thứ hai là hôm qua, 30 tháng 11 để thông báo cho thăm hay gửi quà đó. Về sức khỏe của anh Vũ Hùng thì họ nói bình thường; và bây giờ thì được thăm và gửi quà bình thường tức thăm một tháng một lần và gửi quà một tuần một lần.

Đối với những nhà dân chủ đã qua xét xử tại tòa án hồi đầu tháng 10 vừa qua, thì thân nhân của họ cho biết đang cùng luật sư bào chữa làm thủ tục kháng cáo đối với những bản án đã tuyên  vì họ cho là bất công vì bản thân họ chỉ đòi hỏi những quyền căn bản của người dân.

Mấy chú thích liên quan đến dân chủ

Trương Thái Du

Theo blog Trương Thái Du

Theo tác giả Trương Thái Du, nếu dân trí chưa đủ mà vội vã tiến hành dân chủ hóa Việt Nam, Việt Nam lại có nguy cơ rơi vào vòng nội chiến. 

Nhưng nếu cứ giữ tình trạng độc tài như hiện nay, để sự mất cân bằng về giới tính, vùng miền, trình độ, tôn giáo cũng như phân bổ của cải mỗi ngày một tăng, thì nguy cơ nội chiến cũng chẳng nhỏ. Theo độc giả Dân Luận, con đường nào sẽ là lối thoát cho Việt Nam trong những thập niên tới?

Tháng 2.2008 tôi có bài viết Suy nghĩ bên cạnh một đám tang lặng lẽ. Bà Song Chi được tôi trích như sau: “Trích blog của một đạo diễn có tâm trong nghề và rất năng nổ dân chủ [5] : “Nhà nước buông tay khỏi cái gì là cái đó khá lên thôi”. Đó là câu nói của một trong những người bạn tôi, dịch giả PVP, trong một lần ngồi quanh bàn nhậu và như thường lệ, câu chuyện muôn thuở giữa tất cả bạn bè tôi bao giờ cũng xoay quanh thực trạng chính trị-xã hội-văn hóa văn nghệ ở Việt Nam”. Loại “lý luận bàn nhậu” đó rất có lý và thực tế, chỉ với những bộ óc chuếnh choáng men bia rượu mà thôi.

Mới rồi, thoát khỏi “những bàn nhậu” bà Song Chi có bài đáng đọc nhất, trong số các bài bà đã viết. Trích tiếp: “Dân tộc tôi, dù sống ở trong hay ở ngoài nước đều có những điểm giống nhau làm nên bi kịch của đất nước, đó là trình độ dân trí nói chung chưa cao… (…) Với một dân tộc như dân tộc tôi, thì niềm hy vọng vào một sự thay đổi cho số phận của đất nước quả thật là rất khó!”.

Bà Song Chi đã đi nửa vòng quả đất, để bồi hồi nhận ra mình bất lực. Cho nên việc tôi từng đánh dấu hỏi về động cơ dân chủ của bà có cái lý của nó. Chẳng rõ từ DÂN TRÍ của tôi trong link đầu tiên có ảnh hưởng đến suy nghĩ của bà Song Chi không, nhưng đọc lời bình của Tôn Vân Anh thì tôi thấy cần suy nghĩ thêm. Trích nữa: “Dân chủ hay không không phụ thuộc dân trí bởi dân chủ là hệ thống chính trị do người dân tấu tạo, bất kể quan điểm, học thức và nhận thức. Tức: người bị coi là có dân trí thấp cũng có thể tạo nên dân chủ, và như vậy mới là dân chủ. Trên cả tri thức phải là niềm tin vào con người và những quyền cơ bản của con người. Nếu không có niềm tin vào con người, ắt hẳn sẽ thấy “rất khó”. Nhưng đó là cái khó của người thấy khó, chứ không phải vấn đề của dân chủ, của VN càng không”.

Tôi sẽ nghiêm túc cầu thị và tìm hiểu nội hàm mà Tôn Vân Anh đề cặp.

————-

Cùng chủ đề dân chủ, bà trẻ Nguyễn Trang Nhung và tôi vừa trao đổi đôi câu như thế này:

Tôi viết: “Trích N.T.Nhung: “Tôi nghiêng về phía ý kiến cho rằng VN sẽ được như Đài Loan hay Hàn Quốc (tuy mức độ có thể thấp hơn). Người dân VN không đến nỗi “máu me” như người dân Thái Lan để dẫn đến những cảnh tượng bất ổn như trong nền dân chủ của nước này”. (hết trích)

Quả thật tôi choáng với “mơ ước” quá đẹp cũng như “tưởng tượng” phong phú của bạn về nước Thái “máu me” và sự “bất ổn” của họ. Năm yếu tố giúp người Thái đang ổn định trên con đường tìm đến dân chủ là: Chủng tộc (cơ bản khối dân tộc nắm vận mệnh nước Thái là đồng chủng), Tôn giáo (Đạo Phật gần như quốc giáo), Vương quyền (dân Thái nói chung rất tôn trọng hoàng gia), Vùng miền (ở Thái không tồn tại căn cước vùng miền nặng nề như VN, trừ khu vực phía nam có cả yếu tố tôn giáo chia rẽ), Lịch sử (người Thái có một lịch sử chung, họ không bị chia rẽ vì thời cận đại họ không bị đô hộ và nội chiến).

Chỉ cần dùng năm yếu tố này áp vào hiện tình VN, kết quả cách mạng dân chủ (nếu có lúc này) không xẻ đôi thì cũng xẻ ba nước VN và nội chiến là không thể tránh khỏi.

Thấy mình bị hố, Nhung trả lời: “Khi nói về Thái Lan với “bất ổn”, thì tôi muốn nói tới những cảnh tượng xuất phát từ dân chúng Thái Lan như các cuộc biểu tình của của các phe nhóm. Tức là tôi muốn nhằm vào ý thức của người dân. Về đánh giá chung thì tôi không hẳn cho rằng nền dân chủ Thái Lan là bất ổn đâu. Còn về Việt Nam, tôi vẫn giữ quan điểm như vậy. Tôi không cho rằng sẽ có những xé lẻ hay nội chiến. Dù sao thì mỗi người một quan điểm, một cách nhìn. :) “.

Bình thường, sau những bình luận của tôi, thể nào cũng có tiếng bấc tiếng chì. Nhưng lần này thì im hơi lặng tiếng. Cái nước Thái Lan thống nhất và đoàn kết đến thế, từ khi Thạc Sỉn lưu vong, không ít lần truyền thông thế giới phải cảnh báo NỘI CHIẾN. Cho nên lập luận của tôi khó bị bắt bẻ chăng?

—————-

Nói thật, tôi chưa thấy một cá nhân nào, hội nhóm nào có luận thuyết và động cơ dân chủ trong sáng và khả tín cả. Nếu họ không “nhai lại” lý thuyết Mỹ thì cũng theo con đường dân chủ “xả stress” cá nhân mà ai đó từng hình tượng hóa là “dân chủ sùi bọt mép”.

Có những người ngây thơ đã đem cả vận mệnh cá nhân của họ đánh cược với loại “dân chủ” ấy. Tôi không quan tâm.

Tuy nhiên, không còn là chuyện đùa nếu họ đem vận mệnh một đất nước vào trò chơi. Tôi đã dùng đến từ “NỘI CHIẾN”. Xin hãy nhớ giùm!

Đôi điều về “tự do tư tưởng và tự do ngôn luận

Kami

Theo blog Kami

Trong một hệ thống nhà nước kiểu độc đảng lãnh đạo như Việt nam hiện nay, mọi thay đổi cũng cần phải có sự chuyển tiếp dần dần qua các giai đoạn, không thể một sớm một chiều mà tuyên bố cải cách chính trị cho tự do đa nguyên đa đảng. Một trong những việc làm có ý nghĩa then chốt và mang tính quyết định sẽ mang lại hiệu quả nhanh chóng, đó là khôi phục và tôn trọng quyền biểu thị suy nghĩ của công dân và các tổ chức đoàn thể mà Hiến pháp nước CHXHCN Việt nam đã ghi nhận càng sớm càng tốt. 

Bức ảnh nổi tiếng không cần ghi chú…

Trong môi trường xã hội tự do dân chủ, ở nơi đó toàn xã hội họ sống theo chủ trương tôn trọng mọi suy nghĩ khác nhau. Mọi người có thể tự do biểu thị suy nghĩ của mình bằng cách sử dụng quyền tự do ngôn luận, người có học thức có tiền thì mở đài truyền hình, đài phát thanh sóng FM, mở các trang báo online, báo giấy cũng là nghề vừa kinh doanh vừa biểu thị chủ trương tư tưởng của cá nhân hay của một nhóm người.

Kẻ ít tiền hơn muốn biểu thị suy nghĩ thì lập blogsite, website, xuất bản báo giấy một vài trăm bản để biếu hay phát không cho bạn bè. Còn lại một số đông không có khả năng hoặc không muốn thể hiện khả năng thì cách biểu thị suy nghĩ cá nhân của mình với dư luận xã hội là dùng khẩu hiệu viết các ý nguyện, các đòi hỏi, các suy nghĩ của mình và đem ra trưng ở những nơi công cộng nhiều người qua lại để thu hút sự chú ý.  

Nghĩa là sự bầy tỏ suy nghĩ, quan điểm được pháp luật tôn trọng, bảo vệ và khuyến khích vì nó là quyền tự do của con người được Hiến pháp và luật pháp bảo vệ. Nhưng ngược lại nếu ai sử dụng cái quyền ấy quá mức của luật pháp quy định làm ảnh hưởng tới danh dự, nhân phẩm của cá nhân hay tổ chức và đặc biệt những thông tin đó mang tính chất kích động bạo lực, chia rẽ hoặc kêu gọi lật đổ đều bị xử lý nghiêm khắc theo luật pháp quy định.

Mặc dù quyền tự do ngôn luận được khuyến khích và được chính quyền ủng hộ như vậy nhưng đa số người dân như tôi cũng ít khi có những điều gì bức xúc mà phải sử dụng đến những cái quyền đó. Lý do vì những suy nghĩ, những bức xúc của cá nhân mình nói riêng hay của cả cộng đồng nói chung thì hàng ngày các phương tiện truyền thông công cộng người ta đã nói hết phần của mình rồi, chẳng cần phải sử dụng cái quyền tự do ngôn luận ấy mấy khi. Nhiều khi hôm nay mình mới chỉ nghĩ “giá mà… thế này” thì không lâu vài hôm sau mấy ông dân biểu đã “tranh phần” lấy suy nghĩ của mình thành kiến nghị trong cuộc họp Quốc hội hay Hội đồng nhân dân các cấp. Cũng chẳng phải vì họ nghe cá nhân mình đâu, mà vì suy nghĩ của cá nhân mình nó giống như trào lưu đồi hỏi của phần lớn cộng đồng.

Nói như vậy để thấy, ở Việt nam đảng cầm quyền và nhà nước cứ hay lo sợ không cần thiết, người ta bảo cho báo chí tư nhân hoạt động thì sợ báo chí nói xấu nhà nước không quản lý được. Thế thì xin hỏi tại sao họ không nghĩ nếu đảng và chính quyền làm tốt, thi hành đầy đủ và làm việc có hiệu quả với vai trò của nhà nước, thì lấy gì cho báo chí tư nhân họ nói xấu? Đã làm tốt thực sự, hoàn thiện mọi mặt không có gì để chê trách mà báo chí tư nhân vẫn kiên quyến không chịu ủng hộ, vẫn nói xấu thì lúc đó không phải bận tâm làm gì cả, lúc đó người dân sẽ là người đánh giá và phán xét ai đúng ai sai, đừng quá coi thường khả năng nhìn nhận vấn đề của quần chúng.

Vả lại cái mà đảng sợ và bảo người ta nói xấu thì sao không nghĩ đó chỉ là tiếng nói góp ý giúp cho lãnh đạo nhà nước khắc phục, sửa chữa các khuyết điểm tồn tại để ngày càng hoàn thiện hơn, vì vậy hãy coi các ý kiến góp ý , phê bình hay phản biện là những yếu tố mang tính tích cực hơn là tiêu cực. Mà một điều tối quan trọng là phải tin tưởng rằng cho và khuyến khích dân được quyền nói, quyền biểu thị suy nghĩ nó chỉ là lẽ thường tình trong sinh hoạt của một xã hội dân chủ tiến bộ.

Bài học của nền kinh tế mở theo kiểu kinh tế thị trường thay cho hệ thống kinh tế quan liêu bao cấp của chủ nghĩa xã hội kiểu Marx-Lenin là một ví dụ. Trước đây đảng CSVN vẫn cho rằng nếu mở cửa kinh tế cho phát triển theo quy luật kinh tế thị trường thì nhà nước không kiểm soát nổi sẽ gây nguy hại cho sự ổn đinh chính trị, nhưng kết quả của việc đổi mới về cơ cấu kinh tế đã đem lại hiệu quả ra sao chắc ai cũng rõ, từ một quốc gia thiếu đói phải nhập khẩu lương thực, Việt nam đã nhanh chóng vươn lên chiếm vị thế một trong các quốc gia xuất khẩu lương thực hàng đầu thế giới.

Thói đời người ta là như vậy, của hiếm là của quý. Càng cấm đoán, càng hạn chế tự do tư tưởng, tự do ngôn luận bao nhiêu càng kích thích sự thèm khát lên tiếng và lâu dần nó trở thành khát vọng âm ỷ của nhân dân. Cấm không có tác dụng tích cực làm ổn định chính trị như người ta tưởng, mà ngược lại nó càng kích thích sự chống đối dưới nhiều hình thức muôn hình muôn dạng, chống đối nếu phát triển ở mức cao sẽ trở thành cách mạng. Mà bất kỳ cuộc cách mạng nào cũng mang lại tổn thất không nhiều thì ít.

Bên trong của sự ổn định mà đảng CSVN đang tự hào hiện nay đang có bao nhiêu tiềm ẩn nguy hiểm như những cơn sóng ngầm mà bất cứ lúc nào cũng trở thành những trận sóng thần (tshunami), mà hậu quả của nó khó ai có thể lường hết được.

Chính vì vậy tốt hơn hết đảng và chính quyền nhà nước Việt nam hãy cho người dân tự do sử dụng các quyền của mình mà Hiến pháp ghi nhận và dùng hệ thống luật pháp để quản lý và điều chỉnh. Nếu làm được như vậy sẽ là biện pháp tháo ngòi nổ nguy cơ tiềm ẩn và đồng thời cải thiện được hình ảnh của quốc gia dưới con mắt không mấy thiện cảm của cộng đồng quốc tế như hiện nay, như vậy sẽ có những bước cải thiện đáng kể trong sự ủng hộ đối với Việt nam của các quốc gia và các tổ chức quốc tế.

Trong một hệ thống nhà nước kiểu độc đảng lãnh đạo như Việt nam hiện nay, mọi thay đổi cũng cần phải có sự chuyển tiếp dần dần qua các giai đoạn, không thể một sớm một chiều mà tuyên bố cải cách chính trị cho tự do đa nguyên đa đảng. Một trong những việc làm có ý nghĩa then chốt và mang tính quyết định sẽ mang lại hiệu quả nhanh chóng, đó là khôi phục và tôn trọng quyền biểu thị suy nghĩ của công dân và các tổ chức đoàn thể mà Hiến pháp nước CHXHCN Việt nam đã ghi nhận càng sớm càng tốt.

Chắc chắn một điều khi cho tự do tư tưởng, tự do ngôn luận để thể hiện suy nghĩ của công dân và tự do báo chí, thì cũng không có các nhân, tổ chức hoặc các tờ báo nào dám có hành động “bán đứng tổ quốc” khi lên tiếng khẳng định chủ quyền của Trung quốc trên quần đảo Hoàng sa như Báo điện tử đảng CSVN đã làm. Tất cả mọi công dân mang dòng máu Việt nam chắc chắn họ sẽ để quyền lợi của quốc gia và dân tộc là trên hết, với những người Việt nam yêu nước chân chính và có sự hiểu biết thì đảng phái chính trị chỉ là một nhóm lợi ích của một bộ phận nào đó của dân tộc không thể đại diện cho lợi ích của một quốc gia, đảng CSVN cũng như vậy không ngoại trừ.

Tự do ngôn luận để tự do biểu thị suy nghĩ của công dân thông qua hình thức tự do báo chí dưới mọi loại hình như truyền hình, phát thanh, báo giấy, báo online v.v.. hoàn toàn mang tính tích cực xây dựng xã hội công bằng và văn minh nếu nhà nước biết quản lý và điều hành bằng luật pháp của mình. Cấm đoán và dùng các biện pháp ngăn cấm là hành động mang tính tiêu cực, nó còn là sự coi thường dân trí của cả một dân tộc. Vì người đọc, người nghe, người tiếp nhận thông tin họ có đủ trình độ, suy nghĩ để đánh giá cái đúng cái sai, cái giả cái thật, cái nào có lợi và không có lợi cho bản thân và đất nước của họ.

Tự do tư tưởng và tự do ngôn luận nó hoàn toàn không hề nguy hiểm như một vài ai đó tưởng tượng.

3/12/2009

Nguyễn Ngọc – Tôi cũng đã từng một lần gặp ông Triết

Nguyễn Ngọc

Đây là câu chuyện có thật 100%. Tôi xin chia sẻ với các độc giả Dân Luận và tác giả Đông La để cùng suy ngẫm thêm. 

Tôi cũng đã từng một lần gặp ông Triết

Tôi làm ở một chỗ vào loại… đại loại có chút tiếng tăm ở Sài Gòn này, (không lẽ mình lại đi nói mình làm ở một nơi chốn “danh nổi như cồn” thì kỳ quá!). Tại sao tôi phải dài dòng cái chỗ làm của mình như thế, vì những chỗ nếu không nổi về sự giàu có thì nổi về danh, thì các vị “máu mặt” mới đến, chứ cái chỗ xó xỉnh, khỉ ho cò gáy người ta bận tâm đến làm gì! 

Tôi may mắn hơn Đông La ở chỗ, Đông La gặp ông Triết cách đây đến hơn hai chục năm, tôi thì gặp ông với tư cách là Bí thư thành ủy Tp.HCM, nghĩa là… mới gần đây thôi. Chỗ làm của tôi hay được các ông bà nổi tiếng đến lắm (nói thật nổi tiếng ở đây theo định nghĩa của tôi là phải Trung Ương, hoặc chí ít phải là UBNDTP, các ông bà Bộ hoặc Thứ Trưởng), ít thì khoảng nửa năm một lần nhiều thì hai hay ba tháng một lần chỗ tôi làm phải đón tiếp các vị, cũng có khi nhân dịp lễ lạt, tết nhứt thì… một tuần một vài lần cũng có. 

Cuộc gặp mà tôi có dịp gặp và bắt tay ông Triết cũng là dịp tôi không quên như Đông La, nhưng khác về tính từ đôi chút, nếu Đông La thấy “áp áp, chân tình, nhân hậu, giản dị, thiện tâm v.v…” thì tôi lại thấy “kiểu cách, lên gân, cầu kỳ, giả tạo”, riêng Đông La dùng từ “thiện tâm” thì tôi không dám bàn vì chỉ có một lần làm sao biết thiện hay ác? Vả lại mình có làm gì người ta đâu mà biết người ta “thiện tâm” hay “ác tâm” với mình? 

Hôm đó, ông Triết cùng bộ sậu tháp tùng đến thăm và nghe sếp tôi báo cáo về tình hình hoạt động và đầu tư của chỗ tôi làm. Chỗ tôi làm lại có những cái đầu tư… quan trọng lắm, không phải lớn tiền, lớn sóng gì đâu mà nó quan trọng thiệt (công tâm mà nói), chính vì lẽ đó mà ông Triết quan tâm và tới thăm cũng như nắm tình hình… cho kỹ. 

Ác cái là tôi lại phải đi theo sếp tôi cạnh bên vì lý do đơn giản… chi tiết đầu tư tôi nắm trong tay, sếp tôi chỉ nói chung chung, phần trình bày cụ thể tôi… gánh! 

Sau khi ông Triết nghe báo cáo và hỏi đủ thứ mà theo tôi… hỏi nhiều nhưng thiếu (đôi khi hỏi ít mà đủ là vậy). Cái nghề “thuyết trình viên” ở VN hay là chỗ đó, “hỏi thì thưa, không hỏi thì thôi, đỡ mệt” Tôi cũng mừng! Rủi… ổng mà hiểu thì… mệt mình chớ mệt ai!? 

Sau đó, sếp tôi và tôi đưa ông Triết và bộ sậu đi một vòng quanh chỗ tôi làm (khá rộng) để tham quan và… dòm ngó (chỗ này tôi phải mở ngoặc để giải thích tại sao tôi dùng từ dòm ngó mà không dùng từ khác, đơn giản là để ổng và bộ sậu thấy… yên tâm tư tưởng về các cái đầu tư mà tôi vừa thuyết trình). 

Nở nụ cười mãn nguyện, ổng nói: 

- Vậy tốt quá rồi! Anh H. (Sếp tôi) cứ cố gắng nhé. Anh quả không hổ danh là con của bác V. (ba sếp tôi – một người cũng nổi tiếng nốt, nhưng mất lâu rồi). Nhưng phải chú ý… vệ sinh thêm nữa (trớt quớt, nhưng hổng lẽ không chê chút nào thì đâu có được, lỡ “tụi nhỏ” nó lờn mặt sao – tôi nghĩ vậy). 

- Vâng! Cám ơn anh Sáu. Có gì anh Sáu chỉ đạo và hỗ trợ cho chúng tôi thêm về “cơ chế” – Sếp tôi nói. 

“Sao họ không gọi nhau là đồng chí nhỉ?” Tôi thắc mắc trong bụng.

 - Yên tâm, ở đâu chứ ở đây anh khỏi nói, tôi ủng hộ và hỗ trợ hết mình. 

Mọi người vừa đi vào phòng khách, vừa chuyện trò rôm rả vì chuyến đi có vẻ tốt đẹp và tin tưởng, yên tâm. 

Tôi đi sau cùng, đi trước là 4 vị đệ tử ông Triết cùng một cô thư ký của tôi, ông Triết và sếp tôi đi giữa, đến gần cửa ra vào của phòng tiếp khách mọi người chậm rãi để đi vào từng chỗ ngồi (bàn hình oval khá rộng và nhiều chỗ), mọi người như có sắp đặt sẵn lâu rồi, nhìn vào chiếc ghế quan trọng nhất biết ngay dành cho ông Triết, ghế đặc biệt đẹp mà tôi không biết có tự lúc nào, nhưng đó không phải chuyện đáng nói mà chuyện tôi nói cho mọi người nghe là khi tôi đi ngang qua ông Triết và sếp tôi để vào chỗ mình ngồi, tôi thấy ông Triết ghé miệng vào tai sếp tôi và nói: “Làm thì làm sớm, tôi sắp ra Hà Nội rồi, muốn giúp anh cũng khó”

“Làm thì làm sớm” là làm gì nhỉ? 

Ra về, đích thân sếp tôi trao cho mỗi vị một cuốn tạp chí “cây nhà là vườn” của chỗ tôi làm phát hành, bìa cuốn tạp chí hơi cộm lên tí chút, bìa cuốn tạp chí của ông Triết cộm hơi… nhiều nhiều. Đương nhiên, tôi làm sao biết được cái gì trong đó (?) 

Mãi cho đến bây giờ, nhân bài viết của Đông La, tôi vẫn không hiểu “làm thì làm sớm” là làm gì nhỉ?! Sao lại phải nói nhỏ nếu đó thật sự là sự giúp đỡ trong sáng sếp tôi hoặc cơ quan tôi? Thắc mắc này có liên quan đến khái niệm “thiện tâm” hay “tà tâm” không nhỉ? 

Nguyễn Ngọc

Mô hình tư bản kiểu Trung Quốc?

Ngô Nhân Dụng

Trước khi Tổng Thống Mỹ Barack Obama sang Trung Quốc, tuần báo Economist đã viết một bài dài về mối quan hệ giữa hai nước. Họ nêu một nhận xét rằng, “triết lý kinh tế của hai nước đang rất giống nhau, và dẫn lời một học giả nổi tiếng về bang giao quốc tế. Giáo Sư Diêm Học Thông (Yan Xuetong) nói rằng, “chủ nghĩa xã hội với đặc tính Trung Quốc (như nhà cầm quyền Bắc Kinh vẫn mô tả chế độ cộng sản của họ) càng ngày càng trông giống như chủ nghĩa tư bản với đặc tính Mỹ!”

Diêm Học Thông tốt nghiệp Ðại Học Hắc Long Giang năm 1982, mười năm sau được trao bằng Ph.D. tại Ðại Học Berkeley, California, vào lúc 40 tuổi, hiện ông là giám đốc Viện Nghiên Cứu Quốc Tế tại Ðại Học Thanh Hoa, Bắc Kinh và rất được học giới Trung Quốc kính trọng sau 5 cuốn sách ông đã xuất bản về vai trò của Trung Quốc trong thế giới hiện tại.

Nhưng nói như ông Diêm Học Thông thì cũng oan cho nước Mỹ. Nếu kinh tế Trung Hoa hiện nay có giống chế độ tư bản ở Mỹ thì nó chỉ giống với nước Mỹ vào cuối thế kỷ 19, đầu thế kỷ 20 mà thôi.

Chế độ kinh tế đó người ta gọi là “tư bản quả đầu,” tức là một nhóm ít (quả nghĩa là ít) các công ty nắm đầu các sinh hoạt kinh doanh quan trọng. Nhưng, dù so sánh như vậy, vẫn còn một điều khác biệt quan trọng. Chúng ta nên nhớ là kinh tế Mỹ trước sau vẫn nằm trong tay tư nhân, còn ở Trung Quốc hiện nay chính quyền cộng sản vẫn chủ trương dồn tiền bạc, của cải trong nước cho các xí nghiệp quốc doanh sử dụng.

Một người phân tích kỹ lưỡng và đầy đủ hơn về kinh tế Trung Quốc là Giáo Sư Hoàng Á Sinh (Yasheng Huang) thuộc Ðại Học MIT. Trong chương đầu cuốn “Chủ nghĩa tư bản với đặc tính Trung Hoa,” (Capitalism with Chinese Characteristics) mới xuất bản năm ngoái, Giáo Sư Hoàng đã đặt câu hỏi, “Trung Quốc theo tư bản đến mức nào?” (Just how Capitalist is China?) Ngay phần mở đầu chương này, ông đã phá vỡ nhiều hiểu lầm và huyền thoại về hiện tượng các doanh nghiệp Trung Quốc được tiếng là thành công nhất hiện nay. Khi biết rõ, người ta sẽ thấy các nước nghèo khác không thể nào theo “mô hình” Trung Quốc được.

Năm 2002 chẳng hạn, tạp chí Forbes ở Mỹ lập bảng danh sách những công ty quốc tế cỡ nhỏ và trung thành công nhất, trong đó có 4 công ty Trung Hoa. Nhưng ông Hoàng Á Sinh cho biết, cả 4 công ty đó đều đặt trụ sở ở Hồng Kông, mặc dù hầu hết các hoạt động và lợi nhuận của họ đều ở trong lục địa.

Năm 2005, Giáo Sư Donald Sull xuất bản cuốn “Made in China,” với tiểu tựa là “Các nhà quản trị Tây phương có thể học hỏi gì nơi các nhà quản trị Trung Quốc?” Nhưng ông Hoàng Á Sinh, là người sinh trưởng ở Trung Quốc và tốt nghiệp đại học trước khi du học ở Mỹ, đã vạch ra một điều ngộ nhận lớn. Trong số 7 công ty Trung Quốc mà ông Sul nêu tên, Sina, UTStarcom, AsiaInfo, Haier, Galanz, Wahaha, and Ting Hsin, tất cả các công ty này hoặc các chi nhánh quan trọng nhất của họ đều được “đăng ký” như là “công ty ngoại quốc” và do người ngoại quốc làm chủ một phần lớn hay 100%! Haier tuy ghi danh trong nước nhưng các chi nhánh chính, sản xuất máy giặt, máy rửa chén và tủ lạnh đều được đăng ký là “công ty ngoại quốc.” Chính vì được đóng vai công ty ngoại quốc, cho nên họ được đối đãi theo quy chế rộng rãi hơn các công ty tư nhân bản xứ!

Trường hợp được Giáo Sư Hoàng Á Sinh kể cặn kẽ nhất là câu chuyện công ty Lenovo. Chúng ta đều nhớ năm 2004 cái tên Lenovo đã nổi tiếng ở nước Mỹ vì công ty tin học này đã đứng ra mua tất cả phân bộ sản xuất máy vi tính để bàn (PC) của đại công ty IBM. Nhiều người coi đây là cuộc tấn công đầu tiên của doanh nghiệp Trung Hoa vào thành trì của giới kinh doanh Mỹ. Có người ca ngợi Lenovo như là một xí nghiệp sinh trưởng ở Trung Quốc có thể so sánh với các xí nghiệp lớn nhất Ấn Ðộ như Wipro hay Infosys. Nó chứng tỏ thị trường Trung Quốc có khả năng tạo ra những xí nghiệp năng động với khả năng cạnh tranh trên thương trường quốc tế.

Nhưng Lenovo có phải là một công ty do Trung Quốc sinh ra hay không? Hoàng Á Sinh trả lời rõ ràng: Không. Chỉ một người Trung Hoa mới cất công tìm ra những uẩn khúc trong việc ra đời và trưởng thành của công ty này.

Năm 1984, ông Liễu Truyền Chí (Liu Chuanzhi) rủ 10 đồng nghiệp khác trong Viện Khoa Học Trung Quốc (CAS) lập ra một công ty để kinh doanh, lúc đầu lấy tên là Legend. Mười một người góp được 200,000 đồng nguyên (cỡ 30,000 đô la Mỹ) nhưng không dám góp vốn mà chỉ cho công ty vay! Số tiền đó họ cũng đi vay cả. Công ty này được khai sinh ở Hồng Kông, vì thân phụ ông Liễu làm giám đốc một văn phòng của chính phủ Bắc Kinh ở đó, đã quen đường đi nước bước và thân thuộc với các tai to mặt lớn trong chính quyền cũng như giới kinh doanh. Năm 1988, Hồng Kông chưa được trả về Trung Quốc, Lenovo đã nhận được 900,000 Mỹ kim của một công ty Hồng Kông để hợp tác và phát triển. Công ty mới này mở ra các công ty con trong lục địa, để làm công việc nghiên cứu hoặc sản xuất. Giáo Sư Hoàng nhận xét: Các công ty con Lenovo (Beijing) and Lenovo (Shanghai) hoàn toàn được ghi danh như là do ngoại quốc làm chủ 100%, chúng còn mang “tính chất ngoại quốc” hơn cả công ty General Motors ở Thượng Hải, vì GM chỉ góp 50% số vốn với một công ty Trung Quốc 50%.

Giáo Sư Hoàng đặt câu hỏi: Việc ghi danh Lenovo như một công ty ngoại quốc thì có gì quan trọng, nhất là khi Hồng Kông nay cũng thuộc chủ quyền chính phủ Bắc Kinh?

Trả lời câu hỏi này giúp chúng ta hiểu tương quan nhân quả giữa khung cảnh kinh tế, chính trị với sự phát triển kinh doanh.

Vì Hồng Kông là một nền kinh tế tự do nhất thế giới, tự do hơn cả kinh tế Mỹ. Lenovo ra đời và lớn lên khi Hồng Kông vẫn thuộc Anh. Ðến nay cựu thuộc địa này vẫn được giữ quy chế riêng sống khác lối Trung Quốc, cho nên họ vẫn bảo vệ được một hệ thống thị trường tài chánh độc lập, pháp luật nghiêm minh và tôn trọng quyền tư hữu.

Nếu sinh trưởng ở trong lục địa, Lenovo không được phép bán và sản xuất máy vi tính, vì công việc này phải xin giấy phép, mà giấy phép thường dành cho các xí nghiệp quốc doanh cùng với các công ty ngoại quốc.

Cho đến năm 2005, sau khi Lenovo đã mua phân bộ PC của IBM, chính quyền cộng sản Bắc Kinh mới chính thức cho phép các công ty trong nước được tham dự vào các ngành kỹ thuật cao! Các doanh nghiệp nhà nuớc thì dù được cấp giấy phép cũng không có khả năng phát triển như Lenovo!

Làm cách nào một công ty nhỏ như Lenovo có tiền để phát triển? Tiền vốn của Lenovo được thị trường tài chánh Hồng Kông cung cấp.

Trước khi Hồng Kông trở về với nước mẹ, lần phát hành cổ phiếu đầu tiên của công ty tại Hồng Kông thu được 12 triệu Mỹ kim, được chuyển vào đầu tư trong nước Tầu. Nếu sinh trưởng ở trong lục địa thì không có số tiền lớn lao đó, so với số nợ 200 ngàn nhân dân tệ.

Ðiều ngộ nghĩnh trong câu chuyện này là hiện tượng “vốn đi rồi vốn lại về.” Người Trung Hoa có tiền ở trong nước được phép chuyển sang Hồng Kông, dùng tiền đó góp vốn cho các công ty địa phương, rồi các công ty này lại chuyển tiền vào Trung Quốc đầu tư!

Chỉ vì những cơ cấu chính trị, luật pháp và thị trường vốn ở Trung Quốc không có khả năng “phân bố tài nguyên” của chính nước này, nên phải nhờ cơ cấu “tư bản cực hữu” ở Hồng Kông làm công việc đó!

Các nhà kinh doanh trong nước đã tìm ra được một kẽ hở trong hệ thống và tận dụng kiếm lời! Hai yếu tố giúp Lenovo thành công là di sản của chính quyền thuộc địa Anh tại Hồng Kông và cơ hội làm ăn mới mở ra tại Trung Quốc.

Một kết luận của Hoàng Á Sinh là “các nước nghèo khác không thể mô phỏng cách làm kinh tế của Trung Quốc,” vì họ không có một Hồng Kông làm cửa sau để chạy ra chạy vào.

Nếu chỉ mô phỏng các định chế, luật lệ, thị trường tài chánh của Trung Quốc, các nước khác sẽ gặp bế tắc, giống như Trung Quốc mà không có Hồng Kông vậy!

Chắc chắn đây là một bài học mà mọi người Việt Nam phải chú ý. Những nước khác không thể đẻ ra được một Hồng Kông nằm bên cạnh mà sử dụng; cho nên nếu bắt chước “mô hình phát triển” của Trung Quốc thì chỉ hưởng những hậu quả xấu của nó mà mang họa.

Ông HoàngÁ Sinh là người Trung Hoa cho nên ông thẳng thắn đặt một câu hỏi khác cho nước ông. Câu hỏi là: Biết sự thật về công ty Lenovo rồi, nhưng biết để làm gì? Ðằng nào Trung Quốc cũng hưởng lợi khi kinh tế phát đạt nhờ có những công ty như Lenovo; vậy thì đâu cần biết nó được sinh ra và nuôi dưỡng ở Hồng Kông hay ở đâu?

Câu trả lời là: Cần phải nhìn rõ trường hợp Lenovo để khỏi ngộ nhận là hệ thống kinh tế tài chánh ở Trung Quốc có khả năng giúp nước này phát triển. Vì những người thành lập Lenovo may mắn. Thân phụ ông Liễu Truyền Trí có đường dây liên hệ lớn ở Hồng Kông.

Còn hàng ngàn doanh nhân Trung Hoa khác không được may mắn như vậy thì sao? Khi nào nước Tầu còn chưa thiết lập được khung cảnh chính trị, pháp luật, và thị trường tài chánh theo đúng các quy tắc kinh tế tư bản thì còn hàng vạn trường hợp thất bại so với mỗi trường hợp thành công của Lenovo!

Khi nào Bắc Kinh chưa cải tổ toàn diện thì hàng triệu doanh nhân có khả năng không kém gì ông Liễu Truyền Trí vẫn không có cơ hội vươn lên. Còn các doanh nghiệp nhà nuớc thì dù được nâng đỡ đủ điều vẫn không tiến lên được. Cuối cùng, phải thay đổi chính trị thì mới tiến bộ được.

Nhà đấu tranh dân chủ Phạm Thanh Nghiên sắp ra tòa

Người Việt, Dec 2, 2009

 

Phạm Thanh Nghiên (bìa phải) chụp hình với Vũ Minh Khánh (vợ LS Nguyễn Văn Ðài) và Nguyễn Tiến Trung, khi đến dự tang lễ và để tang ông Hoàng Minh Chính, tổng thư ký Ðảng Dân Chủ Việt Nam, ngày 15 Tháng Hai, 2008. (Hình: PTDCVN)

HẢI PHÒNG (NV) – Cô Phạm Thanh Nghiên, người tọa kháng ở Hải Phòng với biểu ngữ “Hoàng Sa, Trường Sa là của Việt Nam” sẽ bị đưa ra xử ở tòa án thành phố Hải Phòng vào ngày 17 Tháng Mười Hai, 2009 tới đây. 

Cô là người cuối cùng trong nhóm những người đấu tranh dân chủ bị bắt giữ trong khoảng Tháng Tám và Tháng Chín năm ngoái ở Hà Nội và Hải Phòng liên quan đến các biểu ngữ bày tỏ lòng yêu nước nhưng lại không vừa lòng nhà cầm quyền Việt Nam.

“Tôi nghĩ con tôi không có tội. Con tôi chỉ nói thật, có sao nói vậy.” Bà Nguyễn Thị Lợi, mẹ cô Phạm Thanh nghiên nói với báo Người Việt sáng ngày Thứ Năm mùng 3 Tháng Mười Hai, 2009 giờ Việt Nam về chuyện con bà sắp ra tòa.

“Tôi ở gần con tôi suốt bao nhiêu năm. Tôi biết tính con là không nói sai cái gì. Nó chỉ biết nói thật, nói đúng.”

Bà Lợi nói về sự gán ghép cho con bà tội “tuyên truyền chống nhà nước” như thế. Bà cho hay LS Vũ Anh từ Hà Nội đã xuống nhà tù ở Hải Phòng và đã gặp cô Nghiên để thảo luận vấn đề biện hộ.

“Tôi mừng là mình từ nay không phải trông ngóng cái ngày con mình ra tòa nữa. Mừng là mẹ con có dịp thấy mặt nhau. Còn lo là bản án thế nào, còn tùy người ta.” Bà nói.

Phạm Thanh Nghiên, 32 tuổi, chị em kết nghĩa của Lê Thị Công Nhân, bị bắt giam ngày 17 Tháng Chín, năm 2008 và từ đó đến nay, gia đình cô không được gặp mặt, không biết tin tức gì về sự an nguy, sức khỏe của cô suốt hơn một năm trời. Luật tố tụng hình sự của những nước tôn trọng nhân quyền không cho phép cư xử như vậy với tù nhân và gia đình của họ.

Các bản án chính trị luôn luôn bị gọi là “án bỏ túi” vì đều do Ðảng CSVN ra quyết định tùy theo nhu cầu từng lúc. Thẩm phán chỉ làm nhiệm vụ chiếu lệ nên các phiên tòa diễn ra nhanh chóng. Luật sư dù có biện luận minh chứng hùng hồn đến đâu, đúng lý lẽ đến đâu cũng không có tác dụng. Không những vậy, luật sư còn bị cáo buộc là lợi dụng phiên tòa để nói xấu hay chống chế độ.

Phạm Thanh Nghiên đã từng bị bắt giam, hành hung trên đường phố và khủng bố, đe dọa rất nhiều lần nhưng không hề làm cô gái nhỏ bé sợ hãi và chùn bước trên đường đấu tranh đòi hỏi nhân quyền, tự do dân chủ cho mình và đồng bào mình. Cô và một số người nữa đã bị bắt vào ngày 30 Tháng Tư, năm 2008 trong khi biểu tình ôn hòa chống lại cuộc rước đuốc Bắc Kinh.

Cô bị giam giữ ít ngày mà không bị truy tố. Ngày 17 Tháng Sáu, năm 2008, cô làm đơn xin biểu tình nhưng bị nhà cầm quyền từ chối. Nhằm trị cái tội dám làm đơn xin biểu tình cho mục đích mà nhà nước không muốn, Công an đã khủng bố không những cá nhân cô mà cả gia đình của cô. Họ đe dọa và ra lệnh quản chế cô cho đến ngày 16 Tháng Bảy, năm 2008, tức ngày cô xin biểu tình ở Hà Nội.

Ngày 11 Tháng Chín, năm 2008, cô bị bắt giữ và được thả ra vào ngày sau nhưng vẫn bị công an canh chừng quanh nhà cho đến khi bị bắt lại vào ngày 17 Tháng Chín, năm 2008 khi đang tọa kháng tại nhà, trước hai khẩu hiệu: “Hoàng Sa, Trường Sa là của Việt Nam” và “Phản đối công hàm bán nước của Phạm Văn Ðồng.”

Ðể bắt một cô gái gầy yếu cao không quá mét rưỡi và không hề có chủ ý bạo động, chế độ Hà Nội đã huy động tới gần 30 công an các cấp đến nhà đọc lệnh bắt tại nơi cư trú ở phường Ðông Hải, quận Hải An, thành phố Hải Phòng. 

Ngày 14 Tháng Chín, 2008 trước khi ngồi tọa kháng, Phạm Thanh Nghiên đã phổ biến trên Internet bức tâm thư nêu lý do.

Cô viết: 

Trong trách nhiệm của một con dân Việt Nam, trong sự biết ơn và trân quý những hy sinh xương máu của tổ tiên, tôi tự cho mình có bổn phận phải tiếp nối truyền thống bảo vệ và gìn giữ đất nước. Sự gìn giữ và bảo vệ không chỉ đơn thuần ở từng mét vuông lãnh thổ mà còn là danh dự và niềm tự hào của dân tộc Việt Nam. Sự gìn giữ và bảo vệ này nằm trong tinh thần tổ quốc trên hết, đứng trên mọi bất đồng về ý thức hệ, chính kiến, tổ chức và đảng phái. Cách đây đúng 50 năm, vào ngày 14 Tháng Chín năm 1958, ông Phạm Văn Ðồng đã đại diện đảng Cộng Sản Việt Nam ký bản công hàm chấp nhận và tán thành bản tuyên bố của đảng Cộng Sản Trung Quốc về bề rộng lãnh hải của Trung Quốc trong đó bao gồm các quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa, vốn tự nghìn đời thuộc vào lãnh thổ Việt Nam.

Ðây là một hành động cúi đầu bán nước của đảng cầm quyền CSVN đối với ngoại bang, chưa kể là ông cựu Thủ Tướng Phạm Văn Ðồng vào thời điểm đó không có thẩm quyền ấy, vì 2 đảo Trường Sa và Hoàng Sa lúc ấy thuộc về quyền trách nhiệm sở hữu của miền Nam Việt Nam Cộng Hòa. Nhân dân Việt Nam chưa bao giờ và sẽ không bao giờ chấp nhận sự dâng hiến này của đảng CSVN. Hoàng Sa và Trường Sa muôn đời vẫn là lãnh thổ của Việt Nam.”

Làm đơn xin biểu tình bị từ chối dù làm đúng theo qui định của luật lệ, cô viết rằng: “Tôi không còn lựa chọn nào khác trừ phương thức đấu tranh tọa kháng ngay tại nhà tôi để thể hiện quyền bày tỏ thái độ của tôi, một quyền mà chính Hiến Pháp nhà nước trong điều khoản 69 cũng đã ghi rõ. Và lần này, nếu nhà nước đàn áp, sách nhiễu hay sử dụng bạo lực với tôi, hay thậm chí án tù với tôi, thì ít ra tôi cũng đã thể hiện qua chính sự an nguy của tôi cho cả thế giới được biết sự thật của đất nước này là không hề có tự do ngôn luận, cho dù là ngay tại chính nhà mình sở hữu.

Tôi cũng tọa kháng để phản đối mọi hành động khiếp nhược của nhà nước này trước ngoại bang phương bắc nhưng lại hung hãn đàn áp mọi tiếng nói, mọi thái độ bày tỏ lòng yêu nước của công dân Việt Nam. Ðây chỉ là một việc làm nhỏ bé mà cá nhân tôi có thể làm được trong lúc này.”

Người thiếu nữ can trường tên Phạm Thanh Nghiên đã được Human Rights Watch chọn trong số sáu người Việt Nam được giải thưởng nhân quyền Hellman Hammett năm 2009 hồi giữa Tháng Mười vừa qua. (TN)

Jacqueline Nguyễn, người Việt đầu tiên trở thành thẩm phán liên bang Hoa Kỳ

Người Việt, Dec 1, 2009

WASHINGTON (NV) – Bằng số phiếu 97-0, Thượng Viện Hoa Kỳ hôm Thứ Ba đồng loạt bỏ phiếu chấp thuận cho Thẩm Phán Jacqueline Nguyễn vào tòa liên bang tại California, trở thành người Mỹ gốc Việt đầu tiên làm thẩm phán liên bang.  

Thẩm Phán Jacqueline Nguyễn tại Ðại Hội Toàn Quốc Luật Sư Người Mỹ Gốc Việt tại San Francisco hồi Tháng Hai, 2009. (Hình: VABANC, Slide.com)

Bà Jacqueline Nguyễn, được Tổng Thống Barack Obama bổ nhiệm. Vào tháng trước, bà nhận được phiếu bầu đồng nhất từ Ủy Ban Tư Pháp Thượng Viện.

Tại Thượng Viện, Nghị Sĩ Diane Feinstein phát biểu, “Thẩm Phán Nguyễn là vị thẩm phán đã từng kinh qua thử thách và có thành tích vững chắc trong vai trò một thẩm phán và một công tố liên bang.” Bà ra đời ở Nam Việt Nam và đến Hoa Kỳ vào những ngày cuối cùng của Chiến Tranh Việt Nam khi chỉ mới lên mười. Gia đình họ Nguyễn sống tạm nhiều tháng ở trại tỵ nạn tại Camp Pendleton, San Diego, trước khi dọn lên ở thành phố La Crescenta, ngoại ô của Los Angeles. Ðến năm 1984 thì bà trở thành công dân Hoa Kỳ.

“Cha mẹ bà phải làm đến hai, ba công việc một lúc, trong khi bà và các anh chị em đều góp tay phụ giúp họ. Những công việc như chùi dọn văn phòng nha sĩ, lột vỏ và cắt táo cho một công ty làm bánh pie, và sau cùng là quản lý tiệm bánh donut mà cha mẹ bà đã mua lại.”

Với sự phê chuẩn của Thượng Viện Hoa Kỳ, bà Jacqueline Nguyễn chính thức gia nhập hàng ngũ các thẩm phán tòa liên bang khu vực Trung California, gồm các quận hạt Los Angeles, Orange, Riverside, San Bernardino, San Luis Obispo, Santa Barbara và Ventura.

Sinh ra tại Ðà Lạt, và là con gái của một cựu đại tá Việt Nam Cộng Hòa, Thẩm Phán Jacqueline Nguyễn tốt nghiệp đại học Occidental College ở Los Angeles. Sau đó, bà theo học đại học luật ở UCLA.

Ra trường, bà gia nhập Musick, Peeler & Garrett, một trong những tổ hợp luật sư hàng đầu ở Los Angeles. Sau bốn năm làm việc tại đây, Thẩm Phán Nguyễn chuyển qua làm việc tại văn phòng Biện Lý Liên Bang thuộc Central District of California, nơi bà trở thành Trưởng Ban Hình Sự (General Crimes Section).

Cựu Thống Ðốc Gray Davis là người bổ nhiệm bà vào chức vụ hiện nay, thẩm phán Tòa Thượng Thẩm Los Angeles.

Hệ thống tư pháp liên bang từng có nhiều người gốc Việt làm việc trong đó. Tuy nhiên, Jacqueline Nguyễn là thẩm phán liên bang đầu tiên theo đúng nghĩa, được tổng thống bổ nhiệm và Thượng Viện phê chuẩn. (T.P.) 

Cảm tưởng về Tân Thẩm Phán Liên Bang Jacqueline Nguyễn 

Dân Biểu Tiểu Bang Trần Thái Văn

Dân Biểu Tiểu Bang Trần Thái Văn là một luật sư, phó chủ tịch ủy ban tư pháp Hạ Viện tiểu bang California

Tôi rất sung sướng và rất hãnh diện chúng ta có người thẩm phán liên bang đầu tiên người Mỹ gốc Việt. Trong vai trò đồng chủ tịch nhóm dân biểu gốc Á Châu Thái Bình Dương và phó chủ tịch Ủy Ban Tư Pháp, tôi đã cùng Dân Biểu Tiểu Bang Ted Lieu viết thư ủng hộ Thẩm Phán Jacqueline Nguyễn vào chức vụ thẩm phán liên bang.

Tôi rất sung sướng khi thấy Thượng Viện Hoa Kỳ bỏ phiếu phê chuẩn một cách nhanh chóng.

Dựa vào những gì tôi biết về Thẩm Phán Jacqueline Nguyễn, kể cả hồ sơ do bà đưa qua khi yêu cầu chúng tôi ủng hộ, tôi tin rằng bà Jacqueline Nguyễn sẽ là một thẩm phán công bằng, sẽ trung thành với Hiến pháp Hoa Kỳ. 

Thượng Nghị Sĩ Tiểu Bang Lou Correa

Thượng Nghị Sĩ Tiểu Bang Correa là một luật sư, tốt nghiệp cùng trường luật UCLA như Thẩm Phán Jacqueline Nguyễn.

Tôi rất vui khi nghe tin này và xin chúc mừng Thẩm Phán Nguyễn cùng gia đình và toàn thể cộng đồng Việt Nam tại Hoa Kỳ đã có một người con cháu làm cộng đồng Việt Nam vô cùng hãnh diện. Là một thẩm phán Tòa Án Liên Bang, tôi chắc chắc rằng Thẩm Phán Nguyễn sẽ đem theo những kinh nghiệm đời của cô: sự tôn trọng thành tích; sự bảo vệ quyền tự do của tất cả chúng ta; và, một sự quyết tâm mãnh liệt để duy trì công bằng trong tòa án của cô. 

Luật Sư Phan Kinh Luân

Luật Sư Phan Kinh Luân, đứng đầu Phan Law Group, là chủ tịch hiện thời của Luật Sư Ðoàn Việt Mỹ Nam California.

Ðây là một thời điểm lịch sử. Tôi vui mừng hết mức, với sự phê chuẩn nhanh chóng và đồng nhất dành cho Thẩm Phán Jacqueline Nguyễn. Tôi tin rằng bà sẽ làm rạng danh người Mỹ gốc Á với sự tiếp tục phục vụ cho cộng đồng nói chung.

Chuẩn bị bang giao: Chủ tịch Việt Nam công du Vatican ngày 11 tháng 12

Đức Tâm,ngày  03/12/2009 15:17 TU

Trong chuyến viếng thăm này, chủ tịch Việt Nam sẽ hội đàm với Đức Giáo hoàng Benedicto 16. Hai bên sẽ thảo luận « những biện pháp nhằm củng cố quan hệ giữa Việt Nam và Vatican ».

Hà Nội và Tòa Thánh đã bắt đầu tiến trình xích lại gần như kể từ năm 2007 với việc thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng công du Vatican.

Ngày 3/12, phát ngôn viên bộ Ngoại giao Việt Nam, bà Nguyễn Phương Nga cho biết, chủ tịch Việt Nam, ông Nguyễn Minh Triết sẽ công du Vatican ngày 11 tháng 12 tới đây nhằm mục đích thúc đẩy tiến trình bình thường hóa quan hệ song phương.

Trong chuyến viếng thăm này, chủ tịch Việt Nam sẽ hội đàm với Đức Giáo hoàng Benedicto 16. Hai bên sẽ theo luận « những biện pháp nhằm củng cố quan hệ giữa Việt Nam và Vatican ». Theo Hà Nội, « mối quan hệ này đã có nhiều tiến triển trong thời gian qua ».

Hà Nội và Tòa Thánh đã bắt đầu tiến trình xích lại gần như kể từ năm 2007 với việc thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng công du Vatican.

Từ đầu năm 2009, hai bên đã tiến hành nhiều cuộc thảo luận kỹ thuật chưa từng thấy với việc tổ chức phiên họp đầu tiên của ủy ban hỗn hợp phụ trách hồ sơ bình thường hóa quan hệ ngoại giao song phương.

Phát ngôn viên bộ Ngoại giao Việt Nam không cho biết chi tiết về nội dung cuộc gặp ngày 11 tháng 12 giữa chủ tịch Nguyễn Minh Triết và Đức Giáo hoàng và cũng không nêu rõ là liệu hai bên có đề cập đến vấn đề tranh chấp đất đai giữa Nhà thờ và chính quyền Việt Nam hay không.

Từ cuối năm 2007, đã diễn ra nhiều vụ giáo dân Việt Nam biểu tình đòi lại những khu đất ở Hà Nội và ở một số nơi, bị chính quyền trưng dụng từ sau năm 1954 ở miền Bắc và sau 1975 ở miền Nam.

Vấn đề tranh chấp đất đai đã đầu độc bầu không khí quan hệ giữa chính quyền và giáo dân Việt Nam.

Trong khu vực Đông Nam  Á, Việt Nam là nước có cộng đồng giáo dân Công giáo đứng hàng thứ hai, 6 triệu giáo dân trong tổng số 86 triệu dân, chỉ đứng sau Philippines.

Chuyến đi Vatican của chủ tịch Việt Nam nằm trong khuôn khổ chuyến viếng thăm châu Âu, từ mồng 9 đến 19 tháng 12. Ngoài Ý, ông Nguyễn Minh Triết còn công du Tây Ban Nha và Slovaquia.

Tình trạng thiếu tự do ngôn luận cản trở phát triển ở Việt Nam

Thanh Phương, ngày  03/12/2009 14:24 TU

Đầu tư ngoại quốc vào việt Nam giảm đi mất 2/3 trong năm 2009 

Trên đây là nhận định của các nhà tài trợ tại Hội nghị Nhóm tư vấn các nhà tài trợ cho Việt Nam khai mạc hôm nay tại Hà Nội. Đối với chính quyền Hà Nội, mạng Internet là nơi lan truyền mọi thông tin ” độc hại và có dụng ý xấu ” và là nơi tập hợp 

Đối với chính quyền Hà Nội, mạng Internet là nơi lan truyền mọi thông tin ” độc hại và có dụng ý xấu ” và là nơi tập hợp ” những lực lượng thù địch ”, như lời của Bộ trưởng Thông tin và Truyền Thông Lê Doãn Hợp tuyên bố trước Quốc hội vào tháng trước. 

Thực tế cho thấy là Internet ngày càng trở thành một không gian để người dân Việt Nam hành xử quyền tự do ngôn luận, điều mà họ không thể làm được trên các mặt báo chính thức.

Nhưng ngay cả trên không gian này, quyền tự do ngôn luận đang ngày càng bị siết chặt, khiến các nhà tài trợ phương Tây nay phải lên tiếng. 

Tuyên bố tại buổi khai mạc hội nghị thường niên các nhà tài trợ cho Việt Nam hôm nay, đại sứ Mỹ tại Hà Nội Michael Michalak đã cho rằng, ” tăng trưởng kinh tế và sự phát triển cần một môi trường thông thoáng và minh bạch cho mọi tác nhân Việt Nam cũng như quốc tế.” 

Ông Michalak chỉ trích việc chính quyền Hà Nội gần đây ” siết chặt không gian dành cho các thông tin trung thực và đáng tin cậy ”. Đại sứ Mỹ bày tỏ mối quan ngại trước những thông tin theo đó, việc truy cập vào mạng xã hội Facebook ở Việt Nam trong thời gian gần đây rất khó khăn.

Theo ông, điều này sẽ ảnh hưởng đến quyền trao đổi các thông tin, các ý tưởng cũng như ảnh hưởng đến quyền kinh doanh.  Về phần đại sứ Thụy Điển Rolf Berman cũng bày tỏ mối quan ngại tương tự và  nhân danh Liên hiệp châu Âu, ông đã đã kêu gọi chính phủ Hà Nội bãi bỏ các biện pháp kiểm soát Internet.   

Tại hội nghị hôm nay (3/12), các nhà tài trợ cũng tỏ vẻ quan ngại về những quy định mới, mà theo họ, sẽ hạn chế chặt chẽ hơn các phương tiện truyền thông và các tổ chức phi chính phủ.   

Theo lời đại sứ Thụy Điển Bergman, ” chính phủ Việt Nam phải cho phép báo chí giám sát các cơ quan quyền lực. Các tổ chức phi chính phủ phải được khuyến khích để tham gia giám sát ”, để có thể giúp Việt Nam đạt mục tiêu trở thành một nước công nghiệp phát triển vào năm 2020.

Đại sứ Mỹ Michalak cũng đề cập đến quyết định 97 của thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng nghiêm cấm các tổ chức nghiên cứu tư nhân công bố các ý kiến phản biện những đường lối chính sách của Đảng và Nhà nước. Theo đại sứ Mỹ, quyết định nói trên ” khiến Việt Nam bớt hấp dẫn hơn so với các đối tác ngoại quốc, đặc biệt là trong lĩnh vực giáo dục, nhưng không chỉ trong lĩnh vực này”   

Việc nghiên cứu và quyền tự do ngôn luận sẽ còn bị hạn chế hơn với nghị quyết 88 sửa đổi về thành lập hội. Cho nên, Hoa Kỳ kêu gọi chính phủ thông qua một đạo luật không cản trở ” sự phát triển nhanh chóng của xã hội dân sự xuất phát từ tiến trình tự do hóa kinh tế”.  

Về phần đại sứ Canada, bà Deanna Horton, yêu cầu chính phủ Việt Nam phải bảo đảm là ” mọi quy định luật lệ mới về các tổ chức xã hội dân sự và báo chí đều phải tạo điều kiện tốt hơn cho người dân tham gia vào sự phát triển của đất nước, thay vì đặt ra thêm những hạn chế mới”. Bà Horton cũng phát biểu nhân danh các nước Na Uy, Thụy Sĩ và New Zealand.  

Những lời kêu gọi nói trên được đưa ra vào lúc mà vào tháng trước, theo hãng tin AFP,  một công ty cung cấp dịch vụ Internet cho biết đã nhận được lệnh của Bộ Công An ngăn chận việc truy nhập mang xã hội Facebook ở Việt Nam. 

Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng cũng vừa chỉ đạo Bộ Thông tin và Truyền Thông rào soát tất các các trang Web”, kể cả các trang Web đã được cấp phép và xử lý nghiêm khắc những trường hợp vi phạm.  Chính phủ Việt Nam cũng đang xem xét các quy định mới về xử phạt hành chính những tờ báo nào có những bài viết bị coi là có nội dung tuyên truyền chống Nhà nước và ” đi ngược lại lợi ích của dân tộc”.  

Nhận định của BBT:

Đây là một hình thức vừa kìm kẹp và trấn áp người dân, cướp bóc, và vơ vét tiền của, đồng thời củng cố bảo vệ guồng mày cai trị bạo lực của CSVN. Chừng nào nhân dân VN có thể vùng dậy lật đổ bè lũ độc tài tham ô, lúc đó nhân dân VN mới thực sự có cơ hội sống xứng đáng với nhân phẩm và phiển triển, tiến bộ ngang vai với toàn thể nhân loại.

Trung Quốc tổ chức đường bay dân sự đến Hoàng Sa?

RFA-12-03-2009

Đại diện bộ ngoại giao Việt Nam đã yêu cầu toà đại sứ Trung Quốc xác minh tin Trung Quốc tổ chức đường bay dân sự và đưa phóng viên đến quần đảo Hoàng Sa.

Phát ngôn viên bộ ngoại giao Việt Nam Nguyễn Phương Nga loan tin nay trong cuộc họp báo hồi chiều nay tại Hà Nội.  Tin trên mạng của hãng tin Phượng Hoàng hôm thứ tư loan tải về hành động của Trung Quốc như đã nói.

Phát ngôn viên Nguyễn Phương Nga tuyên bố nếu thông tin này là sự thật thì đây là hành vi vi phạm nghiêm trọng chủ quyền của Việt Nam.  

Copyright © 1998-2009 Radio Free Asia. All rights reserved.
__________________________

Việt Nam phản đối TQ đưa tàu đến Hòang Sa và Trường Sa

RFA-11-27-2009

Việt Nam phản đối Trung Quốc đưa hai tàu ngư chính đến quần đảo Hoàng Sa và một tàu y tế đến quần đảo Trường Sa.

Người phát ngôn Bộ ngoại giao Việt Nam, bà Nguyễn Phương Nga, trong trả lời báo chí vào ngày hôm qua, cho biết Bộ Ngoại giao Việt Nam đã đến Đại sứ quán Trung quốc ở Hà Nội phản đối việc Trung Quốc hôm 26 tháng 11 vừa rồi đưa hai tàu ngư chính đến quần đảo Hoàng Sa, và một tàu y tế đến Trường Sa.

Theo người phát ngôn Bộ ngoại giao Hà Nội thì Việt Nam khẳng định chủ quyền không thể tranh cải trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa và phía Việt nam yêu cầu Trung Quốc không tiếp tục các hành động làm phức tạp thêm tình hình ở Biển Đông.

Trong hai ngày 26 và 27 tháng 11 vừa qua, Học viện Ngoại giao và Hội Luật gia phối hợp tổ chức hội thảo về Biển Đông với sự tham dự của 150 đại biểu từ 22 quốc gia đến tham dự.

Trong phần câu chuyện thời sự sáng nay, chúng tôi có bài nói về cuộc hội thảo vừa chấm dứt vào ngày hôm qua, mời quí thính giả đón theo dõi. 

Copyright © 1998-2009 Radio Free Asia. All rights reserved

Hoàng Sa-Trường Sa: cuộc chiến mới trên internet

Khánh An, đài RFA, 09-12-02

Gần đây, những hình ảnh video clip về các cuộc đụng độ giữa hải quân Trung Quốc và Việt Nam trước đây trên các website.

Photo: RFA, Bản đồ khu vực tranh chấp giữa Việt Nam và Trung Quốc trong Biển Đông. RFA graphic

Đặc biệt là trang mạng Youtube, đã thực sự gây ra một cuộc chiến mới giữa những người xem Việt Nam và người xem Trung Quốc, giữa người Việt hải ngọai và người Việt trong nước, trên mạng internet.

Lòng yêu nước, con hổ khó trị

Các video clips về hải chiến Hòang Sa – Trường Sa có nguồn gốc từ cả người Việt hải ngọai lẫn trong nước, được dàn dựng kỹ lưỡng với các dữ liệu chi tiết và đáng tin cậy.

Nội dung xoay quanh các cuộc hải chiến năm 1974 của hải quân Việt Nam Cộng Hòa với Trung Quốc và cuộc hải chiến của hải quân Nhân Dân Việt Nam với Trung Quốc năm 1988.

Một đặc điểm chung của các video clips này là hầu hết đều được nhận được rất nhiều ý kiến phản hồi. Các ý kiến vừa công kích những hành động xâm lăng của Trung Quốc, vừa chỉ trích thái độ của Chính phủ Việt Nam đương thời, vừa đau xót, lo lắng cho vận mệnh đất nước và đôi khi cả thái độ cay cú, công kích lẫn những ý kiến của nhau.

Có thể nói, tất cả tạo nên một cuộc chiến gay gắt không kém những trận hải chiến khi xưa.

Trên tờ Nhật báo South China Morning Post hôm 1/12, thông tín viên Greg Torode, cho rằng internet đã góp phần đáng kể trong việc gợi lên những ý niệm tìm hiểu về những điều còn lờ mờ trong quá khứ cũng như mở ra một cánh cửa trong viễn ảnh có vẻ đang tăm tối dần đi. 

Trung tá Ngụy Văn Thà, hạm trưởng Hộ Tống Hạm Nhật Tảo HQ 10

Trung tá Ngụy Văn Thà, hạm trưởng Hộ Tống Hạm Nhật Tảo HQ 10 đã tuẫn tiết theo tàu khi đụng độ với hải quân TQ

Ông lấy ví dụ là trận hải chiến trên quần đảo Trường Sa giữa Việt Nam và Trung Quốc năm 1988. Trong trận chiến này, đã có hơn 70 hải quân Việt Nam tử trận. Tuy nhiên, điều mà thông tín viên Greg Torode nhấn mạnh không phải là những cảnh phim bi hùng của trận chiến mà là sự căm hờn của khán giả sau khi xem những đọan phim trên.  

Thông tín viên này nhận xét rằng có những ý kiến của người Việt Nam lẫn người Trung Quốc đều lên đến sự tột cùng của căm hờn, thù hận. Họ thậm chí không ngại nói những lời tục tĩu, nguyền rủa lẫn nhau.

Điều này cho thấy những hiểm họa đối đầu cũng như nguy cơ gia tăng căng thẳng giữa hai chính quyền cộng sản về vấn đề tranh chấp Biển Đông một lần nữa. 

Những ý kiến của người Việt Nam lẫn người Trung Quốc đều lên đến sự tột cùng của căm hờn, thù hận. Họ thậm chí không ngại nói những lời tục tĩu, nguyền rủa lẫn nhau. Điều này cho thấy những hiểm họa đối đầu cũng như nguy cơ gia tăng căng thẳng giữa hai chính quyền cộng sản về vấn đề tranh chấp Biển Đông

Greg Torode 

Cả hai nhà cầm quyền đều cố gắng tuyên bố chủ quyền của mình trên Biển Đông nên sẽ tìm mọi cách để khơi dậy lòng yêu nước theo mục đích riêng của mình.

Tuy nhiên, cả hai đều nhận ra rằng lòng yêu nước thực sự là một con hổ khó trị.

Căng thẳng ngấm ngầm

Dĩ nhiên, không có gì để kết luận rằng hai chính quyền này đứng đằng sau để đưa những đọan phim trên lên Youtube nhưng chúng khiến người ta dễ liên tưởng đến một đọan phim ngắn khác về cuộc chiến biên giới đẫm máu năm 1979.

Đọan phim này cũng nhận được rất nhiều ý kiến độc hại như thế này.

Mặc dù Việt Nam và Trung Quốc bình thường hoá quan hệ từ năm 1991 nhưng những nghi kỵ, dè dặt vẫn còn đó. Tất cả những quan hệ thương mại, đầu tư, du lịch được mở rộng theo các cam kết chính thức nhưng vấn đề biên giới phía Bắc Việt Nam cũng như tranh chấp Hòang Sa – Trường Sa vẫn là những căng thẳng đang tồn tại.

Cả hai chính quyền cộng sản đều kiểm soát rất chặt các phương tiện truyền thông và chặn tất cả các thông tin bất lợi cho chính quyền. Thế nhưng trong thời đại internet, mọi người được tự do hơn thì cả hai chính quyền đều phải nên phản ứng bằng khả năng lãnh đạo thực sự và trưởng thành. 

Trận hải chiền năm 1988, trước hỏa lực mạnh mẽ của hải quân TQ tàu HQ 604 của quân chủng HQVN đa bị bắn chìm.

Trận hải chiền năm 1988, trước hỏa lực mạnh mẽ của hải quân TQ tàu HQ 604 của quân chủng HQVN đa bị bắn chìm.

Những người yêu nước đã chỉ ra một phần trong mối quan hệ đối ngọai. Có thể thấy rõ điều này trong vụ việc sinh viên Hà Nội biểu tình trước Đại sứ quán Trung Quốc để đòi lại chủ quyền trên Biển Đông. Trung Quốc đã tỏ ra bất bình. Vì vậy, chính quyền Hà Nội đã ngầm hiểu một thông điệp rằng Trung Quốc sẽ không tha thứ cho một vụ biểu tình tương tự nào khác trong quá trình rước đuốc Olympic qua TPHCM hồi năm ngoái.  

Tất cả những quan hệ thương mại, đầu tư, du lịch được mở rộng theo các cam kết chính thức nhưng vấn đề biên giới phía Bắc Việt Nam cũng như tranh chấp Hòang Sa – Trường Sa vẫn là những căng thẳng đang tồn tại. 

Mặc dù chính quyền Hà Nội có những động thái để chứng minh chủ quyền trên Biển Đông nhưng cả người Việt hải ngọai lẫn trong nước đều chỉ trích thái độ yếu đuối, bạc nhược của chính quyền trong khi đối đầu với Trung Quốc.

Trong hội nghị quốc tế tuần vừa qua tại Hà Nội về vấn đề Biển Đông, các chuyên gia cho rằng cả hai chính phủ cần “hạ nhiệt”. Những chiến lược đánh vào lòng yêu nước của cả hai chính phủ đều không thành công trong thời gian qua.

Trong khi đó, internet – trong đó có Youtube – là một thực tế cuộc sống, mặc cho điểm tương đồng của hai chính quyền Bắc Kinh và Hà Nội là cho thấy sự cởi mở, linh họat cần thiết để gia tăng mối quan hệ hữu nghị. 

Copyright © 1998-2009 Radio Free Asia. All rights reserved.

Thủ tướng ra lệnh kiểm tra các website

Internet ở Việt Nam

Việt Nam có 20 triệu người sử dụng internet

Thủ tướng Việt Nam Nguyễn Tấn Dũng vừa chỉ đạo ngành văn hóa thông tin rà soát tất cả các website và xử lý nghiêm khắc các vi phạm.

Trang tin điện tử của Chính phủ Việt Nam cho hay ông Dũng vừa ký công văn 8500/VPCP-TH giao cho Bộ Thông tin và Truyền thông tiến hành kiểm tra các trang mạng “có phép và không phép”, báo cáo thủ tướng trước 15/12/2009.

Quyết định này được nói là đưa ra sau khi Báo Tuổi trẻ có bài phản ánh thực trạng “ngày càng nhiều trang thông tin điện tử của các tổ chức, công ty truyền thông trong nước chưa được cấp phép hoạt động”.

Được biết tờ báo này hôm 15/11 có bài tiêu đề “Web cho giới trẻ: có một đống rác”, phản ánh, rằng còn tồn tại trên các trang web “nhiều thông tin sai lệch, quan niệm lệch lạc”, “trái với thuần phong mỹ tục, đạo đức lối sống của người Việt Nam”.

Báo Tuổi Trẻ cho rằng các thông tin “nguy hại” trên mạng này ” đã khuyến khích giới trẻ chạy theo lối sống thực dụng, buông thả,.. ảnh hưởng đến nhân cách, đạo đức, lối sống, văn hóa và trí tuệ của thanh thiếu niên Việt Nam”.

Phản ứng trước thông tin mà tờ báo đưa ra, ông Nguyễ́n Tấn Dũng đã yêu cầu cơ quan văn hóa thông tin phải “tiến hành tổng rà soát, kiểm tra các trang website đã được cấp phép” và có biện pháp xử lý nghiêm khắc nếu phát hiện vi phạm.

Ông thủ tướng cũng yêu cầu Bộ Thông tin và Truyền thông đề xuất biện pháp quản lý thông tin, hữu hiệu hơn.

Chặn thông tin độc hại

Với 20 triệu người sử dụng internet, Việt Nam là quốc gia có tốc độ phát triển công nghệ thông tin nhanh trên thế giới.  Chính phủ muốn có cơ chế kiểm soát thông tin chặt chẽ hơn, với lý do ngăn chặn thông tin “độc hại, trái thuần phong mỹ tục”.

Tuy nhiên Việt Nam cũng bị nhiều tổ chức theo dõi tự do ngôn luận và tự do báo chí chỉ trích là hạn chế thông tin, nhất là các thông tin có nội dung chính trị mà giới chức liệt vào diện “nhạy cảm”.

Có tổ chức như Phóng viên Không Biên giới còn liệt Việt Nam vào danh sách ‘thù nghịch với internet’.

Dư luận người sử dụng internet Việt Nam vẫn còn đang thắc mắc về việc trang mạng xã hội Facebook khó truy cập, có tin nói rằng trang này đã bị chặn, tuykhông có xác nhận chính thức.

Việt Nam có khoảng một triệu người đăng ký sử dụng Facebook.

Chuyện vỉa hè: Phét lác như vầy, chơi với ai?

 

Tư Ngộ, Người Việt, Dec 1, 2009

Chắc mọi người vẫn còn nhớ Sáu Triết nổ sảng khi đến Cuba mấy tháng trước? Vừa bước chân xuống phi trường Havana, ông Sáu phét lác rằng Việt Nam và Cuba thay nhau “canh giữ hòa bình thế giới”. Khi Việt Nam gác thì… cu ba ngủ, khi cu… ba gác thì Việt Nam nghỉ, ra cái điều, bây giờ, ta được cho ngồi làm cảnh ở cái ghế hội viên không thường trực của Hội Ðồng Bảo An LHQ là le lói lắm. Nói phét gì cũng được cả.

Ngày 22 Tháng Mười Một 2009, nhân dịp tổ chức hội nghị “đại biểu” dziệt kều ở Hà Nội, ông chủ tịch nước CSVN Nguyễn Minh Triết tiếp tục nổ sảng. Lần này, không những nổ sảng như pháo Bình Ðà, ông còn lộ cho thấy cái đểu cáng, xỏ lá của người Cộng Sản.

Lời nói này của ông được đài truyền hình nhà nước chiếu trực tiếp, còn cho lên trang nhà của VOV trên Internet và một số người chộp được, cho lên youtube để mọi người cười chơi.

Có nhiều người viết phê bình cảm thấy phẫn nộ, người khác cảm thấy nhục vì đất nước lại có loại lãnh tụ như thế.

Trong bài diễn văn ở cái đại hội tuyên truyền bố láo nói trên, sau khi nói phét về những chuyến tới New Zealand, Na Uy, Áo, Hy Lạp, Nguyễn Minh Triết khoe chuyện đến dự đại hội đồng LHQ. Khi đọc diễn văn ở đây, Sáu Triết khoe “phê phán’” Mỹ về việc cấm vận Cuba. Xong rồi, Sáu Triết nói “Tôi có thêm cái ý kiên tôi hoan nghênh ông Obama. Ông tuyên bố là ổng sẽ đóng cửa nhà tù Guantanamo. Nhưng mà tôi nói rằng ông Obama ơi, vấn đề này khó lắm đó. Tôi chúc ông phải nỗ lực để thực hiện cho bằng được cái này. Tôi nói mà tôi nhìn Obama tôi thấy ổng cũng chăm chú lắm á, cũng lắng nghe. Như thế là mình vừa động viên ông Obama nhưng mà mình vừa muốn phân hóa cái nội bộ của ổng.”

Như vậy đó, tôi muốn với các đồng chí, với các quý vị rằng: “Cái vai trò, cái vị thế của mình bây giờ cũng ngang hàng với người ta, cũng nói năng cũng đúng mức đàng hoàng…”

Cái vị thế “của mình” có ngang hàng với người ta được không? Tôi không tin có nhiều người đồng ý ngoài những người sẵn sàng đóng tuồng “mẹ hát con khen hay”.

Cái mà nhiều người nhìn thấy ở trong đoạn trích lời nói của ông Triết, ngoài cái hỗn, còn lộ rõ cái đểu. Bề ngoài “Ðộng viên” người ta mà trong bụng lại nhằm “phân hóa” nước người ta? Còn gì đểu hơn, thâm hiểm hơn.

XIN BẤM VÀO LINK DƯỚI ĐÂY ĐỂ THẤY RÕ SỰ KIỆN NÀY:

http://www.youtube.com/watch?v=IbHnOIA4qR0

Nước Mỹ sẽ cảm ơn Sáu Triết về những lời nói “động viên” kiểu đó?

Duyệt lại những lần đám lãnh tụ Hà Nội gồm cả Nguyễn Minh Triết đến Mỹ ngửa nón xin viện trợ, người ta đều thấy các bài viết bản tin của đám báo chí cò mồi của đảng và nhà nước CSVN đều hí hởn “nâng lên tầm cao mới” của mối quan hệ mọi mặt giữa hai nước.

Ba năm liên tiếp, từ 2006 đến 2008, Phan Văn Khải, thủ tướng, Nguyễn Minh Triết, chủ tịch nước, rồi Nguyễn Tấn Dũng, thủ tướng, đều đến Mỹ không ngoài mục đích nài nỉ đầu tư, ngửa nón xin gia tăng viện trợ.

Bản tin báo Nhân Dân (cái loa tuyên truyền chính thức của ÐCSVN) viết ngày 23 Tháng Sáu 2006: “Thủ Tướng Phan Văn Khải cho biết, chuyến thăm này cho thấy quan hệ hai nước đã được chuyển sang một giai đoạn mới. Hoa Kỳ có thể thấy ở Việt Nam một thị trường lớn. Việt Nam sẵn sàng là bạn, là đối tác tin cậy của các nước trong cộng đồng quốc tế vì hòa bình, độc lập dân tộc và phát triển.

Thủ tướng đánh giá cao về việc Tổng Thống G. Bush ủng hộ mạnh mẽ việc Việt Nam gia nhập WTO và nhất trí tích cực đàm phán để sớm ký kết hiệp định song phương về vấn đề này. Hai nhà lãnh đạo cũng khẳng định đưa quan hệ song phương lên tầm cao mới thông qua việc phát triển mối quan hệ đối tác xây dựng, hữu nghị, hợp tác nhiều mặt trên cơ sở bình đẳng, cùng tôn trọng lẫn nhau và hai bên cùng có lợi.”

Khi T.T. Mỹ George W. Bush đến Hà Nội Tháng Mười Một 2006 dự hội nghị Diễn Ðàn Hợp Tác Kinh Tế Á Châu Thái Bình Dương (APEC) rồi thăm viếng Việt Nam luôn, hãng thông tấn chính thức CSVN đăng bản thông cáo chung giữa hai nước ngày 17 Tháng Mười Một 2009 tựa đề: “Mối quan hệ Việt-Mỹ nâng lên tầm cao mới” trong đoạn mở đầu viết: “Chủ tịch nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam Nguyễn Minh Triết hoan nghênh Tổng Thống Hoa Kỳ G.W. Bush đến thăm Việt Nam. Ðiểm lại việc thực hiện bản tuyên bố chung Tháng Sáu năm 2005 giữa Tổng Thống Bush và Thủ Tướng Phan Văn Khải, hai nhà lãnh đạo bày tỏ sự hài lòng về những tiến bộ đạt được trong quan hệ hai nước, nhờ đó tạo dựng được mối quan hệ nhiều mặt, hướng tới tương lai giữa Việt Nam và Hoa Kỳ như hiện nay. Mối quan hệ này bao gồm các quan hệ kinh tế-thương mại quan trọng và đang gia tăng, các bước khởi đầu về quan hệ giữa hai Bộ Quốc Phòng, sự hợp tác tốt đẹp về các vấn đề y tế, văn hóa, giáo dục và phát triển, sự cam kết giải quyết các vấn đề do chiến tranh để lại và lợi ích chung trong việc bảo đảm hòa bình, ổn định và thịnh vượng ở khu vực Châu Á-Thái Bình Dương. Hai bên cũng trao đổi thẳng thắn và chân thành các vấn đề còn khác biệt. Ngoài ra, hai bên khẳng định quyết tâm bảo đảm cho quan hệ song phương ổn định, xây dựng, có nền tảng rộng lớn và được tiến hành trên cơ sở bình đẳng về chủ quyền và cùng có lợi.”

Ngày 25 Tháng Bảy 2007, báo của Sở Công An Hà Nội (ANTÐ) viết bài: “Tầm cao của quan hệ đối tác Việt-Mỹ” với đoạn mở đầu: “Chủ Tịch Nguyễn Minh Triết đã kết thúc tốt đẹp chuyến thăm chính thức Mỹ. Thành công trên tất cả các phương diện của chuyến thăm chính thức Mỹ đầu tiên của người đứng đầu nhà nước Việt Nam thống nhất, độc lập và tự do đã góp phần nâng quan hệ Việt Nam-Mỹ lên một tầm cao mới.”

Ngày 23 Tháng Sáu 2008, nhiều báo lấy lại bản thông báo của Bộ Ngoại Giao CSVN rồi sửa gọt chút ít nói về chuyến thăm Mỹ của Nguyễn Tấn Dũng. Báo Tuổi Trẻ đưa tin “Thủ tướng chính phủ Nguyễn Tấn Dũng thăm chính thức Hoa Kỳ, nâng quan hệ Việt Nam-Hoa Kỳ lên tầm cao mới”.

Vậy tất cả những cái “tầm cao mới” chỉ có mục đích che đậy cho những cái đểu cáng, xỏ lá mà tới một lúc nào đó, không cần che đặt nữa thì cho nó phọt ra? Cộng Sản là vậy, nó chỉ lợi dụng rồi trở mặt như chớp? Chính phủ Obama nghĩ gì về cái “tầm cao mới” mà băng đảng Sáu Triết ban cho?

Tranh chấp giữa Việt Nam, ASEAN và Trung Quốc tại Biển Đông cần được quốc tế hóa vì không còn giới hạn trong khu vực

RFI, Trọng Nghĩa, 27/11/2009

Cuộc hội thảo quốc tế về Biển Đông tại Hà Nội kết thúc ngày 27/11/2009 với một nhận định chung : tranh chấp chủ quyền trong vùng biển này không còn giới hạn giữa Trung Quốc, Đài Loan và 4 nước ASEAN, mà càng lúc càng mang quy mô quốc tế. Trong tình hình đó, vấn đề đưa vấn đề này ra trước các diễn đàn quốc tế đang được đặt ra.

Tính chất quốc tế của tranh chấp Biển Đông đã được rất nhiều chuyên gia nêu bật tại cuộc Hội thảo Hà Nội, đặc biệt sau những hành động cứng rắn của Trung Quốc trong thời gian gần đây nhằm áp đặt chủ quyền đang bị tranh cãi của họ. Nhiều chuyên gia đã nêu bật một số diễn biến tại Biển Đông trong năm 2009 để nhấn mạnh đến tính chất quốc tế của hồ sơ này.

Trung Quốc đe dọa quốc tế qua việc áp đặt chủ quyền ở Biển Đông

Nổi cộm nhất việc Bắc Kinh công bố bản đồ chủ quyền hình chữ U của họ, được nhắc đến từ lâu, nhưng lần đầu tiên được trình ra Liên Hiệp Quốc vào tháng 5/2009. Căn cứ vào tấm bản đồ này, hầu như toàn bộ Biển Đông thuộc về chủ quyền của Trung Quốc. Vấn đề là không chỉ đòi hỏi chủ quyền trên giấy tờ, Trung Quốc ngày càng sử dụng đến những biện pháp có thể gọi là ”cưỡng chế” đối với các nước khác để buộc họ phải tôn trọng chủ quyền của Bắc Kinh trong khu vực.

Việt Nam là nạn nhân cụ thể của các hành động này, với việc ngư dân, tấu thuyền đánh cá bị bắt giữ, khi hoạt động trong những vùng bị Trung Quốc xem là của họ. Không những thế, nhiều đối tác ngoại quốc trong lãnh vực dầu khí của Việt Nam đã liên tục bị sức ép của Trung Quốc, buộc họ phải đình chỉ công việc làm ăn với Việt Nam tại những vùng biển mà Bắc Kinh tự nhận chủ quyền. Tranh chấp Việt Nam Trung Quốc như vậy đã mang thêm kích thước quốc tế do việc các đối tác này lại là các tập đoàn đa quốc gia Anh, Mỹ, như BP, Exxon… Vấn đề hù dọa nói trên đã khiến cho những nước như Hoa Kỳ chẳng hạn phải lên tiếng.

Tại Hà Nội, Gìáo sư Anh Geoffroy Till xác định rằng tranh chấp Biển Đông ngày càng trở nên phức tạp nhất là khi ngày càng dính líu đến các tác nhân phi nhà nước như các tập đoàn đa quốc gia, các ngư dân..

Một sự kiện khác còn nêu rõ hơn quy mô quốc tế của tranh chấp Biển Đông. Đó là việc Trung Quốc, căn cứ vào các đòi hỏi chủ quyền của họ, đã gây khó dễ cho việc tự do lưu thông trong khu vực. Biểu hiện cụ thể nhất là sự kiện Trung Quốc xách nhiễu tàu của Hải quân Hoa Kỳ với lý do là các quân hạm này xâm nhập ”trái phép” vào vùng biển thuộc chủ quyền Trung Quốc. Yêu sách của Bắc Kinh lẽ dĩ nhiên đã bị Washington bác bỏ.

Giới phân tích cho rằng, nếu Trung Quốc tiếp tục đơn phương hành xử quyền làm chủ trên khu vực Biển Đông mà họ tuyên bố chủ quyền, điều đó tức khắc gây cản trở cho quyền tự do lưu thông, đặc biệt tại những khu vực trước đây thuộc hải phận quốc tế.

Quốc tế hoá vấn đề Biển Đông để không bị Trung Quốc lấn lướt

Nhân cuộc hội thảo Hà Nội, Giáo sư Nhật Bản Kazunime Akimoto thẩm định rằng tất cả các quốc gia Đông Á đều liên quan đến Biển Đông. Nếu khu vực này bị một quốc gia nào đó độc chiếm (hàm ý nhắc đến Trung Quốc), tác hại không chỉ xẩy ra cho khu vực mà cả cho an ninh toàn thế giới.

Do tranh chấp Biển Đông đã trở thành một vấn đề quốc tế, công việc tìm giải pháp, theo nhiều nhà quan sát, nên được quốc tế hoá. Đây là một hướng mà Việt Nam hay các nước Đông Nam Á cần phải xúc tiến để tránh tình trạng bị nước lớn Trung Quốc lấn lướt như trong thời gian gần đây.

Quốc tế hoá không chỉ là đưa vấn đề ra các cuộc đàm phán đa phương, các định chế quốc tế, mà còn là đánh động dư luận thế giới  thông qua các Hội nghị hay diễn đàn thảo luận mà cuộc Hội thảo quốc tế trong hai ngày 26-27/11 ở Hà Nội là một thí dụ.

Đây cũng là ý kiến của ông Vũ Quang Việt, nguyên chuyên gia thống kê Liên Hiệp Quốc, từng theo dõi sát sao hồ sơ tranh chấp Biển Đông. Vừa tham gia một cuộc hội thảo do Đại Học Yale Hoa Kỳ tổ chức hôm 18/11 về ”Biển Đông trong bối cảnh Việt Nam”, ông Việt đã hoan nghênh sáng kiến của Việt Nam khi tổ chức sự kiện này.

Chuyên gia Vũ Quang Việt tại Hoa Kỳ

http://www.rfi.fr/actuvi/articles/119/article_5840.asp

27/11/2009

 ”Vấn đề tranh chấp này không chỉ là giữa Việt Nam và Trung Quốc hay với một vài nước khác như Philippines, Malaysia, mà đây là một tranh chấp mang tính quốc tế, do Trung Quốc gây ra để đòi hỏi quyền biến Biển Đông thành một khu vực của họ. Tranh chấp như vậy mang tính quốc tế, và ngày càng trở nên nguy hiểm hơn nếu ta không biến nó thành một vấn đề quốc tế.

Do đó, mới đây chúng tôi đã làm việc với các giáo sư và những người trong đại học Yale, và trong tương lai sẽ còn làm việc nhiều hơn để làm sao đẩy mạnh việc nghiên cứu cũng như trao đổi ý kiến, nhằm tạo áp lực trên thế giới, giúp quốc tế hiểu rõ vấn đề hơn, đồng thời tác động đến bản thân các chính trị gia nước Mỹ để họ có những hành động nhằm bảo vệ hoà bình cho khu vực Biển Đông 

Tôi biết có một cuộc họp về Biển Đông ở Việt Nam do chính Việt Nam tổ chức. Cuộc họp đã mời cả các chuyên gia của Trung Quốc thì đấy là một điểm tốt, vì nó là một cái quá trình biến cuộc tranh chấp này thành một cuộc tranh chấp đa phương.

Đây cũng là một bước tiến rất tốt vì Việt Nam cũng đã thay đổi thái độ. Từ xưa đến giờ Việt Nam cũng giống như Trung Quốc, luôn luôn coi vấn đề Biển Đông là vấn đề song phương, và kiếm cách giải quyết song phương với Trung Quốc hay với Mã Lai hay Phi Luật Tân.  Dĩ nhiên song phương cũng tốt, nhưng mà đưa song phương thành nguyên lý, là sai.

Vấn đề tranh chấp này, nếu giải quyết được song phương như vừa rồi giải quyết được với Mã Lai thì rất tốt. Trong tương lai, cũng phải giải quyết với Phi Luật Tân, vì nếu không giải quyết, thì ASEAN khó có thể đoàn kết với nhau để có một thế đứng chung đối phó với Trung Quốc. Thế nhưng song phương không có nghiã là bác bỏ đa phương.

Và như chúng tôi làm ở Đại học Yale, đồng thời được Đại học Yale ủng hộ, trong tương lai một số Đại học khác có thể tham dự, đó là để mở rộng thảo luận giữa các chuyên gia, xem vấn đề cần giải quyết thế nào để mang lại hoà bình. Hòa bình này thì dĩ nhiên phải có công lý, không thể nào chỉ dùng sức mạnh để ép người khác chấp nhận giải pháp của mình.

Đại sứ Mỹ ‘hài lòng’ về quan hệ quốc phòng giữa VN và HK

BBC, ngày 2 tháng 12, 2009

Đại sứ Michael Michalak
Đại sứ Michalak được nói là đã bày tỏ sự hài lòng về quan hệ an ninh, quốc phòng Việt – Mỹ

Báo Việt Nam nói Đại sứ Hoa Kỳ Michael Michalak và Bộ trưởng Quốc phòng Phùng Quang Thanh “bày tỏ sự hài lòng” với quan hệ đang phát triển giữa Việt Nam và Hoa Kỳtrong nhiều lĩnh vực, trong đó có an ninh và quốc phòng.

Thông Tấn Xã Việt Nam nói Đại sứ Michalak và tướng Thanh đã có cuộc gặp “không chính thức” ở trụ sở của Bộ Quốc phòng trong ngày 1/12.

Hãng tin này cũng nói: “Hai quan chức cao cấp cũng đồng ý đẩy nhanh hợp tác trong lĩnh vực tìm kiếm lính Mỹ mất tích, rà phá bom, trao đổi các đoàn làm việc và đào tạo tiếng Anh cho quân nhân Việt Nam.”

Trước đó Đại sứ quán Hoa Kỳ ở Hà Nội nói trong cùng ngày 1/12 đã diễn ra lễ trao trả cho phía Mỹ “hài cốt được cho là của quân nhân Mỹ thiệt mạng trong chiến tranh Việt Nam.”

Ông Michalak cũng tham gia sự kiện này.

Đại sứ quán Hoa Kỳ nói đây là đợt hồi hương hài cốt quân nhân Mỹ lần thứ 112 từ Việt Nam kể từ sau chiến tranh.

Họ nói từ năm 1973 tới nay, 649 người Mỹ mất tích đã được nhận dạng ở Việt Nam trong khi 266 người cũng đã được nhận dạng ở Lào, Campuchia và Trung Quốc.

Quan hệ phát triển

Một loạt các lĩnh vực hợp tác mà ông Thanh và Michalak được cho là bày tỏ sự hài lòng còn có chính trị, ngoại giao, kinh tế, văn hóa, giáo dục, khoa học và công nghệ.

Một báo cáo của Cơ quan Nghiên cứu Quốc hội (CRS) Hoa Kỳ ra hồi mùa hè nhận định Việt Nam muốn nâng cấp quan hệ với Washington do mong muốn vào thị trường Mỹ và cũng do lo ngại về ảnh hưởng ngày càng lớn của Trung Quốc ở Đông Nam Á.

Tướng Phùng Quang Thanh tặng quà cho Bộ trưởng Quốc Phòng Robert Gates tại một hội thảo ở Singapore. 

Trong năm 2008, Hoa Kỳ vẫn là thị trường xuất khẩu lớn nhất của Việt Nam và mang về cho Hà Nội hơn 12,6 tỷ đô la so với khoản nhập khẩu hơn 2,6 tỷ đô la từ Mỹ.

Trung Quốc hiện vẫn là bạn hàng lớn nhất của Việt Nam nhưng họ xuất khẩu sang Việt Nam là chính.

Báo cáo của CRS nhận định về khả năng phát triển quan hệ Việt – Mỹ: “Cuối cùng thì tốc độ và mức độ của việc cải thiện quan hệ song phương hầu như sẽ bị giới hạn bởi một số yếu tố trong đó có sự lo ngại của Hà Nội rằng họ sẽ làm phật lòng Bắc Kinh, sự giám sát tình hình nhân quyền ở Việt Nam từ phía Hoa Kỳ, sự ngần ngại của những người bảo thủ khi quan hệ với Mỹ và mối nghi ngại của giới bảo thủ Việt Nam rằng mục tiêu dài hạn của Hoa Kỳ là kết thúc sự độc quyền của Đảng Cộng sản Việt Nam về quyền lực thông qua chiến lược “diễn biến hòa bình”.

Cơ quan Nghiên cứu Quốc hội cũng nói nhiều người Việt Nam cho rằng quan hệ Việt – Mỹ sẽ chưa có thể coi là hoàn toàn bình thường cho tới khi Hoa Kỳ bồi thường thêm nữa cho những người được cho là nạn nhân của Chất Da Cam và/hoặc Hoa Kỳ bỏ quan điểm coi Việt Nam là nền “Kinh tế Phi Thị trường”.

Trợ giúp quân sự

Các con số thống kê của Hoa Kỳ cho thấy tổng trợ giúp nhân đạo của Hoa Kỳ ở Việt Nam ở mức 130 triệu đôla trong năm 2008 nếu tính cả 10 triệu đôla dành cho các chương trình trao đổi giáo dục.

Hiện Việt Nam đang là một trong những nước Đông Nam Á được Hoa Kỳ trợ giúp nhiều nhất.

Năm 2009 là năm đầu tiên Việt Nam có tên trong chương trình tài chính quân sự nước ngoài của Hoa Kỳ và khoản trợ giúp đầu tiên là 500.000 đôla Mỹ.

Quan hệ an ninh quốc phòng giữa Việt Nam và Hoa Kỳ được đánh giá là kém xa quan hệ kinh tế.

Những trao đổi và hợp tác quân sự mới chỉ chính thức bắt đầu hồi năm 2006.

Kể từ đó tới nay các tàu hải quân Mỹ thường xuyên cập cảng Việt Nam và các sĩ quan Việt Nam cũng tham gia nhiều vào các hội nghị và chương trình đào tạo do quân đội Hoa Kỳ dẫn đầu.

Quan hệ giữa quân đội hai nước được đánh giá là hiện mới tập trung vào quá trình hai bên gặp gỡ, trao đổi hơn là vào các kết quả cụ thể.

Thượng Viện Mỹ phê chuẩn thẩm phán gốc Việt

BBC, ngày 2 tháng 12, 2009

Jacqueline Nguyễn
Bà Jacqueline Nguyễn sang Hoa Kỳ khi 10 tuổi

Thượng Viện Mỹ đã nhất loạt phê chuẩn bà Jacqueline Nguyễn làm thẩm phán liên bang sau khi bà được Tổng thống Obama tiến cử.

Các Thượng Nghị sỹ đã bỏ phiếu với tỷ lệ 97-0 hôm 1/12 và với sự chuẩn thuận này, bà Nguyễn đã trở thành người Mỹ gốc Việt đầu tiên giữ chức thẩm phán liên bang.

Trước phiên bỏ phiếu của các Thượng Nghị sĩ, Ủy ban Tư pháp Thượng viện cũng đã thông qua người được ông Obama tiến cử với 100% số phiếu.

Bà Nguyễn sẽ cùng 24 thẩm phán khác phục vụ tại tòa án ở Quận Trung tâm của Los Angeles, khu được coi là “quận tư pháp liên bang lớn nhất tính theo dân số”.

Quận này phục vụ 17 triệu người tại các hạt ở trung và nam California bao gồm Los Angeles, Orange, San Bernardino, Riverside, Ventura, Santa Barbara và San Luis Obispo.

Tổng thống Barack Obama đã tiến cử bà Jacqueline Nguyễn hồi tháng Bẩy năm 2009 sau khi nhận được đề nghị của Thượng Nghị sỹ Dianne Feinstein.

Tại phiên bỏ phiếu của Thượng viện, bà Feinstein, Thượng Nghị sĩ đại diện cho California, được dẫn lời:

Thẩm phán Nguyễn sinh ra ở Nam Việt Nam. Bà tới đất nước này khi 10 tuổi trong những ngày cuối của cuộc chiến Việt Nam.

Thượng Nghị sỹ Dianne Feinstein

“Thẩm phán Nguyễn là thẩm phán từng trải với thành tích cả với tư cách là thẩm phán và là công tố viên liên bang.

“Thẩm phán Nguyễn sinh ra ở Nam Việt Nam. Bà tới đất nước này khi 10 tuổi trong những ngày cuối của cuộc chiến Việt Nam.

“Gia đình bà sống vài tháng trong trại tị nạn ở Camp Pendleton tại San Diego trước khi tới sống ở khu La Crescenta ở Los Angeles. Bà nhập tịch Hoa Kỳ năm 1984.

“Bố mẹ của Thẩm phán Nguyễn đã phải làm hai, ba việc một lúc ở Los Angeles và thẩm phán Nguyễn cùng các anh chị em cùng làm việc với bố mẹ – từ lau dọn phòng khám nha khoa tới gọt vỏ và cắt táo cho một công ty làm bánh và cuối cùng là quản lý cửa hàng bánh rán mà bố mẹ họ đã mua và sở hữu.”

Cùng trường Tổng thống

Tổng thống Barack Obama
Bà Nguyễn học trường Occidental College với ông Obama nhưng ông rời trường này khi bà vào học

Báo Daily Journal, tờ báo được coi là báo pháp luật lớn nhất ở California cũng có bài dài ba trang về bà Nguyễn.

Daily Journal nói bà được các đồng nghiệp coi là người có “sự kết hợp độc đáo của tính cách tuyệt vời và đầu óc sắc bén”.

Bà Nguyễn học bốn năm tại trường Occidental College, trường mà Tổng thống Hoa Kỳ Barack Obama từng học một năm.

Tại đây bà được học bổng bốn năm và biên tập tạp chí văn học của trường.

Những tác phẩm yêu thích của bà là “The Sound and the Fury” (“Âm thanh và Cuồng nộ”) của William Faulkner và “The Joy Luck Club” (“Phúc Lạc Hội”) của Amy Tan.

Sau Occidental College, bà theo học luật tại Đại học California ở Los Angeles.

Những người cùng làm việc với bà nói bà luôn tỏ ra “tĩnh tâm khi gặp sức ép” và luôn sẵn sàng lắng nghe cả hai phía của một tranh luận.

Người ta cũng nói khi xử án bà không ngại tìm hiểu thật kỹ vụ việc để đi tới quyết định hợp lý.

Là một người di dân, bà cũng hiểu được sự rắc rối của hệ thống pháp luật đối với dân nhập cư vào Mỹ và cố gắng giải thích để những người phải vào chốn công đường hiểu những gì họ sẽ trải qua.

Daily Journal nói bà Nguyễn biết gia đình bà đang di tản khi được máy bay chở đi khỏi Sài Gòn và bà sợ nhất là bị chia cách với bố mẹ và năm anh chị em.

Bố của bà là một sĩ quan trong quân lực Việt Nam Cộng Hòa.

Bà Nguyễn có chồng, ông Pio S. Kim là một trợ lý công tố viên trưởng, một con trai 10 tuổi và con gái 8 tuổi.

Bác sĩ Cao Diệu Khiết trốn khỏi Trung Quốc

Một nhà hoạt động phòng chống AIDS của Trung Quốc đã đến Mỹ và dự kiến có buổi họp báo nhân ngày Thế giới Phòng chống AIDS vào hôm nay.

Bác sĩ Cao Diệu Khiết nổi tiếng vì hoạt động về AIDS

Bác sĩ Cao Diệu Khiết, 82 tuổi, là một trong những chuyên gia hàng đầu của Trung Quốc về AIDS.

Người giúp bà trốn khỏi Trung Quốc, Mục sư Bob Fu – người sáng lập Hiệp hội Hỗ trợ Trung Quốc – nói bà Cao sẽ gặp các viên chức Mỹ để trình bày về lo ngại về AIDS ở Trung Quốc.

Bà sẽ giới thiệu ấn bản mới của cuốn sách của bà, “AIDS ở Trung Quốc: 10.000 lá thư”.

Ấn bản đầu tiên, in năm 2004, được nói là đã bị tịch thu vì tác giả chỉ trích thị trường bán máu mà theo bà, đã góp phần đưa tới sự bùng phát của bệnh.

Nói chuyện với BBC ban tiếng Hoa, bà Cao giải thích quyết định rời khỏi Trung Quốc:

“Tôi có ba cuốn sách lúc này. Vì tôi không thể bộc lộ câu chuyện thật về AIDS từ cuộc điều tra của tôi cho thế giới, tôi phải ra đi. Sau khi ông Tan Zuoren (một nhà phản kháng) bị bắt, tôi nghĩ những gì mình làm còn nghiêm trọng hơn ông ấy, dài hơn, được biết nhiều hơn. Giờ đây ông bị cáo buộc kích động lật đổ nhà nước, tôi phải rút ra bài học.”

Vì tôi không thể bộc lộ câu chuyện thật về AIDS từ cuộc điều tra của tôi cho thế giới, tôi phải ra đi.

Cao Diệu Khiết

Bà nói về sự khác biệt giữa Trung Quốc và các nước khác trong cách lây lan của AIDS:

“Cách bệnh AIDS lây lan ở Trung Quốc khác với các nước. Tại Trung Quốc, con đường chính là qua máu, chiếm 80-90%, và sự lây nhiễm truyền từ mẹ sang con. Trung Quốc cũng khác ở chỗ tỉ lệ lây truyền qua sex rất thấp, chưa đầy 20%.”

Theo các tổ chức nhân quyền, bà Cao đã bị chính phủ áp đặt nhiều hạn chế, gồm cả việc theo dõi và lên án bà qua truyền thông.

Bà lần đầu tiên quan tâm tới bệnh AIDS năm 1996, đi đến nhiều ngôi làng ở tỉnh Hà Nam, dùng tiền lương hưu để chữa trị cho hơn 1000 bệnh nhân.

Nhiều người viết thư cho bà, mô tả tình cảnh của họ và nhờ giúp đỡ. Khi số thư lên tới 10,001, bà quyết định in chúng thành sách.

Theo Hiệp hội Hỗ trợ Trung Quốc (China Aid Association), bà đã bị cô lập từ khi chồng qua đời năm 2006. Bà trốn được sang Mỹ nhờ sự giúp đỡ của tổ chức này và nhiều người bạn.

Mục sư Bob Fu nói với báo giới rằng trong ba tháng qua, bà Cao đã phải trốn tránh từ nơi này sang nơi khác.

Vì nhu cầu bí mật, ông Fu nói, ngay cả gia đình bác sĩ Cao cũng không biết là bà đã tới Mỹ.

Đại nạn Trung Hoa thời trung sử

Trần Gia Phụng

Ngô Quyền chiến thắng quân Nam Hán (Trung Hoa) tại Bạch Đằng Giang năm 938 (mậu tuất) và xưng vương năm 939 (kỷ hợi), đóng đô ở Cổ Loa (thuộc huyện Đông Anh, Hà Nội ngày nay).  Từ đây, nước Việt vĩnh viễn thoát ra khỏi cảnh đô hộ của Trung Hoa, nhưng các triều đình Trung Hoa vẫn tiếp tục nhiều lần đem quân sang xâm lấn nước Việt. Lần thứ nhất (981) 

Sau cuộc đảo chánh không đổ máu lật đổ nhà Đinh (968-980), Lê Hoàn lên làm vua năm 980 (canh thìn), tiếp tục đóng đô ở Hoa Lư (Ninh Bình ngày nay). Về sau, ông thường được sử sách gọi là Lê Đại Hành. 

Biết tình hình Đại Cồ Việt (quốc hiệu từ thời vua Đinh Tiên Hoàng) đang xáo trộn vì chuyện đổi ngôi, vua Trung Hoa là Tống Thái Tông (trị vì 976-997) sai sứ đem thư qua khuyến dụ và đe dọa.  Lê Hoàn (trị vì 980-1005) lấy danh nghĩa con của vua Đinh Tiên Hoàng là Vệ Vương Đinh Toàn, xin nhà Tống (Sung, 960-1279) cho nối ngôi vua cha.  Tuy nhiên triều đình nhà Tống nắm rõ tình thế nước Nam, biết Lê Hoàn đã giành ngôi của Đinh Toàn, con của Đinh Tiên Hoàng, nên sai người đem một thư khác qua nói rằng “…Họ Đinh truyền nối được ba đời [ý chỉ Đinh Bộ Lĩnh, Đinh Liễn, Đinh Toàn], trẫm muốn cho Đinh Toàn làm thống súy, khanh [chỉ Lê Hoàn] thì làm phó.  Nếu Đinh Toàn không đáng tướng tài, hãy còn tính khí trẻ con thì nên cho ngay mẹ con và thân thuộc y sang đây…” 

Lê Hoàn biết không thể tiếp tục thương lượng, nên chỉ còn con đường duy nhất là chuẩn bị lực lượng để kháng Tống. Trong khi đó, quân Tống chia làm hai đường thủy bộ tiến vào nước ta năm 981 (tân tỵ).  Đường bộ do Hầu Nhân Bảo cùng Tôn Toàn Hưng tiến theo ngả Lạng Sơn, còn đường thủy do Trần Khâm Tộ và Lưu Trừng từ mặt biển tiến vào bằng đường sông Bạch Đằng. 

Trên đường bộ, Hầu Nhân Bảo tiến đến Chi Lăng (Lạng Sơn), trúng phải kế trá hàng, lọt vào vùng phục kích của quân Việt, và bị bắt giết. Quân Việt phản công mạnh mẽ, quân Tống thiệt hại nặng, hai bộ tướng của Hầu Nhân Bảo là Quách Quân Biện và Triệu Phụng Huân bị bắt.  Sau trận Chi Lăng, các lực lượng thủy bộ của nhà Tống đều rút lui. 

Tuy chiến thắng, Lê Hoàn vẫn phải sai sứ, dưới danh nghĩa của vua Đinh Toàn, sang nhà Tống năm 982 (nhâm ngọ) xin trả lại hai tướng đã bắt được, và xin triều cống.  Nhà Tống chỉ phong cho Lê Hoàn làm tiết độ sứ.  Mãi đấn hơn 10 năm sau vào năm 993 (quý tỵ), Lê Hoàn mới sai sứ giả trình bày với vua Tống rằng Đinh Toàn quyết định nhường ngôi cho mình.  Tống Thái Tông  (trị vì 976-997) biết việc Lê Hoàn nắm quyền đã lâu, nhưng không có cách gì khác hơn, nên sai sứ sang phong Lê Hoàn làm Tĩnh Hải Quân tiết độ sứ Giao Chỉ Quận Vương. 

Lần thứ hai (1076-1077)

Trong thời gian nầy nhà Tống tiếp tục cai trị Trung Hoa. Vua Tống Thần Công (trị vì 1068-1085) phong cho Vương An Thạch (Wang An Shi) làm tể tướng năm 1069.  Vương An Thạch (1021-1086) muốn mưu tìm một chiến công ở ngoài biên cương để hỗ trợ chính sách cải cách ở trong nước của ông ta, chuẩn bị tấn công Đại Việt.

Tại Đại Việt, nhà Lý (1010-1225) đã khá vững vàng. Triều đình vua Lý Nhân Tông (trị vì 1072-1127) biết được tin nầy, liền quyết định ra tay trước. Tháng 11 năm ất mão (1075), triều đình cử  Lý Thường Kiệt đánh Khâm Châu và Liêm Châu (thuộc Quảng Đông ngày nay); và cử Tôn Đản đánh Ung Châu (tức Nam Ninh thuộc Quảng Tây ngày nay) tháng giêng năm bính thìn (1076).  Sau khi hạ thành, cả hai ông cho bắt người, lấy của rồi rút lui về Đại Việt.

Tháng chạp năm bính thìn (đầu năm 1077), Tống Thần Tông sai Quách Quỳ làm Chiêu thảo sứ và Triệu Tiết làm Phó chiêu thảo sứ, đem quân sang trả thù. Lý Thường Kiệt chận quân Tống ở sông Như Nguyệt (sông Cầu chảy qua xã Như Nguyệt, Bắc Ninh).

Quách Quỳ chuyển quân đến sông Phú Lương (khúc sông Hồng ở Thăng Long). Lý Thường Kiệt tiếp đánh, nhưng thế giặc rất mạnh.  Máy bắn đá của địch phá chiến thuyền Việt, và làm cho nhiều binh sĩ nước ta tử trận.  Sợ binh sĩ nãn lòng, Lý Thường Kiệt phao tin có thần nhân báo mộng và cho bốn câu thơ (bằng chữ Nho):

“Nam quốc sơn hà nam đế cư
 Tiệt nhiên định phận tại thiên thư 
Như hà nghịch lỗ lai xâm phạm 
Nhữ đẳng hành khan thủ bại hư “
Có người dịch là:
“Sông núi nước Nam vua Nam ở
Rành rành định phận ở sách trời
Cớ sao lũ giặc sang xâm phạm 
Chúng bay sẽ bị đánh tơi bời.”

Quân lính nghe được những câu thơ nầy, đều hăng hái đánh giặc. Lực lượng nhà Tống bị chận đứng.  Hai bên cầm cự với nhau bất phân thắng bại.  Triều đình nhà Lý đề nghị bãi binh.  Nhà Tống thấy khó thắng, đồng thời binh sĩ ở lại lâu, không hạp thủy thổ, đành chấp thuận.  Như thế, cuộc xâm lăng của nhà Tống đầu năm 1077 bắt nguồn từ việc Lý Thường Kiệt cầm quân gây hấn nhà Tống một năm trước đó. 

Lần thứ ba (1258)

Phía tây bắc Trung Hoa, tại Mông Cổ, đại hãn Mông Kha (Mangu, trị vì 1251-1259) cử em là Hốt Tất Liệt (Qubilai) cầm quân tấn công Trung Hoa năm 1251. Hốt Tất Liệt sai đại tướng Ngột Lương Hợp Thai (Uriyangqadai), cầm một cánh quân đánh chiếm nước Đại Lý ở Vân Nam năm 1257.  Ngột Lương Hợp Thai sai sứ sang yêu cầu Đại Việt thần phục Mông Cổ, nhưng vua Đại Việt lúc đó là Trần Thái Tông (trị vì 1226-1258) không chịu. 

Ngột Lương Hợp Thai liền theo đường sông Thao, tiến quân đánh nước Việt tháng 12 năm đinh tỵ (qua năm 1258).  [Sông Thao là tên gọi đoạn sông Hồng từ biên giới Hoa Việt đến ngã ba sông Hồng và sông Đà.]  Không chịu nổi sức tấn công vũ bão của quân Mông Cổ, Trần Thái Tông bỏ kinh đô Thăng Long rút về Hưng Yên, cách Thăng Long khoảng 60 km về phía nam.  Quân Mông Cổ chiếm Thăng Long, cướp phá giết hại người Việt không kể già trẻ lớn nhỏ.

Trước thế nguy, Trần Thái Tông hỏi ý kiến của Trần Thủ Độ nên hòa hay chiến.  Ông cương quyết trả lời: “Đầu thần chưa rơi, xin bệ hạ đừng lo.”  Chẳng bao lâu, quân Mông Cổ không quen thời tiết nước ta, bị bệnh tật mỏi mệt.  Trần Thái Tông ra lệnh phản công, đánh đuổi quân Mông Cổ về lại Trung Hoa.

Lần thứ tư (1285)

Năm 1259, Mông Kha từ trần.  Hốt Tất Liệt được hội đồng quý tộc Mông Cổ bầu lên làm đại hãn năm 1260.  Hốt Tất Liệt tức Nguyên Thế Tổ (trị vì 1260-1294), đổi quốc hiệu là Nguyên (Yuan), đem quân xâm chiếm hoàn toàn nước Trung Hoa vào năm 1279.(1)

Trong khi đó, tại nước ta, Trần Thái Tông nhường ngôi cho con là Trần Hoảng, lên làm thái thượng hoàng năm 1258 (mậu ngọ).  Trần Hoảng lên ngôi tức Trần Thánh Tông (trị vì 1258-1278).  Thượng hoàng Thái Tông từ trần năm 1277 (đinh sửu).  Thánh Tông lên làm thái thượng hoàng, và nhường ngôi cho thái tử Trần Khâm năm 1278 (mậu dần) tức Trần Nhân Tông (trị vì 1278-1293).

Nguyên Thế Tổ sai sứ là Sài Thung (Chai Chong) sang Đại Việt cuối năm 1278, hỏi vua Trần Nhân Tông tại sao không xin phép nhà Nguyên mà tự tiện lên ngôi?  Sài Thung còn buộc nhà vua phải sang chầu hoàng đế nhà Nguyên mới được yên việc.  Trần Nhân Tông tiếp sứ tử tế, nhưng cương quyết không chịu sang chầu nhà Nguyên.

Năm 1282 (nhâm ngọ), nhà Nguyên cử sứ sang nói rằng nếu vua nhà Trần không sang Trung Hoa, thì cho người đại diện sang chầu.  Trần Nhân Tông cử chú họ là Trần Di Ái cầm đầu phái đoàn sang triều đình nhà Nguyên.  Nguyên Thế Tổ lập tòa tuyên phủ ty, đặt quan để sang giám trị các châu huyện nước ta.  Nhân Tông không nhận, trả họ về Trung Hoa.  Nguyên Thế Tổ liền phong Trần Di Ái làm An Nam quốc vương, và sai Sài Thung đem 1,000 quân, hộ tống Trần Di Ái về nước.  Sài Thung đi vào bằng đường Lạng Sơn.  Quân nhà Trần chận đánh;  Sài Thung bị bắn mù một mắt, phải quay về nước, còn Trần Di Ái bị bắt.

Lúc đó, Nguyên Thế Tổ muốn bành trướng xuống Đông Nam Á, nhân cơ hội nầy, phong cho con là Thoát Hoan (Toyan) làm Trấn Nam Vương, lấy cớ mượn đường xuống Chiêm Thành, đem quân tấn công nước Việt tháng 12 năm giáp thân (qua năm 1285). Lần nầy quân Nguyên tấn công bằng hai đường: Thoát Hoan từ phía bắc đánh xuống, Toa Đô (Sogatu) đã qua đánh Chiêm Thành bằng đường biển từ năm 1282, nay quay ngược trở lên đánh Đại Việt.

Thoát Hoan dẫn quân qua ải Chi Lăng (Lạng Sơn), nhắm Thăng Long trực chỉ.  Tướng Trần Quốc Tuấn (Hưng Đạo Vương) lui về Vạn Kiếp (Hải Dương, nơi sông Lục Nam và sông Thương gặp nhau).  Trần Nhân Tông cho người mời Trần Quốc Tuấn đến bảo: “Thế giặc mạnh như vậy, ta hãy chịu hàng để cứu muôn dân.”  Trần Quốc Tuấn trả lời: “Nếu bệ hạ muốn hàng, xin hãy chém đầu thần trước hãy hàng.”

Quân Mông Cổ đánh hạ Vạn Kiếp, tiến chiếm Thăng Long.  Trần Quốc Tuấn rước vua về phía nam, xuống Thanh Hoa (sau nầy là Thanh Hóa).  Toa Đô từ Chiêm Thành đem quân tiến lên, bị Chiêu Văn Vương Trần Nhật Duật (em vua Thánh Tông) chận đánh ở cửa Hàm Tử (Đông An, Hưng Yên).  Trần Quốc Tuấn liền đề nghị nhân đà thắng lợi nầy, tung quân khôi phục kinh thành.  Trần Nhân Tông sai thượng tướng Trần Quang Khải (em vua Thánh Tông, anh của Nhật Duật) cùng với Trần Quốc Toản, Phạm Ngũ Lão, đem quân từ Thanh Hoa đi vòng theo đường biển, ngược sông Hồng tiến đánh quân Mông Cổ tại bến Chương Dương (khu vực Thăng Long), rồi lên bộ bao vây thành Thăng Long.  Thoát Hoan thua chạy lên Kinh Bắc.  Trong khi đó, Trần Quốc Tuấn đánh Toa Đô tại Tây Kết (vùng Hưng Yên ngày nay).  Toa Đô bị giết, Ô Mã Nhi (Omar) bỏ trốn.  Trần Quốc Tuấn tiếp tục phản công, sai hai tướng Nguyễn Khoái và Phạm Ngũ Lão phục binh đánh tan quân Thoát Hoan ở Vạn Kiếp, trước khi Thoát Hoan trốn về nước.

Lần thứ năm (1288)

Tức giận về sự thất bại vừa qua, Nguyên Thế Tổ cử Thoát Hoan một lần nữa cầm quân qua đánh phục thù vào tháng 11 năm đinh hợi (1287).  Quân nhà Nguyên tiến vào nước ta bằng ba hướng: ở giữa, Thoát Hoan tiến xuống Lạng Sơn; phía tây, một cánh quân từ Vân Nam theo đường sông Hồng tràn vào, do Ái Lỗ (Aruc) chỉ huy; và phía đông do Ô Mã Nhi đi trước, vượt biển Đông tiến vào sông Bạch Đằng.  Theo sau có Trương Văn Hổ tải 17 vạn thạch lương cung cấp cho quân sĩ.

Lực lượng nhà Trần vẫn do Trần Quốc Tuấn tổng chỉ huy.  Thoát Hoan chiếm Vạn Kiếp, sai Ô Mã Nhi theo sông Lục Đầu đánh xuống Thăng Long. Thượng hoàng cùng vua Trần Nhân Tông phải vào Thanh Hoa lánh nạn.  Quân Mông Cổ đốt phá Thăng Long rồi rút lui về Vạn Kiếp.

Ô Mã Nhi đem chiến thuyền trở ra biển đón thuyền lương của Trương Văn Hổ.  Ngang qua Vân Đồn (Quảng Yên, nay là Vân Hải, Quảng Ninh), Trần Khánh Dư chận đánh, nhưng quân Việt bị thua.  Gặp được thuyền lương, Ô Mã Nhi cùng Trương Văn Hổ quay trở vào đất liền. Rút kinh nghiệm vừa qua, Trần Khánh Dư để cho Ô Mã Nhi mở đường đi trước, đợi đến khi Trương Văn Hổ tải lương theo sau, Trần Khánh Dư mới đổ phục binh, cướp hết lương thực và khí giới. Trương Văn Hổ bỏ trốn về Trung Hoa.

Quân Nguyên càng ngày càng cạn lương thực. Thoát Hoan kiếm cách cầu viện triều đình nhà Nguyên, nhưng Trần Quốc Tuấn đã cho chận các đường giao thông ở Lạng Sơn.  Thoát Hoan liền quyết định rút quân.  Tháng 3 năm mậu tý (1288) Thoát Hoan sai Ô Mã Nhi xuôi sông Bạch Đằng, ra biển về trước. Trần Quốc Tuấn theo kế Ngô Quyền trước kia, sai Nguyễn Khoái dùng cọc gỗ đẽo nhọn rồi bịt sắt và cắm giữa dòng sông.  Nguyễn Khoái lừa Ô Mã Nhi đến chỗ phục binh có đóng cọc, đổ quân tấn công khi thủy triều xuống.  Trần Quốc Tuấn lại tăng viện, đánh tan chiến thuyền Mông Cổ, và bắt sống Ô Mã Nhi.

Được tin nầy, Thoát Hoan liền theo đường bộ rút quân về Trung Hoa.  Dọc đường quân Mông Cổ bị chận đánh một vài nơi, nhưng cuối cùng Thoát Hoan cũng thoát được.  Trần Quốc Tuấn hội các tướng, dẫn quân rước vua Trần Nhân Tông và thượng hoàng Thánh Tông trở về Thăng Long.

Lần thứ sáu (1407)

Năm 1400 (canh thìn), đại thần Lê Quý Ly tức Hồ Quý Ly lật đổ vua Trần Thiếu Đế (trị vì 1398-1400), chấm dứt nhà Trần. Nhà Trần bắt đầu từ vua Thái Tông (trị vì 1225-1258) đến vua Thiếu Đế, truyền được mười hai đời, trong 175 năm. 

Lê Quý Ly lên làm vua, đặt niên hiệu là Thánh Nguyên, đổi quốc hiệu từ Đại Việt thành Đại Ngu, lấy lại họ Hồ là họ của tổ tiên ông, tức Hồ Quý Ly.  Làm vua được một năm, Hồ Quý Ly lên làm thái thượng hoàng, nhường ngôi lại cho con là Hồ Hán Thương (trị vì 1401-1407). 

Trong khi đó, bên Trung Hoa, Minh Thái Tổ (trị vì 1368-1398) qua đời năm 1398, cháu nội lên kế vị là Minh Huệ Đế (trị vì 1399-1403).  Huệ Đế làm vua chẳng được bao lâu thì bị người chú, con của Minh Thái Tổ, lật đổ và thay thế, tức Minh Thành Tổ (trị vì 1403-1424).  Minh Thành Tổ là một người đầy tham vọng, còn tham vọng hơn cả Minh Thái Tổ.

Bang giao Việt Hoa càng ngày càng căng thẳng vì nhà Minh đòi hỏi nhiều điều quá đáng.  Năm 1404 (giáp thân), một hoàng thân nhà Trần là Trần Khang, dùng đường bộ trốn sang kinh đô Trung Hoa, đổi tên là Trần Thiêm Bình, tự xưng là con của Trần Nghệ Tông, tố cáo Hồ Quý Ly cướp ngôi nhà Trần và tố cáo những lời trần tình của Hồ Hán Thương là dối trá.

Minh Thành Tổ sai Lý Kỳ sang nước Việt thăm dò.  Lý Kỳ sang nắm tình hình, rồi về nước phúc trình cuộc đảo chánh của nhà Hồ.  Hồ Hán Thương gởi biểu qua nhà Minh tạ tội, và xin đón Thiêm Bình về làm vua.  Năm 1406 (bính tuất) Minh Thành Tổ sai tướng Hàn Quan, đem năm ngàn quân hộ tống Trần Thiêm Bình về nước.  Trần Thiêm Bình vừa về đến biên giới, liền bị Hồ Hán Thương ra lệnh bắt giết.  Hồ Hán Thương cử Trần Cung Túc cầm đầu phái bộ sang Trung Hoa biện bạch về sự giả trá của Trần Thiêm Bình.  Phái bộ bị nhà Minh giữ lại không cho về.

Tháng 9 năm đó (bính tuất), Minh Thành Tổ cử Chu Năng làm đại tướng, cùng hai phó tướng là Trương Phụ và Mộc Thạnh đem quân sang xâm lăng nước ta.  Trước khi qua biên giới, Chu Năng bị bệnh từ trần,  Trương  Phụ được cử lên  thay.  Quân Minh tiến xuống thành Đa Bang (Sơn Tây), một đồn lũy được Hồ Hán Thương cho xây năm 1405 (ất dậu), làm tiền đồn bảo vệ Thăng Long.  Trương Phụ và Mộc Thạnh chia nhau hai mặt tấn công Đa Bang.  Khi quân Việt dùng voi phản công, quân Minh dùng hỏa pháo bắn lại.  Voi sợ lửa bỏ chạy.  Thành Đa Bang thất thủ, đưa đến việc thất thủ Thăng Long.

Hồ Nguyên Trừng, con trai đầu của Hồ Quý Ly, anh của Hồ Hán Thương, đem quân chận người Minh ở sông Mộc Phàm (Mộc Hoàn, Hà Nam ngày nay), nhưng bị thua phải lui về cửa biển Muộn Hải, Nam Định.  Hồ Quý Ly và Hồ Hán Thương cùng các quan bỏ chạy vào Thanh Hóa.  Quân Minh đuổi theo.  Hai bên gặp nhau ở Lỗi Giang, một phân lưu của sông Mã (Thanh Hóa).  Quân nhà Hồ thua nữa.  Hồ Quý Ly cùng hai con chạy vào Nghệ An.  Tháng 5 năm đinh hợi (1407), quân Minh bắt được Hồ Quý Ly ở cửa biển Kỳ La (huyện Kỳ Anh, Hà Tĩnh), và bắt Hồ Hán Thương ở núi Cao Vọng (huyện Kỳ Anh, Hà Tĩnh), cùng toàn bộ gia đình họ Hồ.  Quân Minh không giết cha con Hồ Quý Ly mà chỉ giải về Trung Hoa.  

Cần chú ý là khi xâm lăng nước Việt lần nầy, Minh Thành Tổ đã đưa ra cho các tướng viễn chinh ba chỉ dụ đề ngày 21-8-1406, 16-6-1407 và 24-6-1407 căn dặn và nhắc nhở các tướng Minh  thi hành chính sách đồng hóa của nhà Minh và tiêu diệt toàn bộ văn hóa nước Việt.   Chẳng những quân Minh vơ vét của cải, vàng ngọc, mà còn tịch thu gần như toàn bộ sách vở văn chương, học thuật, tư tưởng và cả giới trí thức cũng như nghệ nhân người Việt đem về Trung Hoa.  Đây là chính sách đồng hóa của nhà Minh trên toàn cõi đế quốc của họ.(Sẽ viết trong bài tiếp.)

Lần thứ bẩy (1788)

Nguyên vào năm 1786 (bính ngọ), Nguyễn Huệ dẫn quân Tây Sơn ra bắc lần thứ nhất, đánh tan quân Trịnh, tỏ ý phù Lê.  Trong khi quân Tây Sơn còn ở Bắc hà, vua Lê Hiển Tông (trị vì 1740-1786) từ trần, cháu đích tôn lên thay là Lê Chiêu Thống (trị vì 1787-1788).  Khi quân Tây Sơn rút về, họ Trịnh nổi lên trở lại.  Lê Chiêu Thống viết thư nhờ Nguyễn Hữu Chỉnh, một cựu tướng nhà Lê, nay đã đầu quân theo Tây Sơn, đang đóng ở Nghệ An, ra Thăng Long, giúp diệt trừ họ Trịnh.

Chụp lấy thời cơ, Nguyễn Hữu Chỉnh đánh đuổi nhanh chóng quân chúa Trịnh, và trở nên chuyên quyền không khác gì họ Trịnh.  Được tin nầy, Bắc Bình Vương Nguyễn Huệ sai tướng Võ Văn Nhậm cùng với Ngô Văn Sở, Phan Văn Lân ra đánh Nguyễn Hữu Chỉnh vào cuối năm 1787 (đinh mùi).  Hữu Chỉnh bị bắt giết, vua Lê Chiêu Thống bỏ trốn.  Võ Văn Nhậm đặt Sùng Nhượng Công Lê Duy Cận, chú của Chiêu Thống và là anh của bà Ngọc Hân (vợ Nguyễn Huệ), lên làm giám quốc, đứng đầu triều đình nhà Lê.

Vua Chiêu Thống trốn lẩn quẩn ở vùng Lạng Giang.  Mẹ của vua Chiêu Thống (hoàng thái hậu) bồng con của nhà vua chạy sang Long Châu (Trung Hoa) cầu cứu nhà Thanh (1644-1911).  Tổng đốc Lưỡng Quảng là Tôn Sĩ Nghị trình lên vua Thanh Cao Tông tức Càn Long (Ch’ien-lung / Qianlong, trị vì 1736-1795) rằng đây là cơ hội thuận tiện, mượn cớ giúp Lê Chiêu Thống để xâm chiếm “An Nam”.  Vua Càn Long, liền ra lệnh cho Sĩ Nghị động binh bốn tỉnh Quảng Đông, Quảng Tây, Quý Châu và Vân Nam tiến đánh Đại Việt tháng 10 năm mậu thân (1788).  Tôn Sĩ Nghị chia quân làm ba đạo, vào nước ta bằng các đường Tuyên Quang, Cao Bằng và Lạng Sơn.
Trước sức tiến quân ồ ạt của Tôn Sĩ Nghị, Ngô Văn Sở theo kế hoạch của Ngô Thời Nhậm, một mặt cho người đưa thư đến Tôn Sĩ Nghị xin hoãn binh, vừa để kéo dài thời gian, vừa để nhử địch, một mặt khác bỏ ngỏ Thăng Long, rút quân về Tam Điệp ở Ninh Bình, bảo toàn lực lượng, chờ viện binh của Bắc Bình Vương Nguyễn Huệ.

Tôn Sĩ Nghị tiến quân đến Kinh Bắc (Bắc Ninh).  Vua Chiêu Thống ra đón tiếp và cùng Tôn Sĩ Nghị vào Thăng Long ngày 20-11-mậu thân (17-12-1788).  Hai ngày sau, 22-11 (19-12), Tôn Sĩ Nghị làm lễ tấn phong cho Lê Chiêu Thống làm An Nam quốc vương.

Được tin nầy, Nguyễn Huệ lên ngôi hoàng đế tại Phú Xuân ngày 25-11-mậu thân (22-12-1788), lấy hiệu là Quang Trung (trị vì 1788-1792), rồi tự mình đem quân tiến ra Bắc, nhanh chóng đánh đuổi tan tác quân viễn chinh nhà Thanh, tạo nên chiến thắng Đống Đa lịch sử (mồng 5 tháng giêng năm kỷ dậu, 1789), giải phóng Thăng Long và giữ vững bờ cõi nước ta.

Kết luận

Như thế, từ năm 939 (Ngô Quyền xưng vương) cho đến năm 1788 (Quang Trung xưng vương), trong vòng 850 năm, các triều đình Trung Hoa đã gởi quân xâm lăng nước Việt chúng ta tất cả bảy lần.  Chúng ta có thể rút ra một số kinh nghiệm như sau:

1)  Khi nào nước Việt có sự thay đổi triều đại, hay tranh chấp quyền lực nội bộ, hay nước Việt suy yếu, các vua Trung Hoa liền lợi dụng thời cơ để xâm lăng, nhất là khi con cháu của các triều đại bị truất phế chạy qua Trung Hoa cầu cứu.

2) Dù lúc tấn công nước Việt, lực lượng Trung Hoa rất mạnh, như dưới thời nhà Nguyên (Mông Cổ), nhà Minh, hay nhà Thanh, dù người Việt lúc đầu thất bại và phải rút lui, nhưng tổ tiên chúng ta luôn luôn cương quyết đánh đuổi xâm lăng Trung Hoa, dù phải kháng chiến gian khổ để bảo vệ nền độc lập dân tộc, bảo vệ tổ quốc.

3)  Trong sáu lần Trung Hoa tấn công nước ta, lần đầu tiên do triều đình Trung Hoa muốn trả đũa việc Lý Thường Kiệt đem quân tấn công Trung Hoa trước.  Từ kinh nghiệm nầy, sau đời nhà Lý, các triều đại từ nhà Trần trở đi, tuy cương quyết duy trì chủ quyền quốc gia và độc lập dân tộc, nhưng không khiêu khích, để tránh bị bắc phương trả đũa.  Chỉ khi nào bắc phương xâm lăng, thì Đại Việt chống trả.  Đặc biệt là sau khi đánh đuổi quân Trung Hoa về nước, Đại Việt vẫn gởi sứ thần sang Trung Hoa ngoại giao, mà ngày xưa gọi là triều cống, để tránh tái diễn chiến tranh. 

4)  Những kinh nghiệm chống quân xâm lược Trung Quốc đã được Hưng Đạo Đại Vương Trần Quốc Tuấn, trước khi từ trần năm 1300, tóm lược với vua Trần Anh Tông: “Đại khái quân giặc cậy vào trường trận, quân ta cậy vào đoản binh, đem đoản binh đánh lại trường trận, là việc thường trong binh pháp.  Nhưng cần phải xét: nếu thấy quân giặc tràn sang như gió, như lửa, thì thế giặc có thể dễ chống cự được; nếu giặc dùng cách chiếm cứ dần, như tằm ăn dâu, không vơ vét của dân, không mong đánh được ngay, thì mình phải dùng tướng giỏi, phải xem xét tình thế biến chuyển như người đánh cờ, tùy theo thời cơ mà chế biến cho đúng, làm thế nào thu hút được binh lính như cha với con một nhà, mới có thể dùng để chiến thắng được.  Vả lại bớt dùng sức dân để làm cái kế thâm căn cố đế, đó là thượng sách giữ nước không còn gì hơn.” (2) 

Theo Trần Hưng Đạo, Trung Hoa xâm lăng nước ta bằng hai cách:  Thứ nhất, quân Trung Hoa “tràn sang như gió, như lửa”.  Thứ hai, quân Trung Hoa “chiếm cứ dần, như tằm ăn dâu, không vơ vét của dân, không mong đánh được ngay”. 

Trong hai cách nầy, cũng theo Trần Hưng Đạo, cách thứ nhất, tức quân Trung Hoa sang đánh nước ta như vũ bão, thì “có thể dễ chống cự được”.  Ngược lại, nếu Trung Hoa tiến quân từ từ vào nước ta, theo kiểu tằm ăn dâu, chúng ta sẽ khó chống đỡ hơn.  Trong trường hợp đó, theo Trần Hưng Đạo, muốn chiến thắng địch thủ thì chúng ta phải tạo nội lực quốc gia bằng cách xây dựng tình đoàn kết dân tộc (như cha với con một nhà), và nuôi dưỡng sức dân  (bớt dùng sức dân) để làm kế lâu dài mà giữ nước.  Tuy nhiên, muốn tạo sự đoàn kết toàn dân và muốn nuôi dưỡng sức dân, thì người dân phải được hưởng tự do, được công bình trước pháp luật, mới cảm thấy có trách nhiệm bảo vệ đất nước, hăng hái bảo vệ độc lập dân tộc.

Vào giữa thế kỷ 20, Hồ Chí Minh qua Trung Hoa cầu cứu Mao Trạch Đông, để đánh thực dân Pháp.  Thực dân Pháp là dân da trắng, tuy khai thác và bóc lột nhưng không ở lại sinh sống tại Việt Nam.  Nhờ Trung Cộng đánh Pháp không khác gì nhờ kẻ cướp đuổi kẻ trộm.  Kẻ trộm bỏ chạy thì tên ăn cướp vào chiếm nhà.  Năm 1939, khi còn ở Trung Hoa, Hồ Chí Minh đã từng đọc tài liệu của đảng CSTH, theo đó Mao Trạch Đông viết rằng Việt Nam là một nước phụ thuộc Trung Hoa.(3)  Mời Trung Cộng qua Việt Nam, chính là Hồ Chí Minh đã rước voi giày mả tổ.

Tập đoàn lãnh đạo cộng sản Trung Hoa (CSTH) chủ trương bành trướng, còn hơn cả các triều đình quân chủ Trung Hoa ngày xưa: thôn tính Tây Tạng, xâm lăng Tân Cương, đánh chiếm hải đảo… Năm 1979, CSTH mở cuộc tấn công đại quy mô, dạy cho CSVN một bài học, nhưng gặp phản ứng không thuận lợi.  Rút kinh nghiệm từ đó, hiện nay CSTH quay qua thực hiện kế hoạch “tằm ăn dâu”.  Dần dần CSTH chiếm đất phía bắc Việt Nam (ải Nam Quan), chiếm biển phía đông Việt Nam (Vịnh Bắc Việt), lấn núi phía tây Việt Nam (Trường Sơn), nghĩa là bao vây Việt Nam ba mặt bắc và đông, tây.  Cộng sản Trung Hoa thực hiện được kế hoạch tằm ăn dâu phần lớn là do sự nội ứng tiếp tay của CSVN.  Chuyện biên giới, chuyện biển cả, chuyện Trường Sơn, có thể thương thuyết cả ngàn năm mây bay cũng chưa xong, chuyện gì CSVN vội vã ký hiệp ước nhượng đất, nhượng biển, rồi nhượng luôn cả quyền khai thác Trường Sơn cho CSTH? 

Tình trạng nầy thật nguy hiểm cho tương lai Việt Nam.  Hy vọng những kinh nghiệm lịch sử của người xưa, nhất là những lời Đức Trần Hưng Đạo đã dặn dò vua Trần Anh Tông năm 1300, có thể còn hữu ích cho người Việt, nhằm tìm cách phòng bị và chống lại mối đe dọa thường trực từ Bắc phương.


Bài do tác giả gửi đăng

Chú thích

1.    Khi Hốt Tất Liệt xâm lăng Trung Hoa, đặt Trung Hoa dưới ách thống trị của Mông Cổ năm 1279 nghĩa là mặc nhiên sáp nhập Mông Cổ vào Trung Hoa.  Năm 1368, Chu Nguyên Chương lật đổ nhà Nguyên (Mông Cổ), lên làm vua, tức Minh Thái Tổ (trị vì 1368-1398), lập ra nhà Minh.  Nhà Minh cai trị luôn Mông Cổ.  Trường hợp nầy cũng xảy ra với nhà Thanh ở Mãn Châu.  Cuối đời Minh, Lý Tự Thành nổi lên ở Thiểm Tây, tự xưng vương năm 1643.  Năm sau (1644), Lý Tự Thành kéo quân chiếm Bắc Kinh, vua Minh Hoài Tông (trị vì 1628-1644) tự tử.  Tướng nhà Minh là Ngô Tam Quế thông đồng với người Mãn Thanh (nhà Thanh) ở phía bắc, để dẹp Lý Tự Thành.  Lý Tự Thành thua chạy, vua Thanh vào Bắc Kinh làm lễ đăng quang tức Thanh Thế Tổ, niên hiệu Thuận Trị (trị vì 1644-1661).  Từ đó, nhà Thanh làm chủ Trung Hoa, Mãn Châu tự động sáp nhập vào Trung Hoa.  Khi nhà Thanh sụp đổ sau cuộc cách mạng Tân Hợi năm 1911, đất Mãn Châu cũng bị xem là thuộc Trung Hoa.
2.    Quốc sử quán triều Nguyễn, Khâm định Việt sử thông giám cương mục, (Chữ Nho), Hà Nội

ĐỨNG LÊN

                           ĐÁP LỜI SÔNG NÚI

 

“Được giới thiệu nhà nghiên cứu lịch sử và văn hoá dân tộc Việt Nam Phạm Trần Anh và cuốn sách mới nhất của ông là “Sơn Hà Nguy Biến”, thật là một nỗi vui đặc biệt cho tôi. Trước đây tôi được đọc những bài phê bình những cuốn sách “Nguồn Gốc Việt Tộc” và “Huyền Tích Việt” của ông Phạm Trần Anh, người đã tốt nghiệp Học Viện Quốc Gia Hành Chánh ở Việt Nam, và tôi thấy ngay tác giả là người có kiến thức về văn học và sử học Việt Nam, và hơn thế nữa, tác giả là một người yêu quê hương và tự hào về dân tộc Việt.. Hôm nay tôi xin phép được nói ngay là với tôi, tác giả là một người bạn tâm giao, và cuốn sách này là một cuốn sách qúy cần có trong mọi tủ sách gia đình”.

  Nhà văn, Khoa học gia Nguyễn Xuân Vinh

“ Nguồn gốc Việt tộc” là một tác phẩm giá trị với những khám phá mới lạ mà từ trước tới nay, những nhà viết sử chưa ai đề cập tới …”.

   Cố Đại Lão Hòa Thượng Thích Đức Nhuận

 

“Dù mới đọc lướt qua Nguồn gốc Việt tộc nhưng tôi đã nhận thấy đây là công trình cực kỳ giá trị ”.         

 Lê Mộng Nguyên, Viện sĩ Hàn Lâm Pháp

 

“Công trình nghiên cứu công phu của tác giả Phạm Trần Anh về Huyền tích Việt đã góp phần rất lớn vào công việc tìm hiểu nguồn gốc của người dân Việt. Công trình biên soạn của ông đem lại nhiều hãnh diện cho dân tộc Việt Nam, giúp chúng ta có những kiến thức vững chắc hơn về nền văn hiến của chúng ta. Chính nền văn hiến đó đã là nền tảng của văn hoá Trung Hoa sau này. Tác phẩm rất xứng đáng có một chỗ đứng quan trọng trong tủ sách của người Việt Nam, nhất là cho các thế hệ sau này”.

Ts Nguyễn Thanh Liêm,Thứ Trưởng Giáo dục VNCH 

 

 

ĐỨNG LÊN ĐÁP LỜI SÔNG NÚI

 

Lịch sử đã chứng minh lòng yêu nước thương nòi Việt Nam, sức sống Việt Nam đã đánh tan những đạo quân xâm lược dũng mãnh của Mông Cổ. Một nhi nữ anh thư đất Việt Trưng Trắc đã từng đánh chiếm 65 thành trì khắp Hoa Nam lãnh thổ Trung Cộng hiện nay, một danh tướng anh hùng Lý Thường Kiệt đã từng đem đại quân chiếm lĩnh châu Liêm, châu Khâm trên lãnh thổ Tàu như chỗ không người, một Hưng Đạo Đại vương 3 lần tiêu diệt đạo quân Nguyên Mông bách chiến bách thắng đã từng gieo kinh hoàng từ Á sang Âu. Cả thế giới đã vinh danh Đức Hưng Đạo Đại Vương là danh tướng muôn đời của nhân loại, một Bình Định Vương Lê Lợi, một anh hùng áo vải Tây Sơn đại danh tướng Nguyễn Huệ phá tan 29 vạn quân Thanh trong một cuộc hành quân thần tốc nhất trong lịch sử. Đại Hoàng Đế Quang Trung ấp ủ một ước mơ hoài bão sẽ chiếm lại Lưỡng Quảng cùng những đất đai của ông cha chúng ta và …

 

Gần đây nhất là chiến thắng lẫy lừng của Hải quân VNCH với sự hi sinh của Hải quân Thiếu tá Ngụy văn Thà cùng 58 chiến sĩ Hải quân đã tiêu diệt cả một bộ chỉ huy hạm đội Nam Hải gồm 11 chiến hạm tối tân do viên đô đốc Phương Quang Kinh, Tư-lệnh phó Hạm đội Nam-hải, Tư lệnh mặt trận cùng với bộ Tham mưu Hành-quân, 4 đại-tá, 1 trung tá, đều là hạm trưởng các chiến hạm đều phơi xác  trên biển Đông. Trong khi Hải quân VNCH chỉ có 4 chiến hạm, không được trang bị bằng hỏa tiễn như của TC, và đối đấu với một lực lượng hùng hậu gồm 11 chiến hạm. Về phía Hải quân VNCH, sĩ quan cao cấp nhất là hải quân Thiếu tá Ngụy văn Thà cùng với 58 chiến sĩ đã anh dũng hi sinh bảo vệ hải đảo để bảo vệ giang sơn tổ quốc mà tiền nhân đã đời đời hi sinh giành lại từng tấc đất tấc vàng của cha ông để lại.

 

Chúng ta phải làm gì để xứng đáng với sư hi sinh cao cả của những anh hùng dân tộc này???

 

Hôm nay chúng ta tạm xem như “mất nước” vào tay CS, hôm nay chúng ta mất Hoàng Sa vào tay Đế quốc Trung Cộng nhưng ngày mai chắc chắn chúng ta sẽ lấy lại, lấy lại tất cả như lịch sử đã chứng minh.

 

Với những người CS, đây là cơ hội ngàn năm một thuở  để giác ngộ quyền lợi dân tộc, đặt quyền lợi Tổ quốc lên trên hết để chuộc lại những tội ác, những lỗi lầm trước lịch sử trước khi đã quá muộn. Những người CS phải nhớ rằng, không một chế độ nào có thể tồn tại bằng sức mạnh của công an trị, của nhà tù.

 

Chúng ta chủ trương đấu tranh ôn hòa bất bạo động nhưng chúng ta cũng không thể lường được những phẫn nộ của quần chúng nhân dân, một khi lòng dân muôn người như một cương quyết đứng lên. Tập đoàn Việt gian CS bán nước đừng nghĩ rằng có thề tồn tại mãi mãi, có thể sống sót trước những hận thù chồng chất, những cuồng nộ của toàn dân.

 

Những người CS hãy nhớ rằng gần 3 triệu đảng viên đang ngồi trên lò thuốc nổ chất chứa hờn căm từ hơn nửa thế kỷ nay. Tất cả những tiếng gào của các chiến sĩ dân chủ, những tiếng thét của hàng triệu dân oan, công nhân bị bóc lột, thanh niên sinh viên yêu nước bị bỏ tù chỉ làm chậm lại tiến trình tự do dân chủ chứ không thể dập tắt được ngòi nổ. Những người dân lành đang oằn lưng kiếm sống chịu sự đàn áp không thể nào quên …

 

Khi thời cơ cách mạng đến bất ngờ thì chỉ với cây gậy Tầm Vông cũng đủ sạch bóng quân thù năm 1945. Chế độ bạo tàn Việt gian Cộng sản càng bắt bớ bỏ tù, càng đàn áp tàn bạo bao nhiêu thì lòng yêu nước chống độc tài tham nhũng, chống bất công áp bức càng dâng lên cao bấy nhiêu… Chiếc lò so của cả dân tộc đang bị nén lại thì chắc chắn một ngày N giờ G không xa sẽ bật tung cà 3 triệu đảng viên CS ra ngoài biển Đông, lúc đó sẽ không còn một tên CS nào trên đất Việt, sẽ không còn gì là tình đồng bào nghĩa ruột thịt nữa. Chúng ta đau lòng nhưng làm sao có thể ngăn chặn được lòng dân lòng quân đã bị trấn áp đã bị bịt miệng, đã bị giết chóc hơn nửa thế kỷ qua.

 

Sẽ có một ngày từ những phong trào tranh đấu ôn hòa, bất bạo động sẽ chuyển sang bất hợp tác, đình công bãi thị, bãi khóa … trên cả nước sẽ như những đợt sóng thần “trào dâng thác đổ” rửa sạch những tanh hôi trên đất Việt.

Lịch sử nhân loại đã chứng minh rằng “Đại nghĩa phải thắng hung tàn, Chí nhân sẽ thay cường bạo”,với lòng yêu nước vô biên với sức sống Việt Nam mà danh nhân văn hoá Nguyễn Trãi đã viết trong Bình Ngô Đại cáo   năm xưa.

 

Chúng ta không chỉ yểm trợ mà chúng ta phải hết lòng tranh đấu như một chiến sĩ dân chủ ở hậu phương hải ngoại. Bài học lịch sử cho chúng ta thấy rằng, chỉ mấy trăm ngàn người Ba Lan ở ngoại quốc một lòng một dạ quyết tâm vận động, yểm trợ cho người dân Ba Lan trong nước đã giật xập chế độ CS Ba Lan.

Không lý chúng ta người Việt Nam vốn có truyền thống yêu nước thương nòi xuyên suốt dòng lịch sử Việt lại không làm được như người Ba Lan đã từng đoàn kết để giật sập chế độ CS Ba Lan?

 

Làm sao chúng ta lại có thể đang tâm ngồi nhìn đồng bào ruột thịt mình đang sống dở chết dở trong ngục tù bao la “Địa ngục trần gian”, được gọi dưới cái tên là nhà nước CHXHCNVN ..!!!???

 

Làm sao chúng  ta lại có thể đang tâm sống một cuộc sống đầy đủ hạnh phúc  mà quên đi chúng ta đang tha hương, đang sống ở nơi đất khách quê người, quên đi đồng bào ruột thịt, quên đi quê hương khốn khó của chúng ta … đang dần dần trở thành một Tây Tạng, mtộ Tân Cương thứ hai???

Lúc đó, sẽ chẳng còn quê hương đất nước, chẳng còn đồng bào ruột thịt nữa mà chúng ta chỉ nghe tiếng lơ lớ, lố xa lố xố, những tiếng “tả lớ tả lớ” của Ô Mã Nhi trên Bạch Đằng Giang năm xưa !!!

 

Không, ngàn lần không triệu lần không, không bao giờ… Chúng ta sẽ làm hết sức mình, tranh đấu cho đến hơi thở cuối cùng để giải cứu dân tộc, để chúng ta trở về Việt Nam trong ngày vui chiến thắng không xa …

Lịch sử Việt Nam với bao chiến tích oai hùng của tiền nhân, những anh hùng dân tộc đã chứng minh cho bọn giặc Tầu xâm lược, bọn đế quốc đỏ Tầu Cộng biết thế nào là khí phách anh hùng Việt Nam, thế nào là sức sống vô  biên của Việt Nam …

 

Chiến thắng Hoàng Sa năm 1974 đã là một minh chứng hùng hồn lòng yêu nước của một nửa nước Việt Nam đã gây tổn thất nặng nề cho hải quân Trung Cộng về người và của.

 

Chúng ta phải làm gì để xứng đáng với sư hi sinh cao cả của những anh hùng dân tộc này???

 

Tổ quốc lâm nguy, Sơn hà nguy biến !!!

 

Toàn thể đồng bào Việt Nam chúng ta trong nước cũng như ở Hải ngoại phải làm tất cả những gì có thể làm được để “ đáp lời sông núi …”.

 

CHÚNG TA PHẢI LÀM GÌ?

Trước hết chúng ta phải nghiên cứu ý đồ chiến lược biển Đông của đế quốc TC cũng như của siêu cường Hoa Kỳ đối với Thái Bình Dương để từ đó có thể đề đề ra phương hướng chiến lược đương đầu với hiểm họa Tầu Cộng xâm lược. Tình hình thế giới cũng đã có nhiều thay đổi thuận lợi cho chúng ta. Gần nửa thế kỷ trước, Hoa Kỳ đã có chiến lược mới sau khi đã thành công trong việc phân hóa Liên Xô Trung Cộng, kéo Trung Cộng về làm ăn với Hoa Kỳ nên rút chân ra khỏi vùng Đông Nam Á để Việt Nam bị hy sinh trên bàn cờ chiến lược.

 

Ngày nay, trước sự lớn mạnh của đế quốc Trung Cộng, Hoa Kỳ cũng đã nhận chân được hiểm họa Trung Cộng nên họ phải có một đối sách mới. HK hiểu rõ rằng một khi TQ trở nên hùng cường, thịnh vượng, họ sẽ từ bỏ “thế thủ” mà thực hiện tham vọng bá chủ Á Châu che dấu từ lâu.  TQ sẽ chuyển sang chiến lược tấn công bằng cách bành trướng về mọi lãnh vực chính trị, kinh tế và quân sự để thiết lập ảnh hưởng tại Á Châu và trên thế giới.

 

Thực ra, Hoa Kỳ cũng nhận thức rõ hiểm họa Trung Cộng sau khi TQ và Nga Sô đã đồng ý hợp tác chiến lược song phương năm 1996, hai nước này ngày càng phát triển mối liên hệ và hợp tác chặt chẽ hơn để chế ngự Hoa Kỳ.

  Năm 1999, hai nước ký Hiệp Ước Giao Hảo và Hợp Tác  Năm 2000, TC và Nga Sô lên tiếng phản đối HK dự định thiết lập Hệ Thống Lá Chắn Hỏa Tiễn và bãi bỏ Hiệp Ước Cấm Hỏa Tiễn Liên Lục Địa.  Năm 2002, Giang Trạch Dân khi thăm Iran đã công khai chống đối việc đóng quân Hoa Kỳ tại vùng Trung Á

Năm 2005, TQ và Nga Sô đã tổ chức cùng thao diễn quân đội một cách qui mô gồm 10.000 không, hải và lục quân với quân cụ, vũ khí  tham dự để “quân bình thế lực với ảnh hưởng Hoa Kỳ trong vùng”.

 

Mặt khác, biển Đông đối với Hoa Kỳ chính là hải đạo huyết mạch vận chuyển không những cho các tàu dầu và thương thuyền từ Trung Đông, Ấn Độ Dương và Đông Nam Á tới Nhật Bản, Đại Hàn và Trung Quốc qua eo biển Malacca. Hơn nữa, HK còn dùng biển Đông như điểm chuyển vận và vùng hoạt động cho Hải Quân, Không Quân HK nối liền các căn cứ quân sự của họ ở Á Châu, Ấn Độ Dương và Vùng vịnh Ba Tư.  Hoa Kỳ cần duy trì sự tự do và an toàn cho hành lang chiến lược quan yếu gồm hải đạo, đường hàng không và liên lạc giữa các vùng quân sự này.

Hơn nữa, HK cũng cần bảo vệ cương vị siêu cường và bảo đảm an ninh cho các đồng minh của mình tại Á Châu. Chính vì vậy, Hoa Kỳ áp dụng hai chiến lược “ngăn chặn” và “kèm giữ” như lời tuyên bố của Bộ Trưởng Quốc Phòng Hoa Kỳ là sẵn sàng đối đầu với Trung Quốc khi cần thiết.

Đây là lý do HK đã thắt chặt hợp tác an ninh với Nhật Bản, Ấn Độ và tăng sức mạnh quân sự tại Trung Á và Á Châu-Thái Bình Dương. 

 

Lịch sử dường như lại đang tái diễn, Hoa Kỳ đang tìm cách Iraque hóa, Apganixtan hóa chiến tranh để quay về châu Á Thái Bình Dương.

Sự việc tàu nghiên cứu đại dương Impecable đi thăm dò trong hải phận quốc tế mà TC tuyên bố là đặc khu kinh tế của họ ngay khi Tư lệnh Thái Bình Dương Mỹ đến VN thì xảy ra vụ tàu TC cản trở tàu thăm dò đại dương Impeccable. Đây không phải tình cờ mà nó là một vụ “Madox” mới của Trung Cộng khiến HK phải đưa chiến hạm hộ tống.

Sau sự kiện này, bất ngờ Phi Luật Tân đưa ra Liên Hiệp Quốc chủ quyền lãnh hải và các quần đảo Philippines và gần đây là phái đoàn quân sự cao cấp của CSVN ghé thăm hàng không mẫu hạm của Hoa Kỳ đậu ở ngoài khơi biển Đông sau chuyến viếng thăm của TNS J Mac Caine tới Việt Nam thảo luận về an ninh biển Đông nhằm thiết lập một hợp tác quân sự mật thiết hơn nữa.

Không phải là tình cờ mà mới đây, khu trục hạm tối tân HUẾ CITY do Hạm Trưởng Hải quân Trung Tá Lê Bá Hùng, một người Mỹ gốc Việt chỉ huy ghé hải cảng Đà Nẵng đúng thời điểm này đã được Hải quân CHXHCNVN và nhân dân chào đón nồng nhiệt …

 

Chúng ta biết rằng bản chất của CSVN là lừa lọc phản bội luôn luôn đi hàng hai, một mặt lấy TC làm chỗ tựa bảo vệ chế độ, mặt khác dùng Hoa Kỳ để cản bớt áp lực từ TC. Tuy bị TC khống chế nhưng một khi có được một mật ước cam kết về quân sự với Hoa Kỳ cũng như thỏa hiệp duy trì sự lãnh đạo của đảng CS Việt gian thì rất có thể vào giờ phút chót CS Việt gian cũng sẽ nộp bản đồ xác nhận lãnh hải và đặc quyền kinh tế của VN và quay ngược lại công khai chống TC.

 

Thực tế lịch sử đã minh chứng bản chất lừa lọc của tập đoàn Việt gian CS, tuy ở gần TC nhưng CS Việt gian lại ngả về Liên Xô đang mạnh. Để ngăn chặn ảnh hưởng của TC ở Đông Dương, Liên Xô cho tàu chở quân Việt gian CS sang đánh Cambodia lật đổ chế độ Pôn Pốt do Trung Cộng đỡ đầu. Chính vì vậy, Trung Cộng mới tấn công CS Việt gian ngày 17 tháng 2 năm 1979. Khi Liên Xô xụp đổ thì CS Việt gian phải  quì bằng hai đầu gối xin phục tùng Trung Cộng như một chư hầu, chấp nhận dâng đất nhường biển để bảo vệ địa vị thống trị của chúng.

Khi tương quan lực lượng thay đổi thì việc đón gió trở cờ thuộc về bản chất cố hữu của đảng CS Việt gian. Dù sao thì bản chất hại dân bán nước của tập đoàn Việt gian bán nước cũng đã phơi bầy trước lịch sử.

 

Ngoài vai trò chiến lược quan trọng, biển Đông còn tiềm tàng một kho nhiên liệu hết sức quan trọng. Những hòn đảo nhỏ không có giá trị nhiều nhưng vì có thể tàng trữ lượng dầu lửa lớn lao. Trữ lượng dầu hỏa nằm ở trong không những thềm lục địa mà còn ở vùng biển trên thềm lục địa gọi là vùng kinh tế đặc quyền của VN tính từ bờ lục địa ra đến 200 hải lý.  Cuộc thăm dò bởi Viện Nghiên Cứu Địa Dư Của Các Nước Ngoài của Nga Sô năm 1995 ước lượng có khoảng 6 tỉ barrel dầu trong đó có 70% là khí đốt trong vùng Trường Sa.

Trong khi đó, TQ tuyên bố, biển Đông là “Vịnh Ba Tư thứ nhì” và một số nhà chuyên môn của họ đã quả quyết rằng biển Đông có thể chứa đến 210 tỉ barrels dầu hỏa và hơi đốt. Chính vì tầm quan trọng kể cả về vị trí chiến lược lẫn quyền lợi kinh tế, một cuộc đụng độ lớn giữa Hoa Kỳ và Trung Cộng khó có thể tránh khỏi sẽ làm biển Đông sẽ nổi sóng có thể xảy ra trong nay mai không biết lúc nào …

 

ĐỒNG BÀO TRONG NƯỚC

 

Tầng lớp thanh niên sinh viên rường cột của đất nước phải ý thức được bổn phận trách nhiệm của một công dân yêu nước, dấn thân tranh đấu chống lại độc tài bất công của tập đoàn thống trị tàn bạo nhất trong lịch sử.

Tập đoàn Việt gian CS ngoài miệng thì tuyên truyền đấu tranh cho giai cấp công nhân nông dân nhưng trong thực tế thì tước đoạt tài sản nhà cửa ruộng vườn của hàng triệu đồng bào dân oan, cấu kết với tư bản nước ngoài để bóc lột sức lao động của công nhân, xuất khẩu lao động xuất khẩu phụ nữ, một hình thức xuất khẩu nô lệ thời đại mới để trục lợi trên mồ hôi, nước mắt trên thân xác phụ nữ Việt Nam.

Đối với nhân dân thì đè đầu cưỡi cổ còn đối với kẻ thù truyền kiếp của dân tộc thì hèn nhát, phản bội lại tổ quốc cam tâm bán nước cho đế quốc vì quyền lợi riêng tư của tập đoàn tư sản đỏ.

 

Chúng ta không thể vô cảm trước những nỗi đau của toàn dân, chúng ta không thể không tủi hổ khi hai chữ “Việt Nam” vì tập đòan Việt gian tham nhũng, buôn lậu mà bị cả thế giới khinh rẻ.

Chúng ta không thể nhắm mắt làm ngơ trước hành động đê hèn trâng tráo dâng đất nhường biển của tập đoàn Việt gian bán nước. Chúng ta không thể gục mặt cúi đầu trước hành vi ngang ngược xâm lấn đất đai biển cả của Trung Cộng, tên đầu sỏ đế quốc đỏ quỉ quyệt hung hãn nhất thời đại.

Chúng ta không thể dửng dưng trước nỗi thống khổ của nhân dân, không thể làm ngơ trước nguy cơ mất nước.

Hôm nay chúng ta mất ¾ thác Bản giốc, mất Ải Nam Quan (cột mốc dời về phía VN 160mét), mất Hoàng sa trường Sa và chỉ trong 5,10 năm nữa, đất nước chúng ta sẽ là một Tây Tạng thứ hai là một điều không thể tránh khỏi.

  Chúng ta và thế hệ con cháu chúng ta không thể nào lại lên rừng tìm ngà voi, lặn xuống vịnh Hạ long để mò ngọc trai dâng lên cho quan thày Tàu Cộng ???!!!

 

Chúng ta không thể oằn lưng mãi để bọn sâu dân mọt nước đè đầu cưỡi cổ, chúng ta không thể ngồi im nhìn tập đoàn Việt gian bán nước phản bội Tổ quốc, phản bội công lao xương máu của tiền nhân bao đời giữ nước. Chỗ nào có áp bức, chỗ đó phải đấu tranh.

Tất cả những người Việt Nam yêu nước không phân biệt chính kiến, tôn giáo, đảng phải … Nhất là tầng lớp thanh niên sinh viên rường cột của đất nước, anh em quân nhân lúc nào cũng phải đặt quyền lợi dân tộc lên trên hết để chiến đấu bảo vệ giang sơn tổ quốc. Chúng ta quyết tâm đứng lên:

 

1. Đấu tranh giành lại quyền sống làm người, quyền tự do dân chủ.

2. Phương pháp đấu tranh: Ôn hòa, bất bạo động, bất hợp tác, đình công, bãi thị, bãi khóa. 

3. Đòi lại đất đai tài sản giáo hội, đất đai của dân oan, đòi tăng lương, bảo hộ lao động và trợ cấp thất nghiệp

4. Đấu tranh đòi qui chế tự trị đại học, đòi hỏi thay đổi chính sách giáo dục: không học tập chính trị Mác Lê thay vào đó là công dân giáo dục, một nền giáo dục thực dụng, chuyên nghiệp …

 5. Đòi hỏi quyền tự do dân chủ, quyền được yêu nước mà tập đoàn lãnh đạo CS tước đoạt để độc quyền thống trị. Đấu tranh chống lại chế độ công an, cảnh sát trị kềm kẹp dân chúng, đánh đập bắt bớ giam cầm những chiến sĩ đấu tranh cho tự do dân chủ. … Giành thắng lợi từng bước một, đẩy lùi sự sợ hãi và khống chế của tập đoàn thống trị CS.

6. Quân đội tranh đấu được quyền bảo vệ tổ quốc, bảo vệ giang sơn gấm vóc, bảo vệ từng tấc đất mà tiền nhân ông cha bao đời đã hy sinh xương máu bao đời để bảo toàn đất Tổ. Cương quyết đòi tách chính trị ra khỏi quân đội, cương quyết đòi hỏi quốc hội, nhà nước CHXHCNVN phải chính thức xác nhận chủ quyền lãnh thổ, lãnh hải của Việt Nam và đưa vấn đề Trung Cộng xâm lấn lãnh thổ lãnh hải VN ra trước Đại Hội đồng Liên Hiệp Quốc.

 

Đồng bào trong nước vững tâm tin tưởng vào hậu phương lớn của 4 triệu đồng bào Việt Nam yêu nước ở hải ngoại.

Kinh nghiệm một nước Ba Lan chuyển đổi lịch sử với quyết tâm của người dân trong nước cùng với sự hỗ trợ tinh thần lẫn vật chất của những người Ba Lan ở hải ngoại.

Ba triệu đồng bào Việt Nam sẽ làm hết sức mình, yểm trợ tối đa tinh thần lẫn vật chất để chúng ta cùng đứng lên giành lại quyền sống làm người, giành lại từng tấc đất máu thịt của giang sơn gấm vóc “Con Rồng cháu Tiên” của chúng ta.

 

Chưa bao giờ công luận quốc tế lại ủng hộ công cuộc đấu tranh cho nhân quyền, tự do dân chủ của 85 triệu người dân Việt Nam bằng lúc này.

Nghị quyết của cộng đồng Âu Châu. Đặc biệt, trong diễn văn nhậm chức của tân Tổng thống Hoa Kỳ đã nhắc tới 2 sự kiện quan trọng, đó là  sự hy sinh vì lý tưởng tự do không những cho nước Mỹ mà cho người dân của các nước mất tự do. Đặc biệt, sự hy sinh của 58 ngàn chiến binh Hoa Kỳ ở Khe Sanh Việt Nam được vinh danh “ Đối với chúng ta, họ đã chiến đấu và hy sinh cho tự do ở những nơi như Concord và Gettysburg, ở Normandy và Khe Sanh Việt Nam.

Đối với những ai bám víu quyền lực bằng tham nhũng, gian lận, và bằng cách bịt miệng những người bất đồng chính kiến, hãy biết rằng quí vị đang đứng ở phía trái của lịch sử ”.

Một khi yếu tố khách quan như tình hình kinh tế suy thoái, thất nghiệp, vật giá gia tăng, thuế má tăng cao thì nhất loạt các phong trào quần chúng sẽ xuống đường cùng một lúc, các tôn giáo đồng loạt đứng lên tranh đấu …

Đồng bào cả nước tổng đình công, chợ búa đóng cửa, trường học bãi khóa, bất hợp tác với đảng cộng sản, tẩy chay chính quyền, buộc chính quyền phải tôn trọng quyền tự do quyền làm chủ của nhân dân, tổ chức bầu cử quốc hội lập hiến dưới sư giám sát của quốc tế, kêu gọi quân đội đứng lên giúp dân loại bỏ giai cấp đảng viên thống trị, làm giàu vơ vét bóc lột nhân dân, sống chết mặc bay làm giàu trên mồ hôi nước mắt của quần chúng nhân dân.

Toàn quân toàn dân đứng lên cứu dân cứu nước trước sự xâm lấn của kẻ thù truyền kiếp của dân tộc.

 

Sự xụp đổ của tập đoàn Việt gian bán nước là một tất yếu lịch sử, bắt buộc phải xảy ra trong nay mai.

Vấn đề là khi yếu tố khách quan như tập đoàn Việt gian dâng đất nhường biển, sự suy thoái kinh tế sẽ tác động vào tình hình thực tế khiến quần chúng bất mãn đứng lên đấu tranh quyết liệt một mất một còn.

Toàn dân toàn quân không phân biệt tôn giáo tuổi tác chung sức chung lòng nhất loạt đứng lên đáp lời sông núi, chuyển đổi lịch sử để giành lại quyền sống làm người, quyền tự do dân chủ, quyền ấm no và mưu cầu hạnh phúc.

Tất cả hờn căm uất ức bột phát tuôn trào như đợt sóng thần lịch sử, như trào dâng thác đổ cuốn trôi những rác rưởi cộng sản ra biển Đông để rửa sạch tanh hôi mà “Thần người đều căm giận, trời đất chẳng dung tha”…

ĐỒNG BÀO HẢI NGOẠI 

1. Việc làm đầu tiên của chúng ta là phải thống nhất sức mạnh của cộng đồng người Việt tự do ở hải ngoại. Đã đến lúc chúng ta phải đặt quyền lợi tối thượng của dân tộc lên trên hết, phải quên đi những tị hiềm đố kỵ, những phân hóa chia rẽ bấy lâu …

Chúng phải quên đi tất cả để cùng nắm chặt tay nhau, thống nhất hành động để yểm trợ tinh thần vật chất cho các chiến sĩ dân chủ, những đồng bào dân oan trên cả nước đang đấu tranh quyết liệt giải thể chế độ cộng sản bạo tàn phi nhân của tập đoàn Việt gian bán nước.

 

Đồng bào hải ngoại chúng ta phải đoàn kết một lòng, thống nhất sức mạnh của cộng đồng Người Việt tự do ở Hải ngoại tập hợp dưới ngọn cờ Dân chủ Tự do trong một Mặt trận Dân chủ Cứu nguy Dân tộc. Chỉ dưới một tập hợp duy nhất “Mặt trân Dân chủ Cứu nguy DânTộc Việt Nam” mới tập trung sức mạnh tổng lực của 4 triệu đồng bào hải ngoại yểm trợ tối đa về tinh thần lẫn vật chất cho 85 triệu đồng bào trong nước cùng đứng lên lật đổ bạo quyền.

 

 2. Mặt khác, chúng ta phải vận dụng thế mạnh của cộng đồng người Việt tự do trong mặt trận Quốc tế vận để góp phần cùng toàn dân trong nước đứng lên chuyển đổi lịch sử. Chúng ta phải vận động chính giới các nước, vận động công luận tiến bộ của cả loài người tiến bộ, vận động dư luận của chính giới bao gồm lập pháp và hành pháp của các nước thành viên của LHQ ủng hộ thúc đẩy tiến trình dân chủ hóa Việt Nam.

 

Một mặt trận mới của cả Dân tộc Việt Nam sẽ tập hợp sức mạnh vô địch của quần chúng lật đổ chế độ bCS bạo tàn, hại dân bán nước.

Một khi tập đoàn Việt gian bán nước hại dân không còn nữa, toàn thể 89 triệu đồng bào Việt Nam với nhân lực, tài lực và vật lực sẵn có sẽ tạo thành một tổng lực với sức mạnh vô địch không những đẩy lùi giặc Tàu Cộng xâm lược mà còn giành lại những gì đã mất vào tay giặc Tàu xâm lược, kẻ thù truyền kiếp của dân tộc Việt.

Một khi cả thế giới thấy rằng, ngay cả lãnh thổ xa xưa của Việt tộc ở lãnh thổ Trung Quốc bây giờ thì vấn đề chủ quyền lịch sử của Hoàng Sa đã sáng tỏ không cần phải bàn cãi và cả thế giới sẽ ủng hộ Việt Nam chặn đứng hành động xâm lược của siêu đế quốc đỏ Trung Cộng.

 

3. Trước khi đưa vấn đề ra Liên Hiệp Quốc chúng ta phải phá vỡ thế “thương thuyết song phương” và kiểu “Hợp tác Hữu nghị” mà TC thường đề nghị để xé lẻ các nước trong vùng hầu dùng sức mạnh quân sự và kinh tế để áp lực đưa vào thế đã rồi.

Chúng ta phải triệt để vận dụng tiếng nói của Hiệp hội các nước Đông Nam Á (ASEAN) đồng chủng với chúng ta như là một đối trọng của Trung Cộng. Đặc biệt, Phi Luật Tân chính thức đệ trình “Đường cơ sở bao vòng nhóm đảo Kalayaan (Trường Sa) gồm 53 đảo và cả đảo Scarborough là nơi mà TC và Phi đang tranh chấp … Đây là sự kiện hết sức thuận lợi cho chúng ta xác định chủ quyền lãnh hải cũng như đặc quyền kinh tế trên biển Đông của chúng ta.

Những đoàn thể, đồng bào Việt Nam ở hải ngoại hãy bắt tay thực hiện ngay công việc xác nhận chủ quyền này. Các nhà nghiên cứu như học giả Vũ Hữu San, Luật sư Nguyễn Hữu Thống và đặc biệt là Trung tâm Việt Nam học của giáo sư Nguyễn văn Canh cùng phối hợp soạn thảo và đệ trình gấp văn bản xác định chủ quyền lãnh hải của Việt Nam để bảo lưu tại Liên Hiệp Quốc, dù CS Việt gian bán nước có chịu đệ nạp văn bản này hay không.

 

Chúng ta phải đệ trình lên Đại hội đồng Liên Hiệp Quốc văn bản xác nhận chủ quyền lịch sử cũng như bản đồ biển xác định thềm lục địa và đặc quyền kinh tế theo lời kêu gọi của Đại Lão Hòa Thượng Thích Quảng Độ. Cựu Thủ tướng Nguyễn Bá Cẩn là Thủ tướng Việt Nam Cộng Hòa hợp hiến hợp pháp sẽ viện dẫn nguyên tắc liên tục công quyền của chế độ Việt Nam Cộng hòa để đệ trình bản đồ lãnh hải Việt Nam mà các quốc gia ký kết hiệp định Genève và Paris đã thừa nhận tính hợp pháp cũng như chủ quyền lãnh thổ lãnh hải của Việt Nam Cộng hòa trước ngày 13 tháng 5 năm 2009.

 

Một Mặt trận Dân chủ Cứu nguy Dân tộc bao gồm tất cả người Việt Nam yêu nước, đấu tranh cho Dân chử tự do sẽ đứng lên hoàn thành sứ mạng cứu quốc và kiến quốc Việt Nam.

Một khi thống nhất sức mạnh của toàn dân trong và ngoài nước cùng chung lòng chung sức đấu tranh mới có thể giải thể chế độ CS bạo tàn. 

Lịch sử đã chứng minh rằng chỉ có một chính quyền thật sự “của dân, do dân, vì dân” mới có thể huy động đại đoàn kết dân tộc để bảo vệ đất nước trước sự xâm lăng của kẻ thù truyền kiếp của dân tộc.

 

Chúng ta sẽ vận dụng sự hỗ trợ tối đa của dư luận quốc tế, tạo thế đồng minh chiến lược với Hoa Kỳ, Nhật Bản, Úc và hiệp hội các nước Đông Nam Á thì chúng ta sẽ hội đủ thế và lực để đương đầu với Trung Cộng xâm lược.

 

Chúng ta phải quyết tâm tranh đấu giải thể chế độ CS Việt gian bạo tàn để đến tháng 10 năm 2010, theo nguyên tắc luân phiên Việt Nam sẽ là chủ tịch của Hiệp hội các nước Đông Nam Á.

Đây là cơ hội ngàn năm để tập trung sức mạnh của cả Đông Nam Á bao gồm các dân tộc trong đại chủng Bách Việt, một liên minh phòng thủ Đông Nam Á (SEATO) lại được tái lập sẽ là một đối trọng quyết định sự sống còn của TC.

 

Khi vận nước đã chuyển đổi, một liên bang Đông Nam Á hùng mạnh của đồng chủng Bách Việt sẽ ra đời đáp ứng yêu cầu bức thiết của lịch sử.

Đây là thời kỳ phục hưng dân tộc với những bước đột phá khoa học kỹ thuật của chất xám Đại Việt Nam thì không những bảo toàn đất tổ mà chúng ta còn phải thực hiện cho bằng được nhiệm vụ lịch sử cao cả là thâu hồi toàn bộ lãnh thổ của Việt tộc tự xa xưa.

 

Bài học của lịch sử cho chúng ta biết rằng khi quốc gia Nam Việt hùng mạnh thì Hán Cao Tổ phải phong vương để giao hiếu, một Hán văn Đế phải hạ mình giao trả toàn bộ đất đai Bách Việt phía Nam rặng Ngũ Lĩnh cho Nam Việt để hai nước giao hảo như xưa.

Một đế quốc Nguyên Mông hùng mạnh nhất trong lịch sử nhân loại, đã chiếm cứ toàn bộ châu Á và một nửa Âu Châu nhưng cả 3 lần xâm lược đều thất bại trước tinh thần Diên Hồng “Muôn người như một” của quân dân nhà Trần.

 

Chúng ta quyết tâm đấu tranh giành lại quyền tự do dân chủ, quyền sống làm người để xây dựng một xã hội công bằng tiến bộ, một đất nước giàu mạnh.  Chúng ta phải huy động tất cả trái tim khối óc của toàn thể đồng bào Việt Nam trong và ngoài nước, tạo thế và lực thật sự của dân tộc mới có thể tiêu diệt được thù trong giặc ngoài.

Chưa bao giờ công luận quốc tế lại ủng hộ cuộc đấu tranh chính nghĩa của toàn dân Việt Nam, giành lại quyền tự do dân chủ, quyền sống làm người cũng như bảo vệ vẹn toàn lãnh thổ của chúng ta như bây giờ.

 

Trong lịch sử nhân loại, có lẽ không một dân tộc nào chịu nhiều mất mát trầm luân như dân tộc Việt với những thăng trầm lịch sử, những khốn khó thương đau. Ngay từ thời lập quốc, Việt tộc đã bị Hán tộc với sức mạnh của tộc người du mục đã đánh đuổi Việt tộc phải rời bỏ địa bàn Trung nguyên Trung quốc xuống phương Nam để rồi trụ lại địa bàn Việt Nam bây giờ. Lịch sử thế giới không có một dân tộc nào có thể vùng lên giành lại độc lập sau đêm dài nô lệ hơn một ngàn năm dưới ách thống trị của kẻ thù thâm độc quỉ quyệt như dân tộc Việt Nam.

 

Lịch sử Việt là lịch sử của công cuộc trường kỳ kháng chiến, chiến đấu và chiến thắng để Việt Nam tồn tại mãi tới ngày nay. Dân tộc Việt đã chiến thắng biết bao kẻ thù hung hãn quỉ quyệt bất cứ từ đâu đến, dù chúng núp dưới bất kỳ chiêu bài hoa mỹ nào.

Lịch sử Việt cũng chứng minh rằng tất cả những gì xa lạ với bản sắc dân tộc đều phải khuất phục trước sức sống Việt Nam, trước truyền thống anh hùng của một dân tộc có gần năm ngàn năm văn hiến.

 

Khi chế độ CS bạo tàn xụp đổ, toàn dân toàn quân Việt Nam muôn người như một sẽ đứng lên đáp lời sông núi theo lời hịch của Quang Trung Đại Đế đánh đuổi kẻ thù xâm lược:

 

“ Đánh cho để răng đen,

Đánh cho để dài tóc …

Đánh cho Chích luân bất phản …

Đánh cho phiến giáp bất hoàn …

Đánh cho sử tri Nam Quốc anh hùng …

chi hữu chủ …”

 

Ngày N giờ G của lịch sử đó sẽ sớm đến với tất cả đồng bào Việt Nam chúng ta …

 

Đại nghĩa tất thắng hung tàn

Chí nhân phải thay cường bạo!

 

Tổ quốc Việt Nam trường tồn

Đất nước Việt Nam bất diệt

Nhân dân Việt Nam tất thắng

Việt Nam muôn năm

 

 

 

 

 

NGUYỄN THÙY DUNG

Fw: “MEET VIETNAM” VS “MEET VIET CONG” ONLY – Hội nghị “Việt kiều” VS “Hội nghị Việt cộng”
Fri, December 4, 2009 4:24:16 AM

From:
Thuy Dung Nguyen <dantocvunglen.5475@yahoo.com>   

Add to Contacts

To: truong_qh77083@yahoo.com  
   
 
3 Files  
NGUYỄN THÙY DUNG – BTCN1 – DECEMBER 2009.pdf (3429KB); Tự Do Ngôn Luận Số 87 – 15 november 2009.pdf (1590KB); TỰ DO NGÔN LUẬN 88 – 01 DEC 2009.doc (722KB)

 KÍNH NHỜ QÚY CỤ, QÚY BÁC, ÔNG BÀ, CÔ CHÚ,
 ANH CHỊ

PHỔ BIẾN RỘNG RÃI BTCN NẦY ĐẾN TẤT CẢ MỌI NGƯỜI DÂN

NGUYỄN THÙY DUNG XIN CÁM ƠN TOÀN THỂ QÚY VỊ

 

EM THÀNH THỰC XIN LỖI KHÔNG THỂ TIẾP CHUYỆN ANH/CHỊ

MUỐN LIÊN LẠC QUA “CHAT” TỪNG NGƯỜI MỘT 

VÌ EM QUÁ BẬN: gởi hàng chục ngàn emails mỗi ngày. 

ANH/CHỊ THÔNG CẢM CHO EM NHÉ!

 

XIN ANH/CHỊ VUI LÒNG LIÊN LẠC VỚI EM QUA “EMAIL”,

CÁM ƠN ANH/CHỊ NHIỀU LẮM.

 

 

*************************

 

 

 

CÒN TIN VIỆT CỘNG LÀ CÒN TRẮNG TAY !

 

CÒN CỜ MÁU LÀ CÒN ĐIÊU LINH !

 

 

 

AI

- CÒN MƠ HỒ VỀ CỘNG SẢN ???

- CÒN NỊNH BỢ , BƯNG BÔ BÈ LŨ PHỈ QUYỀN VIỆT GIAN CỘNG SẢN ???

- CÒN MUỐN “ĐỐI THOẠI, HÒA HỢP HÒA GIẢI” VỚI VIỆT CỘNG ???

- CÒN ĐEM TIỀN BẠC & CHẤT XÁM ĐẦU TƯ “XÂY DỰNG QUÊ HƯƠNG” ???

 

HÃY

- MỞ MẮT CHO LỚN ĐỂ NHÌN, HÃY MỞ TRÍ CHO RỘNG ĐỂ THẤY BẢN CHẤT TÀN BẠO LƯU MANH MUÔN ĐỜI CỦA BÈ LŨ VIỆT GIAN CỘNG SẢN:

 

- “LÀNG MAI NHẤT HẠNH HÒA HỢP HÒA GIẢI”, 400 TU SINH TĂNG THÂN LÀNG MAI BÁT NHÃ BỊ KHỦNG BỐ, ĐÀN ÁP, TRỤC XUẤT !!!

 

- CÁC LINH MỤC THÁI HÀ “ĐỐI THOẠI” VỚI PHỈ QUYỀN QUẬN ĐỐNG ĐA ĐỂ NGHE QUYẾT ĐỊNH CƯỚP ĐẤT,

 

- TRỊNH VĨNH BÌNH, NGUYỄN ĐÌNH HOAN, HOÀNG NGỌC TIẾN, NGUYỄN GIA THIỀU, NGUYỄN TRUNG TRỰC, NGUYỄN AN TRUNG, TRẦN VĂN TRƯỜNG “AO CÁ TÂN TRƯỜNG KHANH” ĐEM TIỀN CỦA, CHẤT XÁM VỀ “XÂY DỰNG QUÊ HƯƠNG” BỊ TÙ TỘI, BỊ CƯỚP MẤT TRẮNG TAY !!!

 

- “BỌN XƯỚNG CA VÔ LOÀI” BỊ CƯỚP NHÀ, ÔM ĐẦU MÁU VỀ NƠI TỊ NẠN !!!

 

- PHẠM DUY, NGUYỄN CAO KỲ BỊ VIỆT GIAN CỘNG SẢN COI LÀ NHỮNG CON CHÓ GHẺ Ô NHỤC, CHANH VẮT HẾT NƯỚC, VỎ HẾT XÀI !!!

 

ĐỪNG NGHE CỘNG SẢN NÓI,

HÃY NHÌN CỘNG SẢN LÀM !!!

 

 

DÂN TỘC VÙNG LÊN CHỐNG

BẠO QUYỀN VIỆT GIAN CỘNG SẢN !

 

 

*****************************

 

 

 

Thư BBT http://www.vietnamngaymai.blogspot.com

 

 

“MEET VIETNAM” VS “MEET VIET CONG” ONLY

Hội nghị “Việt kiều” VS “Hội nghị Việt cộng”

 

“Vô ra cũng “thằng cha” khi nảy, sàng sảy cũng “con mẹ” lúc xưa ! Bố khỉ ! Chúng nó với nhau chứ có ai lọt vô đâu !” (Lời một vị cao niên.)

 

 

Kính anh chị:

 

Vì bận một số dự án cần phải thực hiện kịp thời nên trong tháng 11/2009 em và các bạn trong nhóm chỉ chuyển đi được một BTCN duy nhất. Mong là anh chị thông cảm.

 

Những tin tức liên quan đến VN có 3 sự kiện được đưa tin trong BTCN kỳ nầy. Cả 3 chỉ là vấn đề tuyên truyền của Việt cộng chứ thực chất thì là “KHÔNG CÓ GÌ…” (trích một phần ba câu nói của già Hồ.) Thực vậy, nghề của Việt cộng là nghề tuyên truyền để lường gạt những người nhẹ dạ hay những kẻ tay mơ (cả người Việt lẫn người ngoại quốc.)

 

1- Cái gọi là “MEET VIETNAM” hầu như không có ai ở Mỹ tham dự ngoại trừ một số kẻ có thể đếm trên đầu ngón tay như một vài tên cò mồi, một vài tên trí thức “chồn lùi” nằm vùng (chữ của qúy vị cao niên,) một vài tên Việt gian xưa nay có quan hệ làm ăn với lũ thổ phỉ bạo quyền, một vài tên “xướng ca vô loại”. Tất cả những tên nầy thì mọi người đã biết hết tên tuổi, mà khi vào cửa chúng luôn luôn gục mặt xuống đất, vội vàng đi như chạy cho mau thoát khỏi con mắt khinh bĩ của toàn thể CĐNVHN tại Hoa Kỳ, nhất là đồng bào biểu tình tại San Jose, Cali. Bọn nầy được bà con xếp vào loại:

 

“THƯƠNG NỮ BẤT TRI VONG QUỐC HẬN

CÁCH GIANG DO XƯỚNG HẬU ĐÌNH HOA”

 

(Lũ điếm nhục biết chi là hận nước,

Mặc dân tình, cùng giặc cộng ăn chơi.)

 

Còn hầu hết tham dự viên, chỉ là bọn “quốc nội cơm đùm gạo bới qua đây trình diễn tuyên truyền như chuyện thường ngày ở huyện” tìm cơ hội, lợi dụng cơ hội “tham quan xứ đế quốc tư bản Mỹ” (mà lâu nay bọn họ nghe nói như là một chốn “thiên đàng”) để nếu có hay tìm kiếm cơ hội tốt trở thành một phần tử “khúc ruột … thừa ngàn dặm” (cho chắc ăn.)

 

Bọn Việt cộng nầy ngoài mặt thì “mạnh miệng” nhưng trong thâm tâm chúng cũng không tin là chúng sẽ đè đầu cởi cổ nhân dân thêm được bao lâu nữa. Kiếm đường sẵn để … “doọc” là vừa.

 

Tóm tắt, “MEET VIETNAM” chỉ là trò hề tuyên truyền rẽ tiền (như thường lệ,) của Việt cộng, không đánh lừa được bất kỳ ai, không có ai là người Mỹ gốc Việt cam tâm làm “Việt kiều” cho bọn “đầu trộm đuôi cướp Việt cộng” và cũng chẳng có ai là thương gia ngoại quốc nghe lời dụ dỗ “vào đầu tư ra đầu teo” của Việt cộng. Chúng đem bầu đoàn thê tử qua đây vừa được đi chơi khỏi tốn tiền vừa “lăn tay chụp hình” lừa bà con trong nước. Đóng trò hề ở trong nước mãi cũng nhàm chán, ra đóng trò ở ngoại quốc “cho nó mới” (rượu cũ bình mới, vừa có dịp đi du hí.) Còn “dân ngoài nước” thì “biết tẩy nhau quá mà !” (Xem hình ảnh thì thấy ngay.)

 

2- Cái gọi là “Đại nhạc hội Thanksgiving” ngày 28/11/2009, do tên “thương nữ” Frank Vũ tổ chức, được bọn “báo chí lá cải bị mua chuộc”  hỗ trợ, kết quả cuối cùng cũng chỉ là một sự thất bại lỗ lã thê thảm đến nỗi tên Frank Vũ kéo một vài tên du đảng đâm thuê chém mướn đến hành hung anh Lê Phước Tuấn (người nổi tiếng trong vụ “hạ đo ván” Nguyển Quốc Huy, chánh văn phòng của tên thủ tướng Việt cộng Phan Văn Khải năm 2005,) khi anh đi ăn tối với vài người bạn tại một nhà hàng (vụ này nghe nói hứa hẹn sẽ nổ lớn vì anh Tuấn đã đi lấy giấy chứng thương và thưa cảnh sát tại Galand, Texas.)

 

Việc ĐNH “THANKGIVING” 2009 thất bại là dĩ nhiên, không những đồng bào DFW tẩy chay, mà còn bị 500 đồng hương biểu tình ngay trước của hý viện trong ngày trình diễn. Một nguyên nhân thất bại khác là cầm đầu “nhóm văn công quốc nội DUYÊN DÁNG – hay DƠ DÁY – VN” bởi tên văn công lấc cấc Đàm Vĩnh Hưng, tên nầy cũng như những tên “xướng ca vô loài” khác từ quốc nội chạy ra ngoài kiếm ăn từ đồng bào hải ngoại, nhưng bản chất chỉ là tay sai hạng cá kèo cho bọn thổ phỉ bạo quyền Việt cộng.

 

3- Sự kiện thứ ba, có vẻ “nổi đình nổi đám” hơn cả, được báo chÍ truyền thông hải ngoại bàn tán nhiều hơn cả chính là cái-gọi-là “Hội nghị Việt kiều toàn thế giới lần thứ nhất” với chi phí mười triệu đô la (???).

 

“Đừng nghe những gì Việt cộng nói, mà hãy nhìn kỹ những gì Việt cộng làm !” Cứ áp dụng câu nói nổi tiếng nầy của cố tổng thống Nguyễn Văn Thiệu thì ra ngay kết quả “đầu voi đuôi chuột.”

   

Chúng ta thử lược xét từng điểm một:

 

a)    Mục đích hội nghị “Việt kiều” là gì ? Lâu nay tại một nước mà “ngày xưa ra đường thì gặp… liệt sĩ, ngày nay ra ngõ gặp … tiến sĩ” (chứ không phải gặp …ăn mày vì ăn mày bị xúc đem đi dấu mất tiêu,) tiến sĩ cứ “lềnh khênh 3 trăm tàu chở đi không hết” nên “cha chung không ai khóc”, đất nước ngày càng tan hoang, các “tiến sĩ” từ cấp đầu gấu đến tiến sĩ cấp “chí mén” mạnh tên nào tên nấy chạy chức chạy quyền chạy tiền, lo thu vén cho đầy túi tham. Ở trong nước, dưới quyền sinh sát của bè lũ bạo quyền thổ phỉ, ai có tấm lòng thương dân thương nước, lên tiếng nếu không tù thì tội: Thích Quảng Độ, Nguyễn Văn Lý, Lê thị Công Nhân, Nguyễn Văn Đài, Nguyễn Đan Quế, … cấm phản biện công khai: Nguyễn Quang A và nhóm IDS …

 

b)    Thành phần tham dự: Đối với cái “đám phản động lưu vong bên ngoài”, thì đám cò mồi, nằm vùng, trí thức ăn cám xú, việt gian, chỉ lo xun xoe lấy điểm cho dễ bề kiếm ăn và kiếm bằng khen chứ thực tâm làm không nên việc, dù NQ 36 đã được “phát động” từ hơn 5 năm nay vẫn không ăn thua. Thôi thì “trên” trực tiếp chỉ đạo cho “đám quan chức đại sứ quán ăn hại đái nát” ở nước ngoài thực thi vậy. Nhưng lấy đâu ra người làm “đại biểu Việt kiều” ? Khó gì đâu ! Bí mật mời khắp nơi, dụ khị khắp chốn, vẫn không ăn thua, “ta” bèn xì lá bài tẩy: chính bọn quan chức đại sứ quán, bọn dân đen “xuất khẩu lao động” và du học các nước Đông Âu, bọn con ông cháu du học các nước Tây phương, mà bọn này chính hiệu Việt kiều: Mang quốc tịch CHXHCNVN, “hộ chiếu” (Passport) VN, được các đại sứ quán CHXHCNVN “bảo hộ” (khống chế) 100%.

 

Thế là dư ăn, cứ tuyên truyền quảng cáo cho rầm rộ, mạnh miệng, ai biết đó là đâu ? Lại còn có cái lợi là làm xáo trộn, phân hóa “đám phản động lưu vong thù nghịch nước ngoài” càng “tốt thôi !” Cứ thế mà thi hành khẩu hiệu, dán nhãn hiệu “đại biểu Việt kiều có lòng đóng góp với tổ quốc” cho những con chốt. Cứ quảng cáo rầm rộ, bôi son trét phấn cho nhiều nhiều vào là tốt. Một vị lớn tuổi đã phán một câu thật chính xác: “Vô ra cũng “thằng cha” khi nảy, sàng sảy cũng “con mẹ” lúc xưa ! Bố khỉ ! Chúng nó với nhau chứ có ai lọt vô đâu ! Bọn việt cộng chịu khó làm trò hề ruồi bu thật !”

 

Thì đã nói “Mục đích chính yếu của đảng ta” chỉ cốt là “trò hề bịp bợm thôi mà !” đánh lừa bọn nhẹ dạ ngoại quốc và gieo nghi kỵ, phân hóa đám “lưu vong phản động thù nghịch nước ngoài”. Thành phần tham dự, như vừa trình bày trên, không một người dân sở tại gốc Việt nào chịu làm “đại biểu Việt kiều” cả, có ai vô phúc nhận được giấy mời thổ tả cũng dãy nảy như “đĩa phải vôi”, từ chối ngay lập tức (đâu có ai muốn thân bại danh liệt một cách vô duyên ?) Thành ra “đại biểu Việt kiều khắp thế giới” chỉ là đám người đã được chỉ mặt đặt tên trên đây, nhưng cũng có cái lợi là tạo nghi kỵ, gây phân hóa, xáo trộn phần nào CĐNVHN: truyền thông báo chỉ bàn tán xôn xao, người dân thì lo âu la hoảng. Chỉ những người biết chuyện, biết tẩy xất, biết Việt cộng chuyên bầy trò hề rẻ tiền thì cứ “tỉnh như ruồi”.

 

c)    Kết quả “Hội nghị Việt kiều trên thế giới lần thứ nhất” đối với “đảng ta thì thành công rực rỡ” (có cái quái gì mà không “thành công rực rỡ” đâu !) Trên thực tế, đối với CĐNVHN, và ngay cả trong thâm tâm của từng tên trong đám đầu gấu thổ phỉ mọi cấp, đây cũng chỉ là trò hề (như thường lệ,) vừa diễn xong trên sân khấu “để có cái mà báo cáo công tác tốt” chứ sự đời cái gì giả ra giả mà thật ra thật, không thể nào có chuyện “lộng giả thành chân”, chuyện bịp, kết quả bịp chỉ dùng cho mục đích bịp mà thôi.

 

d)    Chi phí 10 triệu: Vẫn phóng đại quá lố như lệ thường. Nhưng dù sao, nhiều ít gì thì cũng là cơ hội cho “cha con nhà nó” thu vén bỏ túi ít nhiều. Ba, bốn bên, năm bảy bè đều có lợi tuốt luốt. Người dân hải ngoại thì vô can, chả thiệt thòi đồng xu cắc bạc, “cha con nhà tủn” được dịp du hí không tốn tiền, đám tổ chức có tí tiền “dúi mẹ đĩ”. Đảng ta và “đám Việt kiều dổm” mặc áo thụng vái nhau lia chia. Chỉ có người dân trong nước là lãnh đủ mọi thiệt thòi.

 

Tóm tắt: Trò bịp đánh lừa người nhẹ dạ với kết quả đầu voi đuôi chuột. Vui thiệt !

 

Nhân đây em cũng xin gởi đến anh chị, đặc biệt là qúy anh chị trong nước 2 số báo Tự Do Ngôn Luận số 87 & 88, góp phần phá vở “bức tường bưng bít thông tin của bè lũ cộng phỉ”. Em chỉ mong mỏi một điều là anh chị sẽ chuyển cho nhiều người khác, càng nhiều càng tốt. Khi người dân hiểu được chuyện gì đang xẩy ra tại quê nhà, và trên thế giới, và thấy rằng “không thể nằm trong nhà há miệng chờ sung rụng” mà “mình phải giúp mình trước thì trời mới giúp mình sau” thì hy vọng về một ngày tàn cộng sản sẽ bừng lên.

 

 

Thân mến chào anh chị.

 

NGUYỄN THÙY DUNG

http://www.vietnamngaymai.wordpress.com

5 chủ hàng nước treo biểu ngữ “Hoàng Sa-Trường Sa Việt Nam” bị an ninh triệu tập,đe dọa

Yêu nước cũng ăn đòn,đi tù,mất tài sản.5 chủ hàng nước treo biểu ngữ “Hoàng Sa-Trường Sa Việt Nam” bị an ninh triệu tập,đe dọa,…

Yesterday, December 01, 2009, 2:19:27 AM | tumasic@gmail.com (Blogger Tumasic)Go to full article

TUMASIC.TK-Sáng ngày 27/11/2009,một nhóm người được nhận diện bởi nhóm Phóng viên DCNQ gồm nhân viên an ninh các cấp từ Bộ, Thành phố, Quận Hai Bà Trưng và công an phường Bách khoa đã đến đánh đập các chủ quán cóc bên đường Tạ Quang Bửu, đối diện hiệu sách Minh Châu (Hà Nội) đồng thời cướp đi một số tài sản có giá trị của những người này.

Lý do của vụ bắt bờ này là vì từ ngày 9/11 cả 2 quán bán chè chén này đã chăng khẩu hiệu “Hoàng sa, Trường sa là của Việt Nam” tại đây và không chịu dỡ bỏ. An ninh đã thu tại đây 2 khẩu hiệu được cuộn lại , treo trên tường và để khi mưa nắng thì chăng ra.

Trong bài viết (ảnh) trên này cũng có nhắc tới việc chính quyền Hà Nội đàn áp, bắt bớ và kết án các công dân biểu tình trước đại sứ quán Trung Quốc tại Hà Nội tháng 12/2008 với khẩu hiệu “Hoàng Sa- Trường Sa là của Việt Nam”, đặc biệt là blogger Điếu Cày (tên thật là Hải). Tôi không hiểu vì sao người công dân cứ hô khẩu hiệu “Hoàng Sa – Trường Sa là của Việt Nam” thì sẽ gặp phiền hà rắc rối với các cơ quan an ninh Việt Nam.

Không lẽ, chính quyền Việt Nam muốn khẳng định “Hoàng Sa – Trường Sa không thuộc chủ quyền của Việt Nam” (?!!!) nên ra tay đàn áp tất cả những ai nói hai quần đảo này thuộc chủ quyền của Việt Nam.

Những người bị bắt gồm ông Võ Đức Toàn- 40 tuổi, bà Trương Thị Lan – 33 tuổi, Bà Nguyễn Thị Thêm – 65 tuổi, ông Trương văn Phòng- 30 tuổi, ông Trương văn Thành- 32 tuổi. Toàn bộ số người dân trên bị bắt giữ tại công an phường Bách khoa đến 24h đêm ngày 27/11 mới được thả ra về nhà và sẽ phải liên tục bị triệu tập , an ninh đe doạ sẽ bắt đi tù nhiều năm. Phó đồn công an Bách khoa tên là Vân đe doạ, thề độc sẽ bắt đi tù cho bằng được, nếu không bắt được thì chính y sẽ mút d… cho con trai những người bị bắt. Toàn bộ tài sản của hai quán bán nước bị tịch thu hết bao gồm bàn ghế, chén bát, xe đẩy, hàng hoá…trị giá gần 5 triệu đồng.

Ông Trương Văn Phòng bị an ninh đánh đập dã man khi đem tấm bạt có khẩu hiệu về công an phường. Bà Nguyễn Thị Thêm bị an ninh ập đến nơi thuê trọ tại phường Phương Mai khám nhà và bắt chủ nhà trọ đuổi ngay bà Thêm ra khỏi nhà, hiện bà Thêm không nơi ở phải đi nhờ bà con mỗi người một tối. Gia đình ông Võ Đức Toàn bị hàng chục an ninh xông vào lục soát và lấy đi nhiều hiện vật. Ông Võ Đức Toàn tự nhận một mình là người đã cắt giấy, sơn phun…làm ra 2 tấm khẩu hiệu nêu trên , có chữ “ Hoàng sa, Trường sa là của Việt nam”. Ông Toàn, bà Lan có 2 con còn nhỏ , cháu gái 6 tuổi, cháu trai 3 tuổi, hiện gia đình ông bị đuổi không cho bán chè chén, không có việc làm lại bị tịch thu hết tài sản, cuộc sông rất khó khăn và có nguy cơ đi tù dài hạn chỉ vì bày tỏ lòng yêu nước.

Lời đe dọa, thề độc của ông Vân ở trên có ý gì? Bằng mọi giá, ông ta sẽ “nhấn chìm” lòng yêu nước của những công dân yếu đuối kia sao? Quyền lực nào giúp đỡ ông ta?

Lòng yêu nước sẽ bị chính đồng bào mình vùi dập tàn nhẫn như vậy sao?Lòng yêu nước bị chính quyền phản đối kịch liệt thế sao? Tôi không thể hiểu nổi. Và tôi thật sự run sợ về việc này.

SỰ THẤT BẠI CỦA CÁI GỌI LÀ HỘI NGHỊ “VIỆT KIỀU”!!!

Thành quả của Hội nghị Việt kiều?

Đỗ Hiếu, phóng viên RFA

2009-11-23

Hội nghị “Người Việt nước ngoài toàn thế giới” lần đâu tiên vừa kết thúc hôm nay tại Hà Nội. Sau ba ngày hội họp, Hội nghị này được đánh giá ra sao?

AFP PHOTO/Hoang Dinh Nam

Chủ tịch VN Nguyễn Minh Triết (giữa) trong cuộc gặp gỡ với Việt Kiều ở California hôm 9-2-2007.

Các cơ quan  báo chí, truyền thông trong nước đã đăng liên tục tin tức, hình ảnh về sinh hoạt được xem là “lớn nhất” từ xưa nay, với gần “1000 đại biểu kiều bào, từ gần 55  quốc gia và vùng lãnh thổ tề tựu về quê hương, để bàn chuyện xây dựng đất nước”.

Nội dung

Phát biểu trước hàng ngàn tham dự viên tại trung tâm hội nghị quốc gia Mỹ Đình, Hà Nội, Chủ tịch Nguyễn Minh Triết tuyên bố, đây là cơ hội, là diễn đàn rộng rãi để lãnh đạo đảng, nhà nước và chánh phủ trực tiếp lắng nghe ý kiến đóng góp, xây dựng của kiều bào hải ngoại.

Ông Triết  cho rằng,  hội nghị đầu tiên này có ý nghĩa đặc biệt, ông kêu gọi các đại biểu nói thẳng, nói thật những điều mà họ còn trăn trở, ưu tư, và cần được trình bày trong tinh thần xây dựng, cùng hướng về một đất nước Việt Nam phát triển và thịnh vượng.

Theo chương trình, trong thời gian hội họp, các đại biểu hướng trọng tâm vào bốn lãnh vực chính, với trên 30 đề tài tham luận là: “Giữ gìn, phát huy bản sắc văn hóa và truyền thống dân tộc trong cộng đồng Người Việt ở hải ngoại. Xây dựng cộng đồng người Việt ở nước ngoài đoàn kết vững mạnh, thành đạt, và hướng về đất nước. Chuyên gia trí thức kiều bào góp phần vào công cuộc xây dựng đất nước. Doanh nhân kiều bào đóng góp vào sự nghiệp chấn hưng xứ sở”.

Tinh thần chung của chiến lược phát triển Việt Nam là kết nối với người Việt nước ngoài như là một cái bộ phận của Việt Nam. Nhằm mục tiêu huy động sức mạnh của bà con Việt kiều ở nước ngoài, giúp đất nước. Cái thứ 2 là thông qua bà con để Việt Nam kết thông với thế giới.

GSTS Trần Đình Thiên

Theo ban tổ chức thì thành phần tham dự hội nghị gồm có 68 đại diện hội đoàn, số đại biểu nữ là 231 người, phía nam là 669, số trí thức là 188 người, doanh nhân có 428. Đại biểu trẻ nhất 24 tuổi ở Đức, người cao niên nhất 90 tuổi từ Pháp. Các nước có đông đại biểu nhất là Mỹ, 100 người, Thái Lan 90 người, Pháp 85 và Đức 70.

Trong câu chuyện với phóng viên Ban Việt Ngữ, GSTS Trần Đình Thiên, Vụ trưởng Vụ Kinh tế Việt Nam, xem hội nghị là một thành công bước đầu,  trong việc kêu gọi kiều bào định cư toàn thế giới chung sức, góp phần xây dựng đất nước:

“Chủ trương thì nằm trong tinh thần hội nhập chung của chiến lược phát triển của Việt Nam, kết nối với người Việt nước ngoài như là một cái bộ phận của Việt Nam. Nó nhằm mục tiêu huy động sức mạnh của bà con Việt kiều ở nước ngoài, giúp đất nước. Cái thứ 2 là thông qua bà con để Việt Nam kết thông với thế giới, tôi cho đó là một chủ trương rất đúng đắng. Đây là dấu móc quan trọng để thực hiện cho được mục tiêu ấy.”

Ông Thiên tán thành những chuyên đề mà hội nghị tập trung bàn thảo trong suốt  mấy ngày sinh hoạt:

“Đồng ý với ba cái điểm ấy, rất là quan trọng, và tôi cũng muốn nhấn mạnh thêm rằng, bà con Việt Nam ở nước ngoài, còn là điểm nối của Việt Nam với thế giới, nó tạo ra cái sự lan tỏa và cũng là cái lực lượng để kéo thế giới đến với Việt Nam, chứ không phải là sức mạnh nội tại của bà con Việt Nam ở nước ngoài, đó là cái điểm mà tôi cho rằng cần được nhấn mạnh thêm.

Trong cái điều kiện hội nhập này, đây là cơ hội rất tốt để cho cộng đồng người Việt trong nước phát huy được sức mạnh của mình,  với  cái công cuộc xây dựng đất nước tại chính đất nước mà họ (người Việt hải ngoại) đang cư trú.”

Ý nghĩa

Hội nghị kiều bào lần đầu tiên được tổ chức tại Hà Nội có tạo được một số thành quả như nhà nước khẳng định qua báo đài hay không, ông Lê Hồng Hà, nguyên Chánh văn phòng, Vụ trưởng Vụ Tổng hợp thuộc Bộ Công an nhấn mạnh:

“Tôi chưa có hy vọng gì lớn vào cái tác dụng mà hội nghị kiều bào nước ngoài mang lại, theo như cái tinh thần mà người ta muốn rằng đây là hội nghị Diên Hồng, tôi chưa có hy vọng hay vui mừng gì vào cái điểm ấy cả, tôi hơi buồn, vì nếu cái đất nước Việt Nam này mà chưa thay đổi cái tên “Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam”, thành nước “Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa”, bắt người ta là phải yêu cái tổ quốc Xã Hội Chủ Nghĩa, thì cái điểm ấy, theo tôi, hoàn toàn không thể đạt được.

Tôi chưa có hy vọng gì lớn vào cái tác dụng mà hội nghị kiều bào nước ngoài mang lại, theo như cái tinh thần mà người ta muốn rằng đây là hội nghị Diên Hồng, tôi chưa có hy vọng hay vui mừng gì vào cái điểm ấy cả.

Ô. Lê Hồng Hà

Một sự tranh thủ đối với người Việt ở nước ngoài, mà họ  chỉ có thể yêu đất nước của nhân dân Việt Nam, chứ còn bắt họ phải yêu Xã Hội Chủ Nghĩa thì làm sao người ta đồng tình được”.

Theo ông thì việc so sánh sinh hoạt này như “Hội Nghị Diên Hồng” đời nay, do một vài tờ báo và cơ quan truyền thông nhà nước nói đến, chắc chắn là không đúng với hoàn cảnh toàn dân quyết đứng lên ngăn chống kẻ thù phương Bắc, trong lịch sử đánh đuổi giặc  ngoại xâm của Việt Nam:

“Ý của người ta là phải tranh thủ Việt kiều, phải hoan nghênh, tham gia xây dựng đất nước Việt Nam, mà theo tinh thần di chúc của ông Hồ,  thì người Việt ở nước ngoài không thể chấp nhận được.

Cái đó là do các ông ấy tự phong thôi, nếu mà là Hội nghị Diên Hồng nhé, tôi muốn nói trên hai gốc độ, thứ nhất là phải bảo vệ đất nước chống Bắc thuộc, chống nguy cơ Bắc thuộc, thì cái hội nghị này, trong nội dung không thấy đề ra cái yêu cầu ấy.

Tôi chỉ theo dõi thấy về việc ủy ban biên giới gì đó, báo cáo về vấn đề biển, đảo, đáng lẽ ra yêu cầu của hội nghị này là phải khuyến khích, phải hiệu triệu, động viên người Việt ở nước ngoài, góp phần vào bảo vệ độc lập, chủ quyền, chống nguy cơ bị Bắc thuộc hiện nay thì, tôi thấy ý kiến đó không rõ.

Muốn người Việt góp phần mình để xây dựng đất nước, tôi thấy có vấn đề khác, đây là nước Việt Nam yêu dấu của người Việt nói chung, và trong ấy có người Việt nước ngoài, vì người Việt nước ngoài không thể có nhiệt tâm tham gia xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước Việt Nam được”.  

Theo ủy ban Nhà nước về người Việt ở nước ngoài thì, hiện có trên dưới 4 triệu người Việt sinh sống tại 101 quốc gia và vùng lãnh thổ, trong số này có 300 ngàn người có trình độ đại học trở lên. Hàng năm có 500 ngàn lượt kiều bào về thăm Việt Nam, góp phần vào các công việc đầu tư, kinh doanh, văn hóa, nghệ thuật,  khoa học, kỹ thuật, từ thiện, nhân đạo.

Hiện có gần 3000 dự án kiều bào về nước đầu tư, trị giá 2 tỷ đô la . Năm rồi kiều hối do người Việt xa xứ gởi về giúp thân nhân, đã  lên tới gần 7 tỷ rưỡi đô la.

(Đỗ Hiếu RFA, Bangkok, Thailand.)

 

Copyright © 1998-2009 Radio Free Asia. All rights reserved.

Hội Ái hữu Y Khoa Huế Hải ngoại khẳng định lập trường

Hội Ái Hữu Đại Học Y Khoa Huế Hải Ngoại

 Ban Chấp Hành   

 Kính gởi quý thầy cô, quý anh chị em Y Khoa Huế ,   

 

 Trong mấy ngày vừa qua, trên diễn đàn ykhoahue/yahoogroup đã có những bàn cãi sôi nổi, đôi khi phẫn nộ, về sự kiện GS Bùi Duy Tâm chính thức tiếp phó thủ tướng Việt Nam Cộng Sản và phái đoàn tại tư gia, được báo chí đăng tải.  Tuy Hội Ái Hữu Đại Học Y Khoa Huế Hải Ngoại (Hội Ái Hữu ĐHYKHHN) vẫn ghi nhận công lao của GS Bùi Duy Tâm đối với Y Khoa Huế trong quá khứ, nhưng trước sự việc trên của GS đã đi ngược lại lập trường và tôn chỉ của Hội; Ban Chấp Hành Hội Ái Hữu ĐHYKHHN thấy cần khẳng định lập trường của Hội như sau:

  1. Hội Ái Hữu ĐHYKHHN gồm những thành viên đã và đang là người tỵ nạn Cộng Sản. Bởi vậy, tuy nội quy Hội quy định không hoạt động chính trị, Hội Ái Hữu ĐHYKHHN vẫn có lập trường và thái độ chính trị dứt khoát: Không Chấp Nhận Chế Độ Cộng Sản. 

  1. Chúng ta đứng cùng cộng đồng người Việt quốc gia tại hải ngoại. Hội Ái Hữu ĐHYKHNH không giao tiếp, liên hệ với chính phủ Việt Nam Cộng Sản.  

  1. Hội Ái Hữu ĐHYKHNH do đó không chấp nhận bất kỳ thành viên nào có những hoạt động chính trị công khai ủng hộ chế độ Cộng Sản. Hội Ái Hữu ĐHYKHHN xem những thành viên nào có những hoạt động như trên là đã mặc nhiên từ bỏ cương vị thành viên của mình, và chấm dứt mọi sinh hoạt và liên hệ với Hội.

  California, 27 tháng 11 năm 2009

T.M Ban Chấp Hành Hội Ái Hữu ĐHYKHHN.

Chủ Tịch  

 Lại Đức Thuần

 

Ngoài ra BCH cũng xác định, YKH groupmail không phải là một diễn đàn chính thức của Hội. Hội xem YKH groupmail tạm thời là một nơi liên lạc, thông tin, thảo luận của các thành viên YKH. Tuy nhiên, để giúp moderator Hồ Đăng Thuận điều hợp hoạt động của diễn đàn được tốt hơn, tránh được những đáng tiếc trong tranh luận có thể làm tổn thương hòa khí và sự đoàn kết giữa các thành viên. 

BCH hội đề nghị một vài điểm.

1. BCH thay mặt moderator mời một số quý thày cô và anh chị em họi viên làm có vấn cho moderator.

 2. Diễn đàn YKH là nơi các hôi viên liên lac với nhau trong tình anh em.

3. Diễn đàn YKH tuy khong phải là diễn đàn chinh trị, hội viên có thể bày tỏ thái độ chính trị trong chiều hướng vận động dân chủ hóa Việtn nam. Không chấp nhận những bài có tính cách tuyên truyền cho chế độ cộng sản Việt nam.

4. Hôi viên có thể bàn cãi thảo luận mọi đề tài trong tinh thần kính trọng người đối thoại. Khong chấp nhận những bài phỉ báng, thiếu lễ độ đối với thầy cô, đồng môn và đồng nghiệp.

5. Hội cũng như diễn đàn YKH không chiu trach nhiệm về những bài họi viên phổ biến trên diễn đàn YKH .  

 Lại Đức Thuần

TỰ DO NGÔN LUẬN SỐ 88 (1-12-09)

TỰ DO NGÔN LUẬN SỐ 88 (1-12-09)

 

          ***

Trg 01 8 Xô dân vào nơi khốn. Đẩy nước đến chốn nguy!!!

Trg 03 8 Quyết nghị về VN-Lên án VN đàn áp quyền tự do…

                   -ĐH Văn bút Quốc tế kỳ 75

Trg 05 8              Người Việt tự do và Thân hữu quốc tế lên tiếng về    bệnh tình của Lm N. V. Lý

Trg 06 8 Quốc hội Âu châu ra Nghị quyết lên án Hà Nội….

                   -Phòng Thông tin PGQT

Trg 08 8 Chứng từ của cố Giám mục Phaolô Lê Đắc Trọng

                   -Trần Phong Vũ

Trg 11 8 Chùa Thầy của Giáo hội Hòa Hảo sắp bị đập phá.

                   -Lê Minh Triết

Trg 12 8Kiến nghị với QH: Không tổ chức Dân quân tự vệ biển

                   -Cù Huy Hà Vũ

Trg 14 8 Chiến lược hồn nhiên!

                   -Đinh Tấn Lực

Trg 19 8 10 phương pháp không cần điện nhạt nhân mà vẫn giúp…

                   -Phùng Liên Đoàn

Trg 22 8 Nhà nước của dân hay của quan?

                   -Hà Thạch

Trg 23 8 Việt gian Việt cộng Việt                 kiều-Phạm điều cấm kỵ (thơ)

                   -Cọp Taberd+Hồ Công Tâm Trg 24 8      Đảng CSVN, một tổ chức ăn bám lưu manh nhất thế giới

                   -Trần Nhu

Trg 25 8 Đảng chập chờn, chế độ                 chập chờn.

                   -Ngô Nhân Dụng

Trg 27 8 Hà Nội tiếp tục lội ngược              dòng toàn cầu hóa

                   -Trung Điền

Trg 28 8 Không thể xuyên tạc yêu                nước thành “diễn biến hòa…

                   -Thương Phong

Trg 29 8 Khiếp nhược: nhục và hèn             -Nguyễn Phúc Bảo Ân

Trg 31 8 Giao biển cho ai? Thân phận ngư dân VN trên Biển.            -Trân Văn, RFA

DÂN QUÂN TỰ VỆ BIỂN : LÒ SÁT SINH NGƯ DÂN VIỆT NAM

 

Xô dân vào nơi khốn. Đẩy nước đến chốn nguy!!! 

 

                   Ngày 23-11-2009, bất chấp những phân tích hơn thiệt và sự phản đối kịch liệt của nhiều nhà trí thức trong lẫn ngoài nước, Quốc Hội CSVN đã thông qua Luật về dân quân, tự vệ. Theo luật mới này, người dân “phải tham gia dân quân tự vệ, các địa phương phải tổ chức lực lượng dân quân, các cơ quan phải tổ chức tự vệ để đóng góp cho nền quốc phòng toàn dân”. Theo báo Nhân Dân, dự thảo Luật được thông qua với tỷ lệ hơn 89% số đại biểu tán thành và sẽ có hiệu lực thi hành kể từ ngày 1-7-2010. Áp dụng cho tranh chấp trên biển, mỗi đội tàu cá sẽ có một tổ vừa đánh cá, vừa thi hành nhiệm vụ của dân quân tự vệ, được gọi là “Dân quân tự vệ biển”. Lực lượng mới này sẽ được trang bị súng ống và sẽ phối hợp với biên phòng, cảnh sát biển lẫn hải quân để bảo vệ ngư dân và bảo vệ chủ quyền lãnh thổ.

          Hai ngày sau, 25-11-09, cũng bất chấp sự thiếu hiểu biết chuyên môn của mình và lời cảnh báo của nhiều nhà khoa học lẫn kinh tế học đầy tâm huyết, các thành viên Quốc hội CSVN lại thông qua (với 77% phiếu tán đồng) Nghị quyết về điện hạt nhân (ĐHN). Nghị quyết này nêu rõ: sẽ tiến hành Dự án điện hạt nhân tại tỉnh Ninh Thuận, gồm 2 nhà máy tạo ra năng lượng nguyên tử để cung cấp điện cho hệ thống điện quốc gia cùng góp phần phát triển kinh tế xã hội cả nước và toàn tỉnh. Nhà máy số 1 đặt tại xã Phước Dinh, huyện Thuận Nam, nhà máy số 2 đặt tại xã Vĩnh Hải, huyện Ninh Hải, tỉnh Ninh Thuận, với công suất trên 4.000 MW. Tổng mức đầu tư dự toán khởi thủy là 12 tỷ mỹ kim. Nhà máy số 1 sẽ bắt đầu được xây dựng năm 2014, để tổ máy đầu tiên được vận hành vào năm 2020.     

          Đây là hai sự kiện đã gây xôn xao dư luận, nếu không muốn nói là gây lo âu, ngỡ ngàng, thất vọng và phẫn nộ cho cộng đồng người Việt trong lẫn ngoài nước. Tại sao ?

          1- Ngay từ khi còn là dự luật, “Dân quân tự vệ biển” đã bị rất nhiều người phản đối vì cho rằng đây là một đạo luật đẩy ngư dân vào chỗ khốn, buộc họ phải đối mặt với những nguy cơ chết người trên biển. Những đồng bào này, ngoài việc phải thường xuyên đối phó với sóng to gió lớn, thời tiết bất ngờ đổi thay, phải căng mắt vểnh tai để dò ra các luồng cá di chuyển, còn phải dáo dác nhìn quanh để phát hiện sự xuất hiện của “các tàu lạ” (nói theo kiểu nhà nước và báo chí CS) hòng chạy trốn cho kịp. Nay lại buộc mang thêm cây súng với khả năng “tay ngang, không chuyên nghiệp”, làm sao họ chống trả được với những lực lượng nhỏ như cướp biển, nói gì đến những tầu chiến được trang bị tối tân của Trung Cộng đang tung hoành trên khắp Biển Đông? Không vũ khí thì còn hy vọng sống sót, chứ nếu bị phát hiện có súng ống khí tài, thì cầm chắc là họ sẽ bị tiêu diệt.

          Một trong những người có ý kiến tiêu biểu về vấn đề này là tiến sĩ luật Cù Huy Hà Vũ. Trong Kiến nghị khẩn cấp gởi Quốc hội ngày 19-11-2009, ông đã cho rằng lập Dân quân Tự vệ biển là một sai lầm chiến lược với những lý do như sau: 1- Bảo vệ tính mạng của nhân dân là nghĩa vụ của Nhà nước, nay trang bị vũ khí cho ngư dân để họ tự vệ trong trường hợp bị nước ngoài tấn công trên biển là Nhà nước thoái thác nghĩa vụ này. 2- Thành lập Dân quân Tự vệ nói chung, Dân quân Tự vệ biển nói riêng là vượt quá Hiến pháp điều 77 vốn quy định “công dân phải làm nghĩa vụ quân sự và tham gia xây dựng quốc phòng toàn dân” giữa thời bình trong tổ chức duy nhất là quân đội. 3- Khẳng định và bảo vệ chủ quyền quốc gia trên biển không phải là chức năng của ngư dân. Người dân đi biển là để mưu sinh còn khẳng định hay bảo vệ chủ quyền tổ quốc trên biển là chức năng của Nhà nước và quân đội. 4- Dân quân Tự vệ biển rất dễ trở thành “ngòi nổ” cho chiến tranh xâm lược lãnh thổ Việt Nam. Bởi lẽ với tư cách lực lượng vũ trang không chuyên, thiếu phương tiện và sự chỉ huy thống nhất như lực lượng vũ trang chính quy, họ có thể bắn nhầm dân thường nước ngoài hoặc nổ súng không cần thiết khi bị khiêu khích, và như vậy tạo cớ cho ngoại quốc xâm lược. 5- Dân quân Tự vệ không thể là lực lượng tác chiến trên biển. Cuộc chiến trên biển khác hẳn cuộc chiến trên đất liền. Chỉ các vũ khí tối tân như phi cơ, tàu chiến, tên lửa mới có khả năng bảo vệ hải phận. Giao cho dân binh nhiệm vụ bảo vệ chủ quyền quốc gia trên biển không gì khác hơn là đẩy họ vào chỗ chết. 6- Lập Dân quân Tự vệ biển để bảo vệ sinh mạng của ngư dân, bảo vệ chủ quyền quốc gia trên biển là làm mất uy tín của quân đội, là cổ võ thường dân xông vào cửa tử thay cho binh lính.

          Trên thực tế, điều này không phải không có cơ sở. Kể từ vụ ngư dân Thanh Hóa bị lính Trung Cộng bắn chết tháng 1-2005 đến vụ ngư dân Quảng Ngãi bị lính Trung Cộng cướp bóc tháng 9 mới rồi, đồng bào hành nghề trên biển luôn bị nhà cầm quyền, tàu cứu hộ và lực lượng hải quân CSVN bỏ mặc. Trong cuộc phỏng vấn của đài Á châu Tự do ngày 03-11-2009, hai ngư dân đã chua chát cho biết: “Trong những trường hợp “tàu lạ” đâm chìm tàu đánh cá, tàu hàng của mình (như hôm 19-05-2009), thì tàu hải quân Việt Nam lẫn tàu cảnh sát biển đều không có… Chúng tôi phải gọi ngư dân cùng quê làm ở gần đó tới cứu và sau đó chúng tôi phải thuê một cái ghe chở 26 lao động vào trong đất liền”. Còn trong cơn bão số 1 năm 2008, “anh em cũng chìm, cũng chết, nhưng tàu cứu nạn, cứu hộ chỉ chạy ra đứng chờ mình đi kiếm. Mấy ông tỉnh điện thoại, biểu mình cố gắng đi kiếm người rồi nhà nước cho dầu mỡ.  Kiếm rồi hết bao nhiêu dầu mỡ thì về họ cho lại”…

          Thành ra, Dân quân tự vệ biển chỉ là một mưu đồ của Việt Cộng nhằm tránh đụng độ trực tiếp với đàn anh Trung Cộng trên biển. Ngoài ra, còn phải thêm rằng việc buộc người dân “phải tham gia dân quân tự vệ, các địa phương phải tổ chức lực lượng dân quân, các cơ quan phải tổ chức tự vệ để đóng góp cho nền quốc phòng toàn dân” ngay giữa thời bình như thế này chỉ là cách đảng CS muốn có thêm một biện pháp để kiểm soát xã hội cho chặt chẽ hơn, trong tình thế nhân dân đang chực nổi loạn để lật đổ cái chế độ xấu xa, thối nát và tàn bạo này!

2- Dự án điện hạt nhân cũng là một vấn đề gây lo âu và công phẫn trong dư luận. Nhiều nhà khoa học, nhà kinh tế đã mạnh mẽ cảnh báo về chuyện này. Nổi bật nhất trong số đó là ông Phùng Liên Đoàn, một chuyên gia thượng thặng người Việt về điện hạt nhân đang sống tại Mỹ. Ông cho biết: “Điện rất cần thiết cho phát triển kinh tế, nhưng việc sản xuất điện mất rất nhiều tiền và thời gian. Vì thế, khảo sát và đề xuất cách cung cấp điện cho tương lai là việc quan trọng. Tuy nhiên, việc đệ trình lên Quốc hội một đề án Điện hạt nhân lớn 8000 MW, trong khi Quốc hội có rất ít thì giờ [lẫn kiến thức! BBT] và người dân đủ mọi thành phần chưa có cơ hội hiểu biết và đóng góp, là một việc làm có rất nhiều rủi ro sai lầm dẫn đến phí phạm ngân sách quốc gia vốn đã rất eo hẹp. Mong muốn xây dựng nhà máy ĐHN để thành một “cường quốc” ĐHN là một việc duy ý chí không có cơ sở vững chắc. Tôi ở nước ngoài nghe nói vài năm trước ta có dự án lớn “điện toán hóa” các cơ quan giáo dục toàn quốc nhưng ngày nay tiền đã tiêu hết nhưng kết quả thì không như dự kiến. Chương trình có ĐHN to lớn để sánh vai với các nước giàu và công nghệ cao thì tốn kém hơn ngàn lần kinh nghiệm đó. Ta không thể tin ngay một số người đã có định kiến sẵn là ta “thừa sức làm” vì đó là duy ý chí. Quốc hội nên yêu cầu chính phủ nghiên cứu kỹ lưỡng hơn với điều kiện có sự phản biện của người dân, nhất là giới trí thức có am hiểu về khoa học, kinh tế, xã hội, và quốc phòng liên quan đến ĐHN và tương lai của đất nước”. Ông Đoàn cũng phân tích những rủi ro VN có thể gặp phải khi xây dựng loại nhà máy này: “Rủi ro thì nhiều lắm! Tôi chỉ tóm tắt thành 7 rủi ro phóng xạ và kỹ nghệ, 6 rủi ro kinh tế, và 2 rủi ro quốc phòng. Trong trường hợp VN, tôi nghĩ rủi ro lớn nhất là ta sẽ mắc nợ triền miên mà người dân lại không có điện theo như dự kiến. Việc này có xác suất khá cao… Ví dụ, khả năng ta hiểu chưa kỹ các lời chào bán của người bán hàng ĐHN là cao; khả năng ta suy tính sai vì duy ý chí là cao; khả năng ta làm sai vì thiếu hiểu biết là cao; khả năng ta có nhiều kiện tụng, như Phần Lan hiện nay, với các công ty ngoại quốc khi nhà máy đang xây là cao” (Bài hỏi đáp “10 phương pháp không cần điện hạt nhân mà vẫn giúp Việt Nam tăng thêm nội lực” đăng trên http://bauxitevietnam.info ngày 19-11-2009).

      Quả thế, đang khi ngân sách dự trữ quốc gia chỉ có 22 tỷ đôla (theo lời đại biểu Nguyễn Minh Thuyết), thì dự án hạt nhân trong giai đoạn đầu đã ngốn đến 12 tỷ, và có thể tăng lên gấp đôi chỉ sau vài năm (theo lời giáo sư Nguyễn Khắc Nhẫn tại Pháp). Rõ ràng đây là một nguy cơ kinh tế và một gánh nặng tài chánh kinh khủng cho đất nước. Phải chăng trong dự án phiêu lưu liều lĩnh này, Việt cộng đang có lời hứa hẹn bảo trợ của Trung cộng? Nếu thế thì lại thêm một sợi xích tròng vào cổ Tổ quốc (sau sợi xích 50 tỷ đôla cứu vãn nền tài chính mới đây của VN). Ngoài ra, nguy cơ về sinh thái (rò rỉ phóng xạ nguyên tử) không phải là nhỏ. Với thói vô trách nhiệm thâm căn cố đế thường thấy trong các chế độ CS và nơi những con người CS, một Tchernobyl thứ hai tại Việt Nam là điều rất có thể xảy ra, một khi các nhà máy ĐHN tại Ninh Thuận đi vào hoạt động. Lúc ấy thì quả là một tai họa khôn lường cho nhân dân và đất nước!

      Qua hai cuộc bỏ phiếu tán đồng nói trên (sau sự im lặng tán đồng việc Bộ Công thương lập “Ban Chỉ đạo thực hiện các dự án bôxit Tây Nguyên” hôm 30-10), Quốc hội lại một lần nữa tỏ ra là gia nô của đảng CSVN, bất chấp bao nguy cơ tiềm tàng cho Dân tộc. Mặt khác, hai sự kiện nói trên cũng cho thấy giữa Việt cộng và Trung cộng lại một lần thể hiện mối quan hệ chủ tớ, vốn đã bắt nguồn tự tư tưởng thần phục -khởi từ Hồ Chí Minh chuyển qua đồ đệ và đồng đảng- luôn coi Trung cộng là chỗ dựa vững chắc cho mình. Rõ ràng đảng CSVN đang đùa với vận mệnh dân tộc và tính mạng của nhân dân.              BAN BIÊN TẬP

 

Như chúng tôi đã đưa tin, Quyết nghị về Việt Nam đã được Hội đồng Đại biểu Văn bút Quốc tế họp Đại hội Thế giới kỳ thứ 75 tại thủ đô văn hóa Âu châu, thành phố Linz, nước Áo, đồng thanh biểu quyết chấp thuận (22-10-2009). Quyết nghị đã nhận được sự ủng hộ của 85 Trung tâm Văn bút (80 hiện diện và 5 ủy quyền). Đại hội Văn bút Quốc tế Linz 2009 là diễn đàn và tiếng nói của 200 người đại diện cho 15 ngàn nhà văn sinh hoạt trong 145 Trung tâm Văn bút có trụ sở trên hơn 100 nước và lãnh thổ. Qua Quyết nghị về Việt Nam, Hiệp hội các Nhà Văn thế giới một lần nữa cực lực tố cáo, lên án và phản kháng chế độ Cộng sản độc tài ở Việt Nam tiếp tục đàn áp những người cầm bút, nhà văn, nhà báo, những người tranh đấu để đòi hỏi Tự do, Dân chủ, bênh vực Nhân quyền, gồm có quyền căn bản hàng đầu là quyền tự do phát biểu quan điểm. Nạn nhân là những người không chịu khuất phục bạo quyền. Họ không muốn bị lừa dối hay mua chuộc để làm kẻ đồng lõa với tội ác áp chế bất công, tham ô nhũng lạm trên quê hương thân yêu của họ.

    Vì sao phải có Quyết nghị về Việt Nam ? Nhà thơ Nguyên Hoàng Bảo Việt đã trả lời chúng tôi:

    «Từ tháng 8-2008, nhà cầm quyền CS Việt Nam gia tăng đàn áp quyền tự do phát biểu quan điểm và tự do bày tỏ chính kiến bất đồng bằng cách áp dụng các điều khoản của Bộ luật Hình sự, trong đó đặc biệt là điều 88 “Tuyên truyền chống Nhà nước” và điều 258 “Lợi dụng các quyền tự do dân chủ để xâm hại lợi ích nhà nước”. Nhiều nhà tranh đấu cho Nhân quyền và Công bằng Xã hội bị sách nhiễu, đánh đập, bắt giữ, phạt tù nặng nề hoặc câu lưu kéo dài không xét xử, như trường hợp nhà báo độc lập Phạm Thanh Nghiên. Những hành vi phạm tội ác nghiêm trọng đó thuộc vào một chiến dịch trấn áp qui mô rộng lớn nhứt từ hơn hai mươi năm qua, đưa đến 9 bản án tù vô nhân đạo và phi pháp. Ba phiên tòa ở Hà Nội và Hải Phòng đã được tổ chức xét xử lấy lệ vì đảng CS Việt Nam đã lên án trước các nạn nhân. Thẩm phán của chế độ độc tài chỉ còn áp dụng quyết định của đảng mà thôi. Để trừng phạt các nhà văn, nhà thơ, nhà giáo, nhà dân chủ đối kháng bênh vực nhân quyền Nguyễn Xuân Nghĩa, Vũ Văn Hùng, Ngô Quỳnh, Phạm Văn Trội, Nguyễn Văn Túc, Trần Đức Thạch, Nguyễn Văn Tính, Nguyễn Kim Nhàn và Nguyễn Mạnh Sơn. Chưa hết, không thể quên trong tháng 5 và tháng 6 có một số người tranh đấu mới bị bắt, như các ông Trần Huỳnh Duy Thức, Lê Thăng Long, Lê Công Định, Nguyễn Tiến Trung, Trần Anh Kim, v.v… Ngoài ra, nhiều tác giả nhựt ký điện tử bị bắt giam ngắn hạn, dưới áp lực, đe dọa của công an, vì gia đình hoặc sự sống, phải tạm thời và miễn cưỡng không sử dụng quyền tự do phát biểu quan điểm của mình.

    Là một nhà thơ lưu vong, hội viên Văn bút Quốc tế, tôi ý thức rằng mình đang sống một thời kỳ mà ngôn ngữ và tác giả đang bị hiểm nguy lớn. Ngay tại Linz, Văn bút Quốc tế đã kết hợp chương trình làm việc của Đại hội với một Lễ hội Văn chương mang tên «Hãy giải thoát Ngôn ngữ !” mà buổi khai mạc có sự hiện diện của Tổng thống Cộng hòa Áo quốc cùng nhiều nhân vật tên tuổi cả trong lãnh vực văn hóa lẫn chính trị. Tôi hiểu rằng Văn bút Quốc tế không phải là một Hội Nhà văn “thuần túy” mà hội viên chỉ cần biết và chỉ chuyên chú viết văn làm thơ để ngâm vịnh thù tạc lẫn nhau (hoặc tôn vinh thần tượng lãnh tụ, ca tụng thành tích chế độ xã hội chủ nghĩa…theo kiểu báo ANTG/CAND muốn áp đặt). Vai trò chủ yếu và sự hiện hữu gần nửa thế kỷ qua của Ủy ban Văn bút Quốc tế Bênh vực Nhà Văn bị đàn áp và cầm tù (International PEN CODEP/WIPC) xác định điều ấy. Lý tưởng của Văn bút Quốc tế bao hàm sự yêu mến văn chương và quý trọng tác giả, đồng thời sự dấn thân, cam kết bảo vệ quyền tự do phát biểu quan điểm, sáng tạo và thông tin. Văn bút Quốc tế không những cổ võ, thúc đẩy và phát huy văn chương, mà còn bênh vực những người bị đàn áp vì hành sử quyền tự do vừa kể, nhứt là những người cầm bút, bất kỳ chế độ nào. Văn bút Quốc tế cũng góp phần xây dựng cuộc đối thoại giữa các nền văn hóa khác biệt, nơi nào có tranh chấp và bạo động. Văn bút Quốc tế còn bênh vực quyền Ngôn ngữ cho các dân tộc thiểu số. Trở lại Việt Nam, tôi hằng nhớ đến thân phận và cuộc tranh đấu gian lao, nhiều lúc rất cô đơn, trong bóng đêm lao hầm, ngục tù dầy đặc, của văn thi hữu, nhà báo, tu sĩ, luật sư, đồng nghiệp cùng đồng bào ở quê nhà. Họ chỉ có tấm lòng, ngòi bút và tiếng nói. Mà muốn có những quyền tự do phát biểu quan điểm, sáng tác, lập hội, tín ngưỡng, v.v.., họ biết không thể chỉ van xin thì được ! Động viên sự ủng hộ tinh thần và sự giúp đỡ cụ thể, thiết thực của văn hữu ngoại quốc, nhứt là Văn bút QT, hết sức cần thiết và khẩn cấp».

    Như vậy, Bảo vệ quyền tự do phát biểu quan điểm là mục đích và trọng tâm hoạt động đối với Văn bút Quốc tế, song hành với sự cổ võ, thúc đẩy và phát huy văn chương. Vì lẽ ấy, mối quan tâm hàng đầu của Hiệp hội Thế giới các Nhà Văn đã được thể hiện qua 11 Dự án Quyết nghị được Ủy ban Bênh vực Nhà Văn bị đàn áp và cầm tù duyệt xét và chuẩn y trong hai phiên họp kéo dài suốt hai ngày 19 và 20-10-2009 tại Đại hội. Được biết nhà thơ Nguyên Hoàng Bảo Việt đã thay mặt Trung tâm Văn bút Thụy Sĩ Pháp thoại tham gia các phiên họp vừa kể trên. Thi hữu làm việc trong Nhóm Công tác II “Trung Hoa, Việt Nam và Ba Tư”, bên cạnh hai Nhóm Công tác I “Mỹ Châu, Cuba và Erythrée” và Nhóm Công tác III “Nga, Thổ Nhĩ Kỳ và Géorgie”. Sau đó, tất cả 11 Dự án Quyết nghị đã được Hội đồng Đại biểu Văn bút Quốc tế đồng thanh công nhận và chính thức hóa trong một phiên họp khoáng đại. Các Quyết nghị tố cáo và lên án những vụ giam cầm độc đoán nhà văn, nhà báo, nhà bênh vực nhân quyền và dân chủ đối kháng, vì sử dụng quyền tự do phát biểu quan điểm và thông tin, nhứt là tại Trung Hoa, Cuba, Việt Nam, Ba Tư, Thổ Nhĩ Kỳ, Erythrée, Géorgie, Nga và Gui-née. Riêng Quyết nghị về Thụy Điển thì kêu gọi chính phủ Thụy Điển thu hồi quyết định từ chối quyền tị nạn cho nhà thơ và nhà phê bình văn học Anisur Rahman vì nếu văn hữu bị buộc trở về nước Bangladesh, tính mạng sẽ bị hiểm nguy. Trong Quyết nghị về Guinée, Văn bút Quốc tế lên án vụ quân đội đã dùng súng và lưỡi lê thảm sát hơn 150 người dân tham dự một cuộc biểu tình chính trị tại một sân vận động ở thủ đô Conakry và hành hung, dọa giết và bắt giữ các nhà báo muốn tường thuật biến cố đẩm máu đó. Trong Thông cáo báo chí sau Đại hội, Văn bút Quốc tế nhấn mạnh rằng : “Rất nhiều nhà văn và nhà báo bị giam cầm ở Việt Nam vì bị cáo buộc bởi những đạo luật được ban hành cốt để “tội phạm hóa” những người có can đảm phê bình, chỉ trích nhà cầm quyền. Những đạo luật đó còn qui định những bản án phạt lên đến 20 năm tù giam áp đặt bởi những phiên tòa xét xử thấy rõ ràng bất công. Các điều kiện giam cầm trong các trại tập trung lao công cưỡng bách thật tồi tệ. Tù nhân bị từ chối quyền được chăm sóc y tế cần thiết”. Và Văn bút Quốc tế thúc giục nhà cầm quyền Hà Nội bãi bỏ chế độ tổng kiểm duyệt độc đoán ở VN.

    11 Quyết nghị (QN) được thông qua tại Đại hội Thế giới Văn bút Quốc tế kỳ thứ 75 gồm có: 1- QN Bênh vực Quyền Tự do viết hoặc sáng tác tại các nước Mỹ Châu, 2- QN về Trung Hoa. 3- QN về Cuba. 4- QN về Erythrée. 5- QN về Géorgie. 6- QN về Guinée. 7- QN về Ba Tư. 8- QN về Nga. 9- QN về Thụy Điển. 10- QN về Thổ Nhĩ Kỳ. 11- QN về Việt Nam, do Trung tâm Văn bút Thụy Sĩ Pháp thoại đệ trình với sự tán trợ của hai Trung tâm Văn bút Thụy Sĩ Đức thoại và Văn bút Thụy Sĩ Ý thoại và Réto-romanche*.

    Genève ngày 19-11-2009

    LH Nhân quyền VN ở Thụy Sĩ.

    Sau đây là toàn văn Quyết nghị về Việt Nam đã được 85 Trung tâm Văn bút Quốc tế đồng thanh chấp thuận.

QUYẾT NGHỊ VỀ VIỆT NAM

do Trung tâm Văn bút Thụy Sĩ Pháp thoại đệ trình với sự tán trợ của Trung tâm Văn bút Thụy Sĩ Đức thoại và Trung tâm Văn bút Thụy Sĩ Ý thoại và Réto-romanche*.

Hội Đồng Đại Biểu của Văn bút Quốc tế họp Đại hội Thế Giới kỳ thứ 75 tại Linz, Cộng hòa Áo, từ ngày 19 đến 25-10-2009 :

 

    Quan ngại rằng, trong khi vi phạm Điều 19 Công ước Quốc tế của Liên Hợp Quốc về các Quyền Dân sự và Chính trị (PIDCP/ICCPR), Việt Nam (CHXHCN) tiếp tục đàn áp quyền tự do phát biểu quan điểm và tự do bày tỏ chính kiến bằng cách sử dụng các điều khoản của Bộ luật Hình sự, trong đó đặc biệt là Điều 88 “Tuyên truyền chống Nhà nước” với những án phạt lên tới 20 năm tù giam và Điều 258 “Lợi dụng các quyền tự do dân chủ để xâm hại lợi ích nhà nước” có án phạt lên tới 7 năm tù giam;

    Bất bình khi các tù nhân ngôn luận và lương tâm phải thụ án tại các trại lao công cưỡng bách có các điều kiện tồi tệ. Những tù nhân này thường bị biệt giam hoặc nhốt cùng với các tội phạm hình sự trong những phòng giam chật chội và kém vệ sinh. Một số người còn bị xâm hại về thể xác, bị hành hạ, bị mắc bệnh mãn tính và không có sự chăm sóc y tế thỏa đáng. Sau khi ra tù, những tù nhân này thường phải tiếp tục bị quản chế tại gia từ 1 đến 5 năm theo Điều 38 của Bộ luật Hình sự;

    Phiền trách rằng, trong dịp trình bày bản báo cáo Khảo sát Định kỳ Toàn cầu (EPU/UPR) tại Hội Đồng Nhân quyền vào tháng Năm 2009, Việt Nam (CHXHCN) đã từ chối nhiều Khuyến cáo từ các quốc gia khác, trong đó có việc kêu gọi bãi bỏ các điều luật mơ hồ về “an ninh quốc gia” trong Bộ luật Hình sự (Điều 38, 88 và 258) và Nghị định 44 cho phép việc giam người tại gia (quản chế hành chính) mà không cần xét xử và đưa những người bất đồng chính kiến vào bệnh viện tâm thần; có khuyến cáo thúc giục Việt Nam (CHXHCN) đảm bảo sự độc lập cho ngành truyền thông và mời các Đặc phái viên tới Việt Nam thường xuyên, đặc biệt các Đặc phái viên chuyên thị sát tình trạng tự do phát biểu quan điểm, tự do tôn giáo và nạn tra tấn;

    Sửng sốt và công phẫn về việc chính quyền đã thực hiện một chiến dịch đàn áp mở rộng vào tháng 8-9 năm 2008 và không ngừng sách nhiễu, hành hạ tàn nhẫn những người văn, nhà báo, luật sư, những người bảo vệ nhân quyền chỉ vì những người này đã thực hiện quyền được tự do phát biểu quan điểm;

    Lên án các thủ đoạn như quản chế tại gia, giam giữ kéo dài trước khi xử án, tuyên án tù nặng nề, xét xử không công bằng và thiếu các luật sư độc lập bào chữa cho bị cáo, cũng như không có mặt các quan sát viên độc lập. Những người có tên sau đây chỉ là một số điển hình trong những người bị bức hại:

- Hòa thượng Thích Quảng Độ (thế danh Đặng Phúc Tuệ), 81 tuổi, tu sĩ Phật giáo, nhà thơ, bị quản chế từ năm 2003.

- Linh mục Nguyễn Văn Lý, biên tập viên tờ báo Tự do Ngôn luận (không được thừa nhận hợp pháp), bị án 8 năm tù; ông Nguyễn Phong và ông Nguyễn Bình Thành, hai cộng tác viên, 6 và 5 năm tù.

- Luật sư nhân quyền Lê Thị Công Nhân và luật sư nhân quyền Nguyễn Văn Đài, hai nhà bất đồng chính kiến sử dụng Internet để đấu tranh, 3 và 4 năm tù. Tình trạng sức khỏe rất yếu.

- Phóng viên độc lập Lê Thị Kim Thu, nhà bất đồng chính kiến sử dụng Internet để đấu tranh, 18 tháng tù.

- Bác sĩ Lê Nguyên Sang, luật sư nhân quyền Nguyễn Bắc Truyển và luật sư nhân quyền Trần Quốc Hiền, ba nhà bất đồng chính kiến sử dụng Internet để đấu tranh, 4, 3, 5 năm tù.

- Ông Trương Quốc Huy và ông Phạm Bá Hải, hai nhà bất đồng chính kiến sử dụng Internet để đấu tranh, 6 và 5 năm tù.

- Nhà báo độc lập Trương Minh Đức và nhà báo độc lập Nguyễn Văn Hải (bút hiệu nhựt ký Internet Điếu Cày), 5 năm và 2 năm 6 tháng tù. Tình trạng sức khỏe rất yếu.

- Nhà báo độc lập Phạm Thanh Nghiên, nhà bất đồng chính kiến sử dụng Internet để đấu tranh, bị giam từ 17 tháng chín năm 2008. Tình trạng sức khỏe rất yếu.

- Nhà thơ Nguyễn Xuân Nghĩa, nhà văn bất đồng chính kiến sử dụng Internet để đấu tranh, 6 năm tù. Sức khỏe rất yếu.

- Nhà giáo Vũ Văn Hùng, nhà bảo vệ nhân quyền, 3 năm tù, bị tra tấn trong trại giam trước khi ra tòa. Sức khỏe rất yếu.

- Sinh viên Ngô Quỳnh, nhà văn Phạm Văn Trội, nhà thơ Nguyễn Văn Túc và nhà thơ Trần Đức Thạch, bốn nhà bất đồng chính kiến sử dụng Internet để đấu tranh, 3, 4, 4 và 3 năm tù.

- Nhà giáo Nguyễn Văn Tính, cộng tác viên của tờ báo Tổ Quốc (không được thừa nhận hợp pháp), 3 năm tù.

- Ông Nguyễn Kim Nhàn, nhà bất đồng chính kiến sử dụng Internet để đấu tranh và bảo vệ nhân quyền, 2 năm tù.

- Nhà thơ Nguyễn Mạnh Sơn, nhà bất đồng chính kiến sử dụng Internet để đấu tranh, 3 năm tù.

- Ông Trần Huỳnh Duy Thức, ông Lê Thăng Long, bà Trần Thị Thu và bà Lê Thị Thu Thu, bốn nhà bất đồng chính kiến sử dụng Internet để đấu tranh và bảo vệ nhân quyền, bị bắt giữ vào ngày 24 tháng năm và 4 tháng sáu năm 2009.

- Luật sư nhân quyền Lê Công Định, nhà bất đồng chính kiến sử dụng Internet để đấu tranh, bị bắt vào ngày 13 tháng sáu năm 2009.

- Ông Nguyễn Tiến Trung và ông Trần Anh Kim, hai nhà bất đồng chính kiến sử dụng Internet để đấu tranh, bị bắt vào ngày 7 tháng bảy năm 2009.

    Được báo động rằng một số luật sư nhân quyền đã bị gây áp lực (sách nhiễu, đe dọa) để buộc họ phải từ bỏ việc bào chữa cho những người bị ghép tội do đã phát biểu quan điểm bất đồng, trong khi nhiều luật sư nhân quyền đồng nghiệp khác vẫn còn trong tù hoặc đang bị giam giữ để điều tra.

    Kinh ngạc về sự kiểm duyệt nghiêm ngặt hệ thống truyền thông và Internet – biện pháp độc đoán đó đang ngăn cản xã hội hướng về sự phát huy các giá trị của một nền văn hóa vì hòa bình và nhân quyền, cản trở việc phát hiện tham nhũng và các bất công và gây khó khăn cho các cuộc tranh luận, phản biện về chính sách của nhà nước.

    Thúc giục và yêu cầu Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam:

    1. Trả tự do, ngay lập tức và vô điều kiện, tất cả những người, đặc biệt những nhà văn, nhà báo, luật sư, nhà bảo vệ nhân quyền có tên trên đây, hiện đang bị giam giữ hoặc quản chế tại gia chỉ vì đã sử dụng quyền tự do phát biểu quan điểm cách ôn hòa;

    2. Chấm dứt ngay tất cả các tấn công, sách nhiễu, đe dọa quản chế hay bắt giữ những người có các quan điểm bất đồng hoặc những người đòi hỏi tự do tôn giáo và tôn trọng nhân quyền;

    3. Bãi bỏ mọi hạn chế đối với các cựu tù nhân ngôn luận và lương tâm, kể cả những người đã phải chịu án tù chỉ vì đã thực hiện quyền tự do phát biểu quan điểm một cách ôn hòa;

    4. Cải thiện điều kiện nhà tù và các trại lao công cưỡng bách, kể cả việc chấm dứt các hành động xâm hại do các tội phạm hình sự gây ra và cho phép các tù nhân bị bệnh được điều trị tại bệnh viện, được hưởng sự chăm sóc y tế thỏa đáng và tạo thuận lợi cho thân nhân của họ tới thăm;

    5. Dừng ngay việc tổ chức các cuộc “đấu tố”(kiểm điểm trước dân), loại tòa án không phù hợp với tiêu chuẩn quốc tế đã được định rõ trong Điều 14 của PIDCP/ICCPR;

    6. Bãi bỏ mọi kiểm duyệt và đình chỉ mọi hạn chế đối với quyền tự do phát biểu quan điểm và ngôn luận, tự do báo chí, tự do sáng tạo và xuất bản, quyền được thông tin bằng mọi phương tiện, kể cả Internet và quyền tự do lập hội, tất cả những điều này đều phù hợp với các Điều 19, 21, 22 của PIDCP/ICCPR.

Xin vui lòng tiếp tay phổ biến bán nguyệt san này cho Đồng bào quốc nội

BẢN LÊN TIẾNG TRƯỚC BỆNH TÌNH KHẨN CẤP CỦA TÙ NHÂN LƯƠNG TÂM LINH MỤC NGUYỄN VĂN LÝ

    Linh mục Nguyễn Văn Lý vừa bị cơn tai biến mạch máu não trầm trọng ngày 14-11-2009 trong khi đang bị giam giữ tại trại tù Ba Sao, tỉnh Nam Hà, Bắc Việt Nam. Cơn đột quỵ khiến Lm Lý hiện bị bại liệt nửa thân mình, tuy tinh thần vẫn được tỉnh táo, sáng suốt, vững vàng.

Đây là lần thứ hai Lm Lý bị tai biến mạch máu não, cách lần đầu 4 tháng, xảy ra nhẹ hơn vào ngày 12-7-2009. Trong suốt thời gian này Lm Lý vẫn bị biệt giam, mặc dầu bị bệnh cao huyết áp nặng và không được chữa trị đúng mức.

    Linh mục Lý đã bị nhà cầm quyền cộng sản Việt Nam kết án 8 năm tù giam và 5 năm quản chế qua “phiên tòa bịt miệng” nổi tiếng ngày 30-3-2007. Tổng cộng hiện nay Tù nhân Lương tâm Linh mục Nguyễn Văn Lý đã ở tù hơn 17 năm, bị kết án 4 lần, tất cả chỉ vì ông đã liên tục tranh đấu bất bạo động cho quyền Tự do Tôn giáo và Dân chủ Nhân quyền cho toàn dân Việt Nam.

    Trước bệnh tình trầm trọng khẩn cấp rất đáng lo ngại của người tù lương tâm Linh mục Nguyễn Văn Lý, chúng tôi, đại diện một số tổ chức, hội đoàn của người Việt tỵ nạn cộng sản tại hải ngoại, long trọng lên tiếng:

      1- Đòi hỏi nhà cầm quyền cộng sản Việt Nam phải trả tự do tức khắc và vô điều kiện cho Linh mục Nguyễn Văn Lý, để ông được toàn quyền quyết định việc chữa trị cần thiết.

    2- Thỉnh cầu các chính phủ, quốc hội các quốc gia tự do và các tổ chức nhân quyền quốc tế tạo áp lực vận động cho Linh mục Nguyễn Văn Lý được trả tự do tức khắc, và được đối xử công bằng, nhân đạo theo đúng tiêu chuẩn nhân quyền quốc tế.

    Làm tại Little Saigon, Nam California ngày 21-11-2009

    1- Mạng lưới Nhân quyền Việt Nam, TS Nguyễn Bá Tùng, Trưởng ban Phối hợp. 2- Nghị hội Toàn quốc Người Việt tại Hoa Kỳ, GS Nguyễn Ngọc Bích, Chủ tịch. 3- Hội đồng Liên tôn Việt Nam tại Hoa Kỳ, MS Trần Thanh Vân, Chủ tịch. 4- Phong trào Giáo dân Việt Nam Hải ngoại, KS Đỗ Như Điện, Điều hợp viên. 5- Ủy ban Tự do Tôn giáo cho Việt Nam, Bà Ngô Thị Hiền, Chủ tịch. 6- Tổ chức Quốc tế Yểm trợ cho Cao trào Nhân bản, BS Nguyễn Quốc Quân, Chủ tịch. 7- Trung tâm Dân chủ Việt Nam, Canada, BS Lâm Thu Vân, Chủ Tịch. 8- Cộng đồng Người Việt Quốc gia Hoa Kỳ và các Cộng đồng Thành viên, Ông Nguyễn Văn Tần, Chủ tịch Hội đồng Chấp hành Trung ương.

 

THỈNH NGUYỆN THƯ GỬI CÁC VỊ LÃNH ĐẠO

CHÍNH TRỊ QUỐC TẾ

    Ngày 25 tháng 11 năm 2009

    Kính gửi

- Tổng thống Hoa Kỳ B. OBAMA

    Đồng kính gởi

- Thủ tướng Canada St. HARPER

- Tổng Thư ký Liên Hiệp quốc

- Cao ủy Nhân quyền LHQ

- Đai sứ Hoa Kỳ tại LHQ

- Đại sứ Hoa Kỳ tại Việt Nam

- Tất cả các Nghị sĩ, Dân biểu Quốc hội Hoa Kỳ

    Kính thưa Tổng thống,

    Cha Thadeus Nguyễn Văn Lý, một linh mục Công giáo, đã bị chính phủ cộng sản Việt Nam kết án và bỏ tù bốn lần, tổng số là 17 năm tính đến 2009, mới bị một cơn đột quỵ lần thứ hai ngày 14-11-2009 và đã được đưa đến quân y viện Hà Nội cứu chữa. Trong phiên tòa xử lần thứ ba ngày 30-07-2007, Linh mục Lý đã bị tuyên án 8 năm tù và 5 năm cấm cố chỉ vì đức tin tôn giáo và sự phản đối của ông đối với những vi phạm nhân quyền của nhà cầm quyền cộng sản.

    Thế giới văn minh không thể tha thứ những biện pháp vô luật lệ và tàn bạo như vậy mà chính phủ Việt Nam đã thi hành cho một linh mục vô tội không hề phạm bất cứ một tội nào có thể gây nguy hại cho đất nước. Đó là lý do những tổ chức quốc tế: Amnesty International, Human Rights Watch, International Pen Club… đã yêu cầu, mà không được đáp ứng, chính phủ Việt Nam phải tôn trọng chính luật lệ của họ và thả vô điều kiện Linh mục Nguyễn Văn Lý.

    Vì rất e ngại cho sức khỏe của Linh mục Nguyễn Văn Lý sau nhiều lần bị cầm tù, chúng tôi, những nạn nhân của cộng sản sinh sống ở ngoại quốc, kính xin Tổng thống làm mọi cách để cứu Linh mục Nguyễn Văn lý khỏi nhà tù và khỏi bị đối xử tàn ác. Linh mục Nguyễn Văn Lý là một tù nhân lương tâm, một nhà đấu tranh cho tự do và nhân quyền. Linh mục xứng đáng được vinh danh và được bảo vệ nhân danh những lý tưởng của nhân loại.

    Chúng tôi xin đa tạ Tổng thống và xin nhận nơi đây sự kính mến của chúng tôi.

    Trân trọng kính chào.

    Danh sách ủng hộ TNT

    1- Linh mục Phan Văn Lợi, Việt Nam. 2- Kỹ sư Đỗ Nam Hải, VN. 3- Giáo sư Nguyễn Chính Kết, Hoa Kỳ. 4- Ông Nguyễn Văn Tần, HK. 5- Nhà văn Mặc Giao, Canada. 6- Ông Nguyễn Ngọc Tiên, HK. 7- Ông Nguyễn Trung Châu, HK; 8- Ông Mạc Văn Thuận, HK. 9- Bà Đặng Thị Danh, Canada. 10- Luật sư Alain Ouellet, Canada. 11- Ông Victor Charbonneau, Canada. 12- Bác sĩ Đào Bá Ngọc, Canada.

    Danh sách đang tiếp tục cập nhật. Xin mời Quý vị theo dõi.

IIIIIIIII

Quốc hội Châu Âu ra Quyết nghị tố cáo Hà Nội đàn áp Phật giáo, nhân quyền và yêu sách trả tự do cho Đại lão Hòa thượng Thích Quảng Độ

    Trong mười ngày vừa qua, Phái đoàn Ủy ban Bảo vệ Quyền làm Người VN thuộc Cơ sở Quê Mẹ : Hành động cho Dân chủ Việt Nam, và Diễn đàn Dân chủ Á châu đã đến làm việc tại Quốc hội Châu Âu, tiếp xúc các vị Dân biểu và các chính đảng quan trọng tại Quốc hội, như Đảng Liên minh Tiến bộ Xã hội và Dân chủ (S&D); Đảng Tự do, Dân chủ và Cải cách Âu châu (ALDE); Đảng Bình dân Âu châu và Dân chủ Âu châu (PPE-DE); Đảng Xanh và Liên minh Tự do Âu châu (Green/ALE) v.v… nhằm đưa tới một bản Quyết nghị tổng hợp đệ trình khóa khoáng đại xin thông qua theo thể lệ khẩn cấp.

    Thành quả cuộc vận động là vào đúng 16g23 ngày 26-11 bản Quyết nghị đã được hầu như đa số tuyệt đối thông qua ở trụ sở Strasbourg. Quyết nghị tố cáo mạnh mẽ các vi phạm nhân quyền gần đây tại hai nước Lào và Việt Nam, đồng thời lên tiếng kêu gọi những cơ cấu hữu hiệu của Liên Âu có những điều khoản gia tăng bảo vệ nhân quyền và dân chủ trong Hiệp ước hợp tác song phương.

    Về Việt Nam, Quốc hội Châu Âu phàn nàn sự kiện “nhiều tổ chức tôn giáo bị cấm chỉ, những thành viên các tôn giáo này muốn độc lập với chính quyền nên phải đối diện với sự đàn áp”, đặc biệt trong tình trạng “thiếu vắng các tổ chức nhân quyền độc lập, các nhà lãnh đạo Giáo hội phải đóng vai trò bảo vệ nhân quyền và đấu tranh cho những nguyên tắc dân chủ và đại khoan dung”. Quốc hội Châu Âu đưa ra trường hợp đàn áp GHPGVNTN, sự giam cầm, quản chế “người ly khai nổi tiếng nhất Việt Nam” Đại lão Hòa thượng Thích Quảng Độ, lãnh đạo GHPGVNTN, trên 27 năm ròng, và gần đây cuộc trục xuất Tăng, Ni, Phật tử khỏi tu viện Bát Nhã. Đồng thời nhắc tới sự bắt bớ, giam cầm người sắc tộc, Công giáo, Tin lành, Cao đài, Hòa hảo, nhà văn Trần Khải Thanh Thủy, Lm Nguyễn Văn Lý, hai luật sư Lê Thị Công Nhân, Nguyễn Văn Đài, v.v…

    Quốc hội Châu Âu lấy làm tiếc Việt Nam đã “gạt bỏ rất nhiều điều khuyến thỉnh cất lên tại cuộc Kiểm điểm Thường kỳ Toàn diện (Universal Periodic Review) trước Hội đồng Nhân quyền LHQ trong hai tháng 5 và 9-2009 nhằm thăng tiến nhân quyền”. Quốc hội Châu Âu kêu gọi Việt Nam hãy tuân thủ các nghĩa vụ Quốc tế và “chấm dứt mọi vi phạm có hệ thống dân chủ và nhân quyền” : “VN sẽ làm Chủ tịch Hiệp hội Đông Nam Á (ASE-AN) năm 2010, nên phải nêu gương qua những hành xử tôn trọng nhân quyền. Chính quyền VN phải bắt đầu trả tự do cho hàng trăm người ôn hòa phê phán chính sách nhà nước, những nhà hoạt động tôn giáo độc lập, các bloggers, các nhà hoạt động dân chủ đang bị cầm tù vì tội xâm phạm an ninh quốc gia trái chống với luật pháp quốc tế chỉ vì họ biểu tỏ ôn hòa sự bất đồng chính kiến”.

    Bảy yêu sách trọng yếu mà Quyết nghị của Quốc hội Châu Âu đòi hỏi nhà cầm quyền Hà Nội là :

    “1. Khẩn khoản yêu cầu Việt Nam chấm dứt mọi hình thức đàn áp những ai sử dụng quyền tự do ngôn luận, tự do tín ngưỡng và tôn giáo và tự do hội họp của họ, tương ứng với các tiêu chuẩn quốc tế liên quan đến nhân quyền và Hiến pháp Việt Nam; yêu cầu chính quyền Việt Nam tôn trọng các nghĩa vụ quốc tế, bao hàm việc công nhận các cộng đồng tôn giáo và sự tự do hành hoạt tôn giáo cũng như hoàn trả mọi giáo sản thuộc Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất, Giáo hội Công giáo và mọi cộng đồng tôn giáo khác bị Nhà nước xâm chiếm tùy tiện;

    “2. Kết án cuộc trục xuất bạo động khỏi tu viện của 150 tăng, ni và coi như tình trạng ngày càng căng thẳng tiếp sau những hành động chống đối cộng đồng Phật giáo ôn hòa, là trái với sự mâu thuẫn nhạy bén đối với sự cam kết tôn trọng trên lĩnh vực quốc tế về tự do tôn giáo, đặc biệt ở trường hợp những cá nhân muốn hành xử các quyền của họ, mà chính quyền Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam cam kết tuân thủ như thành viên của Hội đồng Bảo an LHQ và Chủ tịch tương lai của Hiệp hội Đông Nam Á (ASEAN);

    “3. Yêu cầu Ủy hội và Hội đồng Châu Âu, trong khuôn khổ của cuộc thương thảo hiệp ước đối tác và hợp tác mới với Việt Nam đang diễn, cho vào một điều khoản bó buộc và không nhập nhằng về nhân quyền và dân chủ, cũng như một cơ cấu để đối phó với sự bất tuân dân chủ và nhân quyền một cách quy mô;

    “4. Yêu cầu chấm đứt mọi hành vi đàn áp và sách nhiễu, các tăng, ni được quyền tu tập đạo Phật theo truyền thống thuộc cộng đồng của nhà sư Thích Nhất Hạnh ở Bát Nhã và các nơi khác;

    “5. Yêu sách trả tự do vô điều kiện cho Hòa thượng Thích Quảng Độ và phục hồi quyền sinh hoạt pháp lý của Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất và hàng giáo phẩm;

    “6. Yêu cầu chính phủ thiết lập một ủy hội quốc gia độc lập về nhân quyền, để tiếp đón và điều tra những viện dẫn về tra tấn hay các lạm dụng quyền hành của các công viên chức, kể cả những nhân viên công an, và hứa hẹn có những biện pháp bải bỏ án tử hình;

    “7. Mời chính phủ Việt Nam, trong cương vị thành viên Hội đồng Bảo an LHQ, ngỏ lời mời thường trực các Báo cáo viên đặc nhiệm LHQ, đặc biệt trên lĩnh vực tự do ngôn luận, tự do tôn giáo, nạn tra tấn, những người bảo vệ nhân quyền, và bạo hành phụ nữ, cũng như Tổ Hành động chống bắt bớ trái phép của LHQ.

    Nhân dịp này ông Võ Văn Ái, Chủ tịch UB Bảo vệ Quyền làm Người VN kiêm Chủ tịch Diễn đàn Dân chủ Á châu, lên tiếng tán thưởng bản Quyết nghị của Quốc hội Châu Âu, rằng : “Thông qua việc công nhận sự gia tăng đàn áp tôn giáo và nhân quyền, Quốc hội Châu Âu đã mang lại niềm hy vọng cho những ai không có tiếng nói và bị đàn áp tại VN. Bản Quyết nghị còn là lời cảnh báo mạnh mẽ gửi cho nhà cầm quyền VN biết rằng họ không thể tiếp tục đàn áp người công dân mà chẳng sợ sự trừng phạt vào lúc VN đảm lãnh những vai trò trên sân khấu toàn cầu”.

Phái đoàn Văn phòng II Viện Hóa đạo đến điều trần về tình trạng đàn áp GHPGVNTN trước Ủy ban Nhân quyền Quốc hội Úc Đại Lợi ở thủ đô Canberra

    Trong chuyến đến Úc ra mắt Thơ Tù của Hòa thượng Thích Quảng Độ hồi trung tuần tháng 6 vừa qua, Phái đoàn Văn phòng II Viện Hóa đạo đã nhận lời mời của ông Laurie Ferguson, Bộ trưởng Liên bang về Liên lạc Quốc hội và Sắc tộc sự vụ, dùng cơm trưa hôm 22-6-2009 tại Quốc hội đồng thời cũng để tường trình tình hình vi phạm nhân quyền và tôn giáo tại Việt Nam. Sau cuộc tiếp xúc này, bà Dân biểu Kerry Rea, Chủ tịch Phân ban Nhân quyền Quốc hội đã viết thư sang Phòng TTPGQT mời Phái đoàn trở lại điều trần về tình hình Giáo hội PGVNTN.

    Sáng hôm nay 26-11-2009, Phái đoàn Văn phòng II Viện Hóa Đạo (VP II/VHĐ), GHPGVNTN đến điều trần trước Ủy ban Nhân quyền Quốc hội Úc gồm có : Thượng tọa Thích Phước Nhơn, Tổng Ủy viên Đặc trách Liên lạc và Đại diện Giáo hội tại Úc Đại Lợi và Tân Tây Lan, VP II/VHĐ, Thượng tọa Thích Viên Lý, Tổng Thư ký VP II/VHĐ, Thượng tọa Thích Giác Đẳng Tổng Ủy viên Truyền thông VP II VHĐ), Đạo hữu Võ Văn Ái, Phát ngôn nhân Viện Hóa đạo, GHPGVNTN, kiêm Tổng Ủy viên Ngoại vụ VP II VHĐ, Đạo hữu Ỷ Lan, Phó giám đốc Phòng Thông tin Phật giáo Quốc tế, Đặc trách Vụ Quốc tế, và Sư cô Thích Nữ Bảo Trường.

    Sau khi giới thiệu các thành viên Phái đoàn, ông Võ Văn Ái tóm gọn tình hình đàn áp GHPGVNTN tại VN như “hệ quả của 1 chính sách có tính toán và kiên định chủ súy từ cấp cao trong Đảng và Nhà nước”, chứ không là “những sự việc riêng lẻ, ngẫu nhiên”. Nội dung trình bày như sau :

    “Thưa bà Chủ tịch,

    “Thưa quý vị Dân biểu Thành viên Ủy ban Nhân quyền Quốc hội,

    “Chúng tôi vô cùng đa tạ được dịp trình bày trước quý vị tình trạng nguy kịch của Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất (GHPGVNTN). Đàn áp Phật giáo tại Việt Nam ngày nay không chỉ là những sự việc riêng lẻ, ngẫu nhiên, mà là hệ quả của một chính sách có tính toán và kiên định chủ súy từ cấp cao trong Đảng và Nhà nước. Chính sách này không chỉ nhắm riêng Phật giáo và các cộng đồng tôn giáo khác, mà còn chống lại bất cứ ai đòi hỏi tự do, nhân quyền dưới chế độ độc đảng tại Việt Nam. Đây là chính sách mà chúng tôi xin trình bày lần lượt sau đây.

    “Bắt đầu từ cuộc thống nhất Nam Bắc dưới sự cai trị của Đảng Cộng sản năm 1975, Đảng chủ trương trừ tiệt tất cả các tôn giáo. Nhà cầm quyền bắt đầu đàn áp hung bạo GH PGVNTN, bắt bớ, thảm sát hàng giáo phẩm, bắt tăng sĩ nhập ngũ trái chống với giới luật bất bạo động của họ, và cấm đoán mọi sinh hoạt tín ngưỡng.

    “Nhưng chính sách này đã thất bại. Một vị sư bị bắt, vị khác tiếp nối. Phá phách ngôi chùa này thì ngôi chùa khác dựng lên, Ngay từ đầu, Phật giáo đồ quyết tâm chống đối không riêng cho cộng đồng Phật giáo, mà là yêu sách nhân quyền và tự do cho mọi người dân Việt.

    “Khi biết rằng không thể tiêu diệt GHPGVNTN bằng bạo lực, Đảng Cộng sản tìm cách kiểm soát Phật giáo. Năm 1981, Đảng cho thành lập một Giáo hội Phật giáo Nhà nước, là tổ chức duy nhất được công nhận. Từ đó, GHPGVNTN bị cấm hoạt động. Nhưng đồng thời Đảng bỗng thấy Phật giáo có một “giá trị lợi ích” : Phật giáo có thể sơn phết cho bộ mặt trình diễn quốc tế, và cũng là nguồn sinh lợi doanh thu. Những ngôi chùa lịch sử bị chính quyền bỏ phế bỗng được tôn tạo, biến thành nơi hấp dẫn khách du lịch. Lần đầu tiên trong lịch sử Việt Nam tôn giáo trở thành mối kinh doanh thủ lợi.

    “Mục tiêu của Đảng không nhằm thể hiện tự do tôn giáo, mà thực hiện chủ trương “Nhà nước quản lý việc tôn giáo”. Ông Đỗ Trung Hiếu, một cán bộ Cộng sản cao cấp lo việc tôn giáo, tiết lộ chính sách biến tướng Phật giáo thành công cụ chính trị bằng cách phát triển “tự do cúng kiến” để đàn áp “tự do tôn giáo”. Vì tiết lộ này ông Hiếu bị bắt giam.

    “Người dân bị kiểm soát chặt chẽ qua ba cơ chế  : Lý lịch, qua đó chư Tăng Ni phải khai báo khuynh hướng chính trị của mình, kể cả gia đình, bè bạn, Hộ khẩu, không có nó người công dân bị xem như bất hợp pháp, và Công an khu vực, là công an mặc thường phục nhưng kiểm soát mọi sự đi đứng, ăn ở, suy nghĩ của người dân nơi phường, khóm mình, và có quyền bắt bớ ; bất cứ ai y nghi ngờ.

    “Công an tôn giáo được thiết lập, tổng hành dinh ở Hà Nội nhưng có chi nhánh khắp các tỉnh, thành. Chúng tôi có trong tay bản Tài liệu Mật dày 600 trang do Viện Khoa học Công an ấn hành một triệu bản để huấn luyện công an, bộ đội chống các hoạt động tôn giáo. Đặc biệt chống GHPGVNTN. Tài liệu này chỉ thị, tôi xin trích : “chống đối, đàn áp, cô lập và phân hóa” các thành viên thuộc GHPGVNTN, biến tướng Phật giáo thành “Phật giáo theo định hướng xã hội chủ nghĩa”, và “dẹp bỏ vĩnh viễn GHPGVNTN”.

    “Bản Tài liệu Mật này còn chỉ dẫn cách huấn luyện những “đặc tình” để xâm nhập GHPGVNTN không để báo cáo các Phật sự, mà còn tạo ly gián và phân hóa hàng ngũ Phật giáo. Hàng nghìn công an tôn giáo trá hình tăng sĩ xâm nhập các chùa chiền để kiểm soát chư Tăng Ni, Phật tử.

    “Đồng thời, chính quyền tạo một khí hậu sợ hãi thường trực, công an dọa những người Phật tử nào không chịu từ bỏ GHPGVNTN sẽ mất công ăn việc làm, con cái không được nhập học.

    “Nhiều điều luật ra đời với mục tiêu kết án các nhà hoạt động tôn giáo và bất đồng chính kiến. Pháp lệnh 44 về “quản chế hành chính” cho phép công an quản chế ai bị nghi ngờ chống đối nhà nước hoặc đưa vào nhà thương điên. Hệ thống tù ngục được mở rộng. 650 nhà tù tạm giam được thiết lập trong mỗi quận huyện trên toàn quốc ngoài những nhà tù đã hiện hữu trong các tỉnh thành. Điều nguy kịch hơn là việc quản chế không thông qua tòa án hay sự theo dõi thường trực của công an, như trường hợp Đại lão Hòa thượng Thích Quảng Độ tại Thanh Minh Thiền viện ở Saigon. Bị giam giữ, tù đày, quản chế suốt 27 năm qua chỉ vì ngài ôn hòa nói lên tín ngưỡng của ngài.

    “Nói tóm, đây là điểm then chốt nguy kịch giữa nhà nước Việt Nam và GHPGVNTN. Phật giáo đồ thành viên GHPGVNTN thực hành nền Phật giáo dấn thân, thể hiện lý tưởng từ bi, khoan dung trong đời sống thường nhật, cũng như đấu tranh chống nạn nghèo khó, kỳ thị, bất công  – và trong bối cảnh nhân loại ngày nay, đòi hỏi cho quyền con người. Giáo hội là tiếng nói chủ đạo của một xã hội dân sự trên một đất nước tự do ngôn luận bị chà đạp. Đại lão Hòa thượng Thích Quảng Độ công khai nói lên cho việc bảo vệ sinh thái, như chống nạn khai thác bauxite ở Tây nguyên, chống Trung quốc xâm chiếm hai quần đảo Hoàng Sa, Trường sa, xâm phạm lãnh thổ, lãnh hải, đòi hỏi xử lý cho khối Dân oan bị nhà nước cướp đất và tài sản, hoặc chống án tử hình. Đây là những vấn nạn cần được nói lên, và  Việt Nam không thể làm ngơ bằng cách giết người đưa tin và bịt họng GHPGVNTN.

    “Hiện nay VN là thành viên không thường trực Hội đồng Bảo An LHQ, và sẽ là Chủ tịch Hiệp hội Đông Nam Á (ASEAN) với cơ cấu mới Ủy ban Nhân quyền liên chính phủ năm tới, 2010. Việt Nam phải nêu gương như một quốc gia tôn trọng nhân quyền.

    “Vì vậy cuộc trình bày hôm nay đối với chúng tôi hết sức trọng yếu. Bởi vì nếu không có áp lực quốc tế, chúng tôi e rằng Việt Nam sẽ quay lưng với mọi cuộc cải cách. Tháng 9 vừa qua, tại cuộc Kiểm điểm Thường kỳ Toàn diện trước Hội đồng Nhân quyền LHQ, Việt Nam đã bác bỏ 40 khuyến thỉnh của Úc Đại Lợi và các quốc gia thành viên nhằm cải thiện nhân quyền. Phát triển kinh tế hiển nhiên là thiết yếu, nhưng thiếu tự do, nhân quyền và pháp quyền, kinh tế chẳng sao phát triển.

    “Chúng tôi kỳ vọng Úc Đại Lợi  sẽ đóng vai trò tiên khu thúc đẩy Việt Nam bước vào con đường cải cách”.

    Sau đó các vị Thượng nghị sĩ, Dân biểu thành viên Ủy ban Nhân quyền hỏi thêm nhiều điều họ cần biết về GHPGVNTN và tình trạng nhân quyền Việt Nam. Phái đoàn Văn phòng II Viện Hóa Đạo thay nhau trả lời thỏa đáng các câu hỏi.

    Ủy ban Nhân quyền Quốc hội Úc cám ơn Phái đoàn Phật giáo đã mang lại nhiều thông tin cần yếu, và cho biết Quốc hội rất quan tâm đến trường hợp của GHPGVNTN, và sang đầu tháng 12 dương lịch này sẽ có cuộc gặp gỡ thường kỳ đối thoại nhân quyền giữa ÚĐL và VN. Hồ sơ Phật giáo mà Phái đoàn Văn phòng II Viện Hóa cung cấp hôm nay cùng với những lời giải đáp sẽ được đưa vào hồ sơ đối thoại sắp tới này.uuuu

 

    Đề bài nguyên thủy : Chân dung Cố GM Phaolô Lê Đắc Trọng. Chúng tôi xin phép đổi lại. BBT

    Sau 92 năm tại thế, ngày 07-9-2009 Đức Cha (ĐC) Phaolô Lê Đắc Trọng, nguyên Giám mục phụ tá Tổng Giáo phận Hà Nội đã được Thiên Chúa gọi về. Trong hơn 60 năm linh mục và 15 năm Giám mục, ít ai biết rõ về thân thế, gia cảnh, nhất là tác phong, nhân cách của ngài. Cho đến những năm cuối đời, khi hai tập Hồi ký tập 1 (2006) và 2 (2007) được phổ biến giới hạn trong nước, một số người mới bắt đầu lờ mờ nhận ra nơi Đức Cha Phaolô một nhân cách lớn.

    Nhưng vẫn chưa đủ rõ nét. Phải chờ tới sau Thánh lễ an táng tại Nhà thờ Chính tòa Nam Định ngày 09-9-2009, khi Hồi ký tập 3 được công bố*, người ta mới cảm nhận được trọn vẹn chân dung của người môn đệ Chúa Kitô đã âm thầm nhưng can đảm sống và thể nghiệm niềm tin son sắt của mình giữa những tháng năm đầy biến động trong lòng Giáo hội và Quê hương. Đấy là hình ảnh của đoá hoa sen tinh khiết lừng lững vươn lên giữa bùn lầy nhơ bẩn.

    1- Một mẫu người đơn sơ, khiêm tốn

    Qua những chứng từ để lại trong ba tập Hồi ký, và qua những phát hiện sau này của nhiều nhân chứng, cho thấy Đức Cha Phaolô là một mẫu người đơn sơ, khiêm tốn, cưu mang một tinh thần nghèo khó bẩm sinh. Và khi tinh thần nghèo khó, đơn sơ, khiêm tốn bẩm sinh ấy được tôi luyện trong môi trường Kitô giáo thì chỉ có tăng thêm chứ không hề sút giảm.

    Trong đoạn thuật lại thời thơ ấu và bước đường Mục vụ ở phần 1 Hồi ký toàn tập, Đức Cha đã giãi bày tâm trạng băn khoăn, bứt rứt pha lẫn ưu tư của mình khi chứng kiến lối sống cách biệt mà ngài cho là “dị thường” của giới giáo sĩ và cung cách “khúm núm, lễ độ” quá lố của giáo dân đối với những người chăn dắt linh hồn trong những năm cuối thế kỷ, ngay giữa lòng một chế độ gọi là “xã hội chủ nghĩa”. Một điều dị thường khác theo quan sát của Đức Cha Phaolô ngay từ khi còn là một học sinh nhỏ trong xứ đạo quê nhà thì tuồng như người giáo dân Việt Nam có vẻ ưa thích lối sống quan liêu, hách dịch, xa cách của giáo sĩ hơn là thái độ bình dân, thân cận của các ngài! ĐC viết:

    “Giáo dân kính mến các cha là thế. Sự quí mến đó có giúp gì cho các cha trong con đường nhân đức thiêng liêng hay chỉ giúp làm nảy tính kiêu kỳ, xa cách, ủy mị, biếng nhác việc bổn phận, tạo nên một lớp người lạ thường, kỳ dị? Cách đối xử với các ngài cũng lạ thường. Chào cha lại phải thêm những tiếng: ‘con xin phép lạy cha’. Lúc ra về: ‘Con xin phép về, để cha nghỉ’, dường như cha chỉ có nghỉ ngơi, nằm võng chẳng phải làm việc gì. Một nếp sống tồn tại qua nhiều thế hệ. Tưởng rằng cuộc ‘tổng quét’ mà Cộng sản thực hiện ở mọi tầng lớp xã hội có thể lật đổ được cách sống đó. Xem ra trái lại! Cũng như một số người hách dịch quan liêu nơi các cán bộ xã hội – thì các linh mục vào cuối thế kỷ ở Việt Nam, vẫn thừa tự nếp sống quan liêu, hách dịch chẳng kém xưa.… Cha nào hiền lành, bình dân, xem ra nhiều người lại không thích. Thí dụ cha Hiếu, khi đến chơi nhà ông trẻ tôi đang làm trùm, thấy người ta giã gạo, người cũng đứng lên cối giã, bà con coi là tầm thường… Cử chỉ bình dân đó ảnh hưởng lớn đối với tôi”. Ngài tự hỏi: “Ảnh hưởng bao nhiêu?” và tự trả lời: “Suốt đời”.

    Hé mở đôi chút về mình, tác giả Hồi ký cho hay: “Tính tôi nhút nhát, không thích ra mắt. Sợ gặp người giầu có quyền sang, thích giao thiệp với những người dân nghèo khó”. (HK toàn tập, phần 1 – Thời thơ ấu & Bước đường mục vụ, trang 25-26).

    Trong bài giảng thuyết nhân Thánh lễ an táng Đức Cha Phaolô ở Nhà thờ Nam Định hôm 09-9-2009, Đức Cha Lôrenxô Chu Văn Minh, đương kim Giám mục phụ tá Hà Nội, làm chứng: “Trong cuộc sống riêng tư, ngài luôn sống khó nghèo, không ham hố hưởng thụ giàu sang, ngài ăn uống đạm bạc, mặc áo vải thô, đi guốc mộc”. Về điểm này, người ngoại cuộc chỉ cần nhìn tấm hình chụp chiếc giường ngủ đơn sơ, thanh đạm của vị Giám mục quá cố là đủ rõ.

    Trong Hồi ký toàn tập phần 2 ngài viết về hàng Giám mục với những lời lẽ cương trực như sau: “Giám mục đoàn, yếu (…) Thiếu đoàn kết, chia rẽ theo miền, theo địa phương (…) Vị thì chỉ lo cho quyền lợi của Giáo phận mình, không quan tâm mấy đến quyền lợi chung; vị khác lo bảo vệ vinh quang (học vị), hầu hết nhút nhát sợ sệt, nhất là các vị miền Nam, vì luôn bị mặc cảm chiến bại. Đức Giám mục Mỹ Tho đạo đức chân chính bị coi là lẩm cẩm. Không thiếu những vị kỳ thị Giáo phận nhỏ to, thầm mơ ước, và thậm chí nếu có thể, vận động cách nào đó để được chuyển vào những vị trí cao sang.” (HK toàn tập, phần 2 – Giáo hội CGVN trước cơn bão thời đại, tr. 256)

    Hơn ai hết Đức Cha Phaolô có quyền và có đủ tư cách để đưa ra những nhận định thẳng thắn trên đây. Giản dị vì cũng trong bài giảng nhân Thánh lễ an táng ngài, đức Giám mục phụ tá tổng giáo phận Hà Nội đã làm chứng trước sự hiện diện đông đủ các chức sắc trong Giáo hội và nhiều ngàn tín hữu như sau: “Là con người khiêm tốn, tuy 2 lần được Đức Hồng y Giuse Maria Trịnh Như Khuê đề cử làm Giám mục, nhưng ngài đều từ chối. Lần thứ ba vì nhu cầu cấp thiết của Giáo phận Hà Nội, ngài nhận làm Giám mục phụ tá giúp việc Đức Hồng y Phaolô Phạm Đình Tụng, khi đã bảy mươi lăm tuổi.”

    2- Vị Chủ chăn can trường. Người Ngôn sứ miệt mài rao giảng

    Sau biến cố đất nước bị chia đôi năm 1954, cùng với một số linh mục, cha Phaolô Lê Đắc Trọng đã chọn ở lại miền Bắc, can đảm chấp nhận vai trò chủ chăn -hơn thế, vai trò Ngôn sứ, giữa một xã hội vô thần, vô luân, vô tôn giáo, vô tổ quốc. Vẫn theo đánh giá của Đức Cha phụ tá TGP Hà Nội Lôrenxô Chu Văn Minh, thì “Ngài là một ngôn sứ nhiệt thành luôn hăng say rao giảng Lời Chúa, thời thuận lợi cũng như không thuận lợi. Những bài giảng của ngài súc tích, mạch lạc lôi cuốn lòng người, là đèn sáng, soi lối chỉ đường cho dân Chúa”.

    Trong suốt những năm tháng khó khăn, nghiệt ngã, đảng và nhà nước Cộng sản tuy không ra mặt bách đạo như những thế kỷ trước, nhưng bằng nhiều phương thế khác nhau, họ đã âm thầm tiến hành những thủ đoạn tinh vi, thâm độc nhằm tiêu diệt lần hồi các tôn giáo nói chung, cách riêng Giáo hội Công giáo. Thí dụ như họ chiêu dụ những thành phần tín hữu -bao gồm cả giáo dân và một thiểu số giáo sĩ- bất mãn, có cuộc sống bê tha, rối đạo để lập ra những tổ chức như “Ủy ban Liên lạc những Người Công giáo yêu Nước, yêu Hòa bình, yêu Tổ quốc”, ban đầu ở miền Bắc và “Ủy ban Đoàn kết Công giáo yêu Nước” sau này ở miền Nam để dùng chính người Công giáo đánh phá Giáo hội theo kiểu “gậy ông đập lưng ông”; hủ hóa, mua chuộc các đấng bậc nhằm chia rẽ nội bộ Giáo hội; ngầm tước bỏ mọi phương tiện giáo dục, đào tạo, ấn loát khiến cho việc học đạo, tìm hiểu giáo lý bị trở ngại. Đấy là chưa kể những thủ đoạn vu oan, giá họa nhằm bắt bớ, kể cả giết chóc, thủ tiêu các linh mục, tu sĩ, như trường hợp cha Nguyễn VănVinh thuộc Giáo phận Hà Nội bị giam cầm đến chết ở nhà tù khét tiếng Cổng Trời chẳng hạn.

    Trong Hồi ký toàn tập, Đức Cha Phaolô đã nhiều lần công khai nói tới chủ trương thâm độc của đảng và nhà nước Cộng sản nhằm loại khỏi tâm trí người dân, nhất là giới trẻ, những ý niệm về “Ông Trời” về “Thiên Chúa”. Trong HK toàn tập, phần 1, trang 157, ĐC nhận định: “Người xưa khiêm tốn khẩn cầu: ‘Lạy trời mưa xuống’ thì nay ‘thay trời làm mưa’. Tất cả đều có ý chối bỏ Thiên Chúa, hoặc có Thiên Chúa thì cũng chỉ là nhân vật rất tầm thường, chẳng có ích gì cho chúng ta; còn cản trở bước tiến của nhân loại là khác! Đúng với cái khẩu hiệu của ông tổ Các Mác của họ: ‘Tôn giáo là thuốc phiện mê hoặc nhân dân’ (La religion est l’opium du peuple).”

    Để củng cố niềm tin nơi Thiên Chúa của các tín hữu hầu triệt tiêu luận cứ cho rằng không có Thiên Chúa của người Cộng sản, trong thời gian ở Nam Định, linh mục Phaolô Lê Đắc Trọng đã vận dụng tối đa những phương tiện eo hẹp có trong tầm tay để viết, chuyển ngữ, in và phát hành “chui” những tập tài liệu về giáo lý cơ bản. Đức Cha viết: “Chính tôi quay máy ronêo của tôi, trong một buồng đóng kín, chỉ có mình tôi và cháu tôi là Oánh, hai bác cháu, chứ không có người khác, để việc in được giữ kín…” (trang 150).

    Việc làm này nhà nước không thể không biết và vì thế: “…Họ khó chịu về những vấn đề tôi đưa ra bản chất là ngược với điều họ tuyên truyền. Chẳng hạn lúc đó người ta nói, nhất là trong các trường học, con người không có linh hồn. Họ thuộc phái duy vật mà!”. Vì thế, “Tôi viết sách: Con người phải có linh hồn” (trang 157).

    Lòng trung thành với đức tin Công giáo của Đức Cha còn được biểu hiện qua những lần ngài được mời đi “làm việc”. Trong Hồi ký, ngài kể lại chi tiết cuộc đối thoại sau đây:

    “Một tháng sau, tôi bị gọi ra Viện Kiểm sát Nhân dân làm việc. Viện Kiểm sát có chức năng điều tra xác minh dữ kiện để đưa ra Toà án. Lần đầu tiên và cả đời tôi chỉ có lần này mới biết Viện Kiểm sát…. Chung quanh tôi độ ba chục giáo gian, tôi quen mặt một số vẫn đến nhà xứ đấu tranh. Ông Viện Trưởng cất tiếng hỏi:

    – Ông có làm phép đạo (ban phép giải tội) cho anh này không (tôi không nhớ tên)?

    – Tôi thưa: Có.

    – Khi làm phép thì ông đã nói thế nào?

    – Điều này luật đạo chúng tôi không được phép nói.

    – Ông phải nói, vì đây là pháp luật đòi hỏi.

    – Tôi không được phép nói, vì luật chúng tôi dạy rằng: khi giải tội thì không bao giờ được nói điều người ta nói với tôi, dù có phải chết cũng không được nói: đó là bí mật toà giải tội, chúng tôi phải giữ với giá mạng sống chúng tôi.

    Họ cứ hỏi đi hỏi lại mãi, tôi vẫn chỉ thưa có một câu:

    – Tôi không được phép nói.

    Rồi họ hỏi hàng mấy chục câu hỏi vu vơ, trong đó có một câu quan trọng:

    – Ông có tôn trọng chính quyền không?

    – Có! Luật đạo chúng tôi dạy điều ấy.

    Cả một ngày thẩm vấn, chỉ có lời hỏi đáp đó là đàng hoàng.

    Ông Viện trưởng đọc lại biên bản để tôi ký. Khi đọc đến câu “Ông có tôn trọng chính quyền không?” thì ông ta lại hỏi: Ông có tôn trọng luật pháp nhà nước không? Tôi ngắt lời ông ngay và nói: Ông không hỏi tôi thế. Nếu ông hỏi tôi ‘có tôn trọng luật pháp không’, thì tôi thưa khác.

    – Ông thưa khác thế nào?

    – Nếu ông hỏi có tôn trọng chính quyền thì tôi thưa có và không điều kiện. Vì luật đạo dạy dù chính quyền là thế nào đi nữa, cũng phải tôn trọng. Còn nếu hỏi: Có tôn trọng luật pháp nhà nước không, thì tôi thưa khác.

    – Thưa thế nào? Rồi ông ta giơ cao cuốn Hiến pháp lên: “Đây luật pháp nhà nước, dù là Tổng thống, dù là CT nước cũng phải tuân theo”.

    Và ông ta trịnh trọng hơn nữa, hỏi khi dằn từng tiếng:

    – Ông có tuân theo pháp luật nhà nước không?

    Tôi cũng trịnh trọng và dằn từng tiếng:

    – Tôi tôn trọng luật pháp nhà nước, khi luật pháp đó không ngược đạo lý chúng tôi.

    Ông ta lại nói to hơn và dằn từng tiếng:

    – Đây! Pháp luật nhà nước! Ông có tôn trọng không?

    Tôi cũng dằn từng tiếng:

    – Tôi tôn trọng khi luật pháp đó không có gì đi ngược với đạo lý chúng tôi. Còn nếu có điều gì ngược với đạo lý chúng tôi, lương tâm tôi không buộc phải theo.

    – Thế nào là không hợp với lương tâm?

    – Tôi ví dụ: Ngày xưa vua chúa ra luật cấm đạo, thì dù có chết cũng không tuân luật vua chúa. Đó là cái chết của các Thánh Tử Đạo chúng tôi đó.

    Ông Viện trưởng không còn gì mà nói. Tôi cũng thế…” (HK toàn tập, phần 3 – Cái nhìn đối với Việt Minh & chủ nghĩa CS, trang 365-366-367).

    3- Đức Cha Phaolô và “Ủy ban phá đạo”

    Điều kỳ diệu là mặc dầu dưỡng phụ Đức Cha Phaolô Lê Đắc Trọng là Linh mục Vũ Xuân Kỷ, người sau năm 1954 từng giữ chức vụ Chủ tịch “UB/LL/YTQ&YHB” mà hậu thân của nó là “UB/ĐK/CGYNVN” ở miền Nam sau này, nhưng dường như không bao giờ, dù chỉ trong phút giây, tâm hồn và ý chí ngài bị lung lạc hay chao đảo. Đức Cha luôn có một lập trường kiên định và dứt khoát. Nói về “Cha bố”, Đức Cha Phaolô viết: “Cha Kỷ suốt đời vẫn quý mến tôi, nhưng tránh tôi vì biết tôi không cùng lập trường với ngài”. (HK toàn tập, phần 4: Phụ lục – Đôi hàng về thân thế ĐC Phaolô Lê Đắc Trọng,  Vũ Sinh Hiên, tr.502).

    Theo Đức Cha thì cả giáo phận Hà Nội thời ấy cũng có một lập trường dứt khoát như vậy: “Thông cáo về ‘Ủy ban Liên lạc những Người Công giáo yêu Yổ quốc, yêu Hoà bình’ có chữ ký của cha Đinh Lưu Nhân, cha chính Địa phận. Bản thông cáo nói về việc dùng chữ “Công giáo”. Chỉ được dùng danh nghĩa đó đối với những đoàn thể đã có phép Giáo luật: ở đây cái Ủy ban này không có phép, nên là sai luật. Với một số lý do khác nữa, người Công giáo không được gia nhập phong trào đó. Thông cáo đó được đưa đi các nơi chính trong các Địa phận” (Hk toàn tập, phần 1, trang 148)

    Ở một đoạn tiếp ngay sau đó, Đức Cha xác định quan điểm và dự tính riêng của ngài như sau: “Cái Ủy ban đó, tôi cho rằng chỉ là bước đầu để đi đến việc lập Giáo hội tự trị, như ở bất cứ nước CS nào. Vì thế, bản thông cáo kia chưa đủ. Tôi muốn trình bầy về mối liên hệ giữa người Công giáo VN với Giáo hội hoàn vũ theo phương diện tích cực…” (tr. 149).

    Trong mục Phong trào các Patriotes (Yêu nước), HK toàn tập, phần II, tác giả viết: “… Giáo hội khổ nhiều vì nhóm đó trong nhiều năm, vì đó là công cụ để phá đạo, bách hại đạo, giống kiểu Julien l’Apostat: lấy đạo chống đạo, lấy người có đạo đập người có đạo, lấy con cái chống lại cha mẹ…. Người Công giáo chịu bao khốn khó, tù đầy cũng là do nhóm này… Cũng may là những linh mục hay giáo dân lãnh đạo được lựa chọn ở những thành phần không đạo đức, nên ít ai theo; nhưng họ lại có quyền của nhà nước, mà họ dốt nát, nên càng dữ tợn; người ta vừa sợ, vừa biết bộ mặt của họ. Vì thế, nó đã sắp tàn nếu không có miền Nam đến tiếp sức và hồi phục nó dưới nhãn hiệu mới “Ủy ban Đoàn kết”. Uỷ ban này có lãnh đạo trí thức (các linh mục bằng cấp), tìm được đất màu mỡ ở miền Nam và sống mạnh, nhờ vào việc thay đổi chiến thuật….” (HK toàn tập, phần 2, trang 260-261)

    Sau đó, Đức Cha xác tín rằng dù thay tên đổi họ thì bản chất của những tổ chức này vẫn chỉ là một thứ tay sai của chế độ. Vì thế ngài khẳng định: “Forme có đổi, fond vẫn không thay đổi. Tuyên bố không tách khỏi Giáo hội, lại còn giúp in những sách đạo, phổ biến Phúc Âm giáo lý, giúp cho các cha các xứ được quyền lợi nọ kia, đạo được dễ dàng, nhưng thực tế vẫn là tách khỏi Giáo hội, vì họ làm mọi việc đó nhân danh họ, ngoài quyền bính chính thức của Giáo hội” (trang 261).

    Bàn sâu vào những hệ quả nguy hại mà những thành phần đi theo tổ chức phản đạo kia phải gánh chịu, kể cả giới lãnh đạo trong Giáo hội thân cận với nó, chuẩn nhận nó, dủ chỉ để lợi dụng cách nào đó, Đức Cha viết tiếp: “Họ phải thừa hiểu rằng: được chín cái lợi mà hy sinh một điều thôi, có thể là mất tất cả… Ví dụ chỉ chấp nhận thế này: ‘Ông là bạn tốt của tôi, ông giúp đỡ tôi rất nhiều. Chúng ta là bạn tốt với nhau!’. Đã là bạn tốt với nhau, đâu còn dám làm phật ý nhau, làm khác ý ông bạn của mình, phương chi làm ngược ý bạn, thế mà ông bạn kia lại là người tham lam, cho đi tất cả để lấy lại tất cả. Nhận thuộc về người bạn đó, là hiến cả đời sống cho người đó, cả Giáo hội, nếu có thể! Nhưng một khi đã trót rồi, không thể rút ra được nữa. Kinh nghiệm xưa là thế, nay vẫn thế. Nào mất quyền lợi, nào nguy cơ tưởng tượng, nào sĩ diện. Nay mọi cái mọi nơi đều thay đổi, chỉ con người có tinh thần ly khai, chống Giáo hội thì vẫn y nguyên. Một Đức Giám mục nói về Tổng Đại diện của mình đang thao túng mọi việc trong Giáo phận mà vị đó đã là và nay vẫn còn tinh thần patriot, Toà thánh đã biết, dư luận chống đối, muốn vị đó từ chức. Đức Giám mục nói: “Ông ấy tốt, giúp nhiều việc, làm sao bãi chức ông được. Khi nào tôi chết, tức khắc ông ấy hết quyền”. Bi đát làm sao! Truyện thật 100%! Những ấn loát muốn được ra mắt, phải dán nhãn hiệu “Đoàn kết”. Các tác phẩm mất giá một phần, bị nghi ngờ. Nay dưới nhãn hiệu “Xuất bản của Toà Tổng Giám mục”. Đức Cha cay đắng kết luận: “Lãnh tụ đã vào ngự toà rồi!” (trang 261-262)

    (Còn một kỳ nữa)

Đừng nghe những gì Cộng sản nói.

 Hãy nhìn những gì Cộng sản làm.

    Kính gởi Chư Đồng đạo PHẬT GIÁO HÒA HẢO trong và ngoài nước: một nguồn tin rất quan trọng: CHÙA THẦY SẮP BỊ ĐẬP PHÁ

    Với tư cách “con một Cha”, chung một Đạo, thờ một Thầy, ở xa xôi mà vẫn quí nhau cái tình chung số phận. Ước mong của tôi là đi đến từng đồng đạo vấn an sức khỏe và trao đổi, gởi gắm một ít chuyện lòng; nhưng “Hòa Hảo Liên Dây” giờ quá rộng xa trên trái đất, có thêm mấy kiếp làm người mà đi suốt ngày đêm cũng không giáp vòng. Nên nay tôi mượn cánh thư bay bay đến với chư đồng đạo trước chúc an sức khỏe, kiên quyết tu hành, xứng đáng danh phận học trò “Làm Theo Lời Chỉ”, sau tôi xin tỏ nỗi đau khôn nguôi qua quá nhiều sự mất mát của đạo mình.

    PGHH khai sáng tại VN, đi trong lòng Dân tộc, được hồn thiêng sông núi hun đúc chở che, tạo thế mạnh tín ngưỡng, phát huy tiềm lực thu nhận tín đồ; đi cùng với nước non trải lòng lo cho đạo thành cây cao bóng mát, tríu mến sự khát vọng của nhân sinh lúc nào cũng muốn được cứu khổ ban vui. Nội dung sâu sắc, PGHH rất thành công trong việc truyền đạo cứu đời, tạo rất nhiều cở sở từ địa phương đến trung ương để ở đâu cũng có môi trường sinh hoạt đạo sự chặc chẽ. Đến ngày 30-4-1975, chủ nghĩa CS từ miền bắc Việt không chấp nhận sự ràng buộc của hiệp định Giơ-Neo, xâm chiếm miền nam giành lấy chánh quyền trong tay của người anh em da vàng máu đỏ, hô to khẩu hiệu “Cách Mạng Thành Công”. Oai hết sức là oai! Cũng cái oai phong đó nhà nước CHXHCN VN ra lệnh cấm mọi hoạt động Tôn giáo; giải tán các Ban Trị sự (BTS), tịch thu các cơ sở của các cấp Giáo hội. Toàn thể tín đồ PGHH chịu sự mất mát chưa từng có, đau nhá lửa cũng phải ôm bụng chịu. Không dùng sức mạnh giựt lại cái đã bị lấy mất, người tín đồ PGHH chỉ yêu cầu, đòi lại sự công bằng.

    Nhà nước CHXHCNVN xét qua những cuộc đấu tranh của người tín đồ PGHH là một yêu cầu chánh đáng nên không còn sự lựa chọn nào tối ưu hơn việc chấp nhận cho đạo PGHH tái phục hoạt, không phải theo nguyên trạng mà với một hình thức khác, có cho thành lập các BTS nhưng những cơ sở, tài sản của đạo bị tịch thu thì không hoàn trả. Dẫu sao, nhà nước CHXHCNVN cho đạo PGHH tái phục hoạt là một thành ý tốt. Nhà nước bận lo quá nhiều việc nước non không có thì giờ nghiên cứu quá trình diễn biến của PGHH những chặng đường qua đã làm được nhiều ích lợi cho dân cho nước. Ban Trị Sự trung ương giáo hội PGHH là đầu tàu gương mẫu đáng lẽ phải làm tốt cái công tác truyền thông, kiến nghị lên chánh phủ những yều cầu chánh đáng và đòi hỏi sự công bằng của người tín đồ PGHH. Bảnh chọe ở chiếc ghế trung ương không ngó ngàng gì tới sự mất mát của đạo, những yêu cầu chính đáng trong đạo, để toàn thể tín đồ chứng kiến cái cảnh nước không mất mà “Cơ sở của Đạo bị lấp vùi”. Nỗi đau thấu xương mà BTS ung dung vô trách nhiệm. Các BTS địa phương rất ít có công tác và phần nhiều của số ít công tác đó đã đem sử dụng Tôn giáo như một hội từ thiện hơn là triển khai Phật pháp nhiệm mầu đến nghiệp sạch tình không.

    Ban Trị sự trung ương vô trách nhiệm với tiền đồ PGHH như vậy xem bộ còn chưa vừa. Mới đây tôi nghe dư luận quần chúng xôn xao về việc BTS trung ương quyết định đập phá chùa “AN HÒA TỰ” vào những ngày mùng 7,8,9 tháng 10 âm lịch, nhằm 23,24,25 tháng 11 dương lịch tới đây. Nghe tin không biết thực hư mà lòng tôi bị đau như cắt. Bức xúc không kềm chế được tôi kêu trời và bẩm với trời cao rằng: BTS sự trung ương là những ngôi sao gì xuống trần mà dám làm chuyện gan cùng mình!

    Kính thưa chư đồng đạo! Như chúng ta biết “AN HÒA TỰ” còn có cái tên khác là “CHÙA THẦY”. Chùa nầy gốc đạo Phật, bổn tự của chùa đã dâng hiến cho Đức Tôn sư Giáo chủ PGHH, ngày 29-5-1945 âl, chính Đức Thầy thỉnh lư hương từ Tổ đình PGHH đến an vị trong chùa AN HÒA TỰ. Từ đó chùa được bao phủ lên những hào quang THÁNH TÍCH, người tín đồ khắc cốt ghi xương hai chữ CHÙA THẦY. Thế bây giờ BTS trung ương âm mưu đang tay đập phá thánh tích nói trên để tín đồ phải chịu mất dần “cơ sở của đạo bị lấp vùi” đến cạn kiệt. BTS của đạo sao lại đi đập phá Thánh tích của đạo?

    Cũng dư luận quần chúng cho rằng, mấy ông trong BTS trung ương đổ tội cho chùa xuống cấp, phải đập phá xây dựng lại chùa mới. Sự thật thì chùa chưa xuống cấp đến đỗi, vì mới đây năm 2001 chùa đã được tu sửa nâng vững chắc mặt bằng, dáng vẻ chùa còn tốt. Nhưng xét ra, cho dù chùa có bị xuống cấp, phố cổ Hội An không bị xuống cấp trầm trọng đó sao nhưng người ta vẫn gia công sửa chữa bảo vệ di sản văn hóa, sao mình không biết làm tốt công tác sửa chữa để giữ nguyên dáng vẻ ngôi chùa có rất nhiều kỷ niệm với Đức Tôn sư của mình?

    Ngọc Hoàng Thượng Đế không cho biết mấy ông BTS trung ương ta là ngôi sao gì xuống trần dám làm cái chuyện động Trời động Đất. Phải chăng là sao Hung tinh?

    Lại có nguồn tin cho rằng mấy ông ban trung ương ta được sự chứng giám của gia tộc họ Huỳnh Đức Huỳnh Giáo chủ (HGC). Tôi hoàn toàn không tin lời đồn đãi nầy. Vì chỗ đứng tôn quý của Đức Thầy, người trong gia tộc họ Huỳnh Đức HGC, dẫu có thờ ơ với đạo của Ngài thế nào, cũng không gật đầu cho phép người ta đập phá di sản có tính lịch sử của anh, cậu, ông mình. Giả tỷ chuyện thờ ơ với đạo PGHH của những người trong gia tộc họ Huỳnh Đức HGC là có thật, ký tên cho BTS trung ương phá chùa là sự thật cũng chỉ ở góc độ cá nhân. Chùa Thầy là chùa chung của toàn thể tín đồ, không riêng của ai, đơn phương ký nhận cho BTS trung ương phá Chùa Thầy là không hợp lý. Tôi chắc quý vị trong gia tộc họ Huỳnh Đức HGC chủ không nhúng tay vào việc phá hại đó.

    Không phải dựa vào chức dụ BTS trung ương muốn làm cái gì cũng được. Đập phá chùa bình thường thôi cũng là một tội ác nặng nề hơn các tội ác, huống chi Chùa Thầy, xét về mặt tín ngưỡng hơn gấp trăm lần chùa bình thường mà đập phá thì tội lỗi biết bao nhiêu.

    “An Hòa Tự” là nơi lưu lại dấu vết kỷ niệm Đức Thầy, Ngài đã tự tay đặt lư hương trên chùa, là nơi chia xẻ nhữmg mầu nhiệm của Đức Thầy trao qua toàn thể tín đồ. BTS trung ương có phải rặt ri Hòa Hảo không mà các vị dám bôi xóa Thánh tích PGHH???

    Chư đồng đạo thân mến! Việc tính đập phá Chùa Thầy của BTS trung ương đối với tôi giờ là một nỗi ám ảnh, tôi biết chư đồng đạo mà hay tin chắc cũng đau lòng không khác vì tôi. Chúng ta quy y PGHH, ai nấy trọng Đạo thương Thầy, rất cần thiết phải có hành động cụ thể, tích cực can ngăn BTS trung ương đập phá Chùa Thầy. Tôi xin đưa lên quý đạo hữu những ý chính sau đây: 1- Trực tiếp đến gặp BTS trung ương để can ngăn. 2- Gửi thư về thùng thư của BTS. Cần có nhiều lá thư, mỗi người mỗi gửi tấm lòng can ngăn. 3- Cầu Đức Thầy gia hộ cho việc chúng ta can ngăn những bàn tay đập phá Chùa Thầy. 4- Cầu những vị Thần bảo hộ Chùa, Phật Pháp; những ai đến đập phá, cầm búa giơ lên nhờ các vị giữ đứng yên người và búa, không cho lao xuống tường thành chùa.

    Thời gian gấp rút, công việc ngăn cản sự đập phá chùa phải được xúc tiến ngay. Tôi rất mong được chư đồng đạo trong và ngoài nước lên tiếng. Kính chúc sức khỏe và may mắn. LÊ MINH TRIẾTlll

CỘNG HÒA XHCN VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Hà Nội ngày 19-11-2009

KIẾN NGHỊ KHẨN CẤP

“KHÔNG TỔ CHỨC DÂN QUÂN, TỰ VỆ BIỂN”

    Kính gửi: Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam

    Tôi là Cù Huy Hà Vũ, Tiến sĩ Luật, công dân VN, hộ khẩu thường trú tại 24 Điện Biên Phủ, Hà Nội, xin gửi tới Quốc hội lời chào trân trọng.

    Được biết Quốc hội tại Kỳ họp thứ 6 này sẽ thông qua Dự Luật Dân quân, tự vệ (sau đây gọi là Dự luật) theo đó lực lượng dân quân tự vệ biển sẽ được thành lập. Căn cứ Điều 53 Hiến pháp: “Công dân có quyền tham gia quản lý Nhà nước và xã hội, tham gia thảo luận các vấn đề chung của cả nước và địa phương, kiến nghị với cơ quan Nhà nước, biểu quyết khi Nhà nước tổ chức trưng cầu ý dân”, tôi kiến nghị với Quốc hội như trình bày sau đây.

    Trước hết tôi nhiệt liệt hoan nghênh Quốc hội với chủ trương thành lập Dân quân, Tự vệ biển đã biểu thị một cách mạnh mẽ quyết tâm bảo vệ biển, đảo của Tổ quốc VN. Không nghi ngờ gì nữa, đây chính là sự chỉnh đốn cấp thiết của Cơ quan quyền lực Nhà nước tối cao đối với thái độ phải nói là yếu hèn vừa qua của Chính phủ trước việc nước ngoài xâm phạm trắng trợn chủ quyền biển của VN như liên tục đâm chìm tàu, thuyền đánh cá, ngược đãi ngư dân VN tại quần đảo Hoàng Sa. Đây cũng chính là hành vi phục hồi danh dự cho tất cả công dân VN yêu nước bị cơ quan an ninh bắt giữ do “xâm hại an ninh quốc gia” (lý do mà Người phát ngôn Bộ Ngoại giao Nguyễn Phương Nga đưa ra ngày 11-9-2009) chỉ vì đã kêu gọi dưới nhiều hình thức khác nhau bảo vệ không khoan nhượng an ninh quốc gia nói chung, chủ quyền của VN đối với quần đảo Hoàng Sa và quần đảo Trường Sa nói riêng!

    Nếu như bảo vệ chủ quyền lãnh thổ quốc gia là không phải bàn cãi thì bảo vệ chủ quyền ấy như thế nào, đặc biệt trong thời bình, đòi hỏi các đại biểu toàn quốc của nhân dân phải vô cùng cẩn trọng, vì “sai một ly, đi một dặm”, sơ sẩy một chút thôi cũng có thể dẫn đến kết cục hoàn toàn ngược lại là đánh mất chủ quyền quốc gia. Trên tinh thần đó, tôi cho rằng lập Dân quân, Tự vệ biển là một sai lầm chiến lược với những lý do sau đây:

    MỘT LÀ, bảo vệ tính mạng của nhân dân là nghĩa vụ của Nhà nước. Thực vậy, chiểu theo Điều 2 Hiến pháp “Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa VN là Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân”, Điều 71 Hiến pháp “Công dân có quyền bất khả xâm phạm về thân thể, được pháp luật bảo hộ về tính mạng, sức khỏe, danh dự và nhân phẩm”, Nhà nước có nghĩa vụ phục vụ nhân dân trong đó có nghĩa vụ bảo vệ tính mạng của nhân dân. Do đó, việc Nhà nước thành lập Dân quân, Tự vệ biển, tức trang bị vũ khí cho ngư dân để họ tự bảo vệ mạng sống của mình trong trường hợp bị người nước ngoài tấn công trên biển, không gì khác hơn là một sự thoái thác nghĩa vụ bảo vệ tính mạng của nhân dân đã được Hiến pháp quy định cho Nhà nước.

    HAI LÀ, thành lập Dân quân, Tự vệ nói chung, Dân quân, Tự vệ biển nói riêng, là vượt quá Hiến pháp. Điều 77 Hiến pháp quy định: “Bảo vệ Tổ quốc là nghĩa vụ thiêng liêng và quyền cao quý của công dân. Công dân phải làm nghĩa vụ quân sự và tham gia xây dựng quốc phòng toàn dân”. Như vậy, khác với thời chiến trong đó toàn dân có nghĩa vụ tham gia chiến đấu bảo vệ Tổ quốc nên bên cạnh lực lượng vũ trang chính quy có tổ chức dân quân, tự vệ, “nghĩa vụ quân sự” duy nhất của công dân trong thời bình là phục vụ tại ngũ và phục vụ trong ngạch dự bị của quân đội được cụ thể hóa tại Luật Nghĩa vụ quân sự, đồng nghĩa công dân “tham gia xây dựng quốc phòng toàn dân” không thể là phục vụ trong một tổ chức quân sự nào khác ngoài quân đội dù đó là bán vũ trang như dân quân, tự vệ. Trên tinh thần đó, “tham gia xây dựng quốc phòng toàn dân” cần được hiểu là tham gia các khóa huấn luyện quân sự để có thể sẵn sàng chiến đấu trong trường hợp có chiển tranh hoặc tham gia tuyên truyền, giáo dục về bảo vệ toàn vẹn lãnh thổ quốc gia.

    Tóm lại, như trên đã phân tích, Dân quân, Tự vệ là lực lượng vũ trang tình thế nảy sinh trong bối cảnh chống ngoại xâm nên một khi ngoại xâm không còn thì bản thân cũng không còn lý do để tồn tại. Do đó, việc duy trì lực lượng Dân quân, Tự vệ trong thời bình không thôi, chứ chưa nói đến tăng cường, là hoàn toàn phi lý. Nghiêm trọng hơn, chính lực lượng dân binh này lại là nhân tố gây bất ổn định, chia rẽ, thậm chí phá nát cộng đồng xã hội. Thực vậy, khác với quân đội là lực lượng phòng thủ quốc gia, tức luôn tồn tại cả khi không có địch, thì sự hiện diện của Dân quân, Tự vệ trong thời bình tự nó đã giả định một bộ phận “đồng bào” là “địch”, là “thù” hay đối tượng phải tiêu diệt, đồng nghĩa “nội chiến” tiềm tàng! Tôi tin rằng chủ nghĩa yêu nước chân chính của người Việt gắn liền với các cuộc kháng chiến chống ngoại xâm không thể và không bao giờ chấp nhận một sản phẩm “bệnh hoạn” đến như vậy!

    BA LÀ, khẳng định và bảo vệ chủ quyền quốc gia trên biển không phải là chức năng của ngư dân. Trung tướng Chủ nhiệm Ủy ban An ninh Quốc phòng của Quốc hội Lê Quang Bình cho rằng: “Dân quân Tự vệ biển sẽ được trang bị súng để có thể tự vệ khi bị tấn công, đây là lực lượng nòng cốt giúp người dân khi ra biển, xác định đâu là chủ quyền VN”. Đại biểu Quốc hội Nguyễn Đăng Trừng cũng cho rằng “nếu không tổ chức khai thác đánh bắt (hải sản) liên tục trên vùng biển của ta thì dần dần trong thực tế, chúng ta sẽ mất chủ quyền trên vùng biển của mình” và để bảo đảm quyền đánh bắt (hải sản) thì phải vũ trang ngư dân. Những nhận định trên là hoàn toàn sai lầm, ấu trĩ và rất phi thực tế, vì người dân đi biển là để mưu sinh còn khẳng định hay bảo vệ chủ quyền quốc gia trên biển là chức năng của Nhà nước và quân đội. Vả lại, do thời tiết bất thường hay bệnh tật mà ngư dân không thể đi biển, không lẽ VN lại mất chủ quyền biển?! Ngư dân dù có đông đến mấy cũng không thể dàn khắp hải phận quốc gia, không lẽ VN lại mất chủ quyền đối với những vùng không được ngư dân “phủ”?!

    Tóm lại, trong mọi tình huống không thể biến ngư dân thành “người đóng thế” cho hải quân, biến sinh mạng của họ thành “thuốc thử” chủ quyền quốc gia!

    BỐN LÀ, cứu hộ trên biển là hoạt động nhân đạo, do đó về bản chất là hoạt động dân sự ngay cả trên chiến trường, giống hệt hoạt động Chữ Thập đỏ trên đất liền. Vì lẽ này, hoạt động cứu hộ là bắt buộc đối với tất cả những ai hoạt động trên biển, dù đó là ngư dân, thủy thủ tàu thương mại, hải quân hay cảnh sát biển. Như vậy, quan điểm cho rằng có biên chế trong tổ chức Dân quân, Tự vệ biển thì mới có thể được huấn luyện và thực hiện công tác cứu hộ trên biển là hoàn toàn ngụy biện. Cũng cần khẳng định rằng lực lượng chính thực hiện cứu hộ trên biển vẫn luôn là hải quân và cảnh sát biển.

    NĂM LÀ, Dân quân, Tự vệ biển rất dễ trở thành “ngòi nổ” cho chiến tranh xâm lược lãnh thổ của VN trên biển. Theo Dự luật, Dân quân, Tự vệ biển được quyền nổ súng trong trường hợp phát hiện địch khi tuần tra biển, đảo. Thế nhưng với tư cách lực lượng vũ trang không chuyên, Dân quân, Tự vệ không thể có khí tài, thông tin hoặc sự chỉ huy thống nhất cần thiết như lực lượng vũ trang chính quy để có thể xác định “địch” một cách tuyệt đối chính xác hoặc nổ súng đúng lúc, dẫn đến khả năng bắn nhầm dân thường nước ngoài hoặc nổ súng không cần thiết khi bị khiêu khích là rất cao. Tất cả những sai lầm này dù nhỏ nhất chắc chắn sẽ bị các lực lượng nước ngoài mưu đồ bành trướng nhanh chóng biến thành cớ để gây chiến tranh xâm lược!

    SÁU LÀ, Dân quân, Tự vệ không thể là lực lượng tác chiến trên biển. Thực vậy, cuộc chiến trên biển khác hẳn cuộc chiến trên đất liền. Trong cuộc chiến trên đất liền, mọi loại vũ khí có thể phát huy tác dụng, kể cả vũ khí thô sơ, đồng nghĩa Dân quân, Tự vệ trang bị vũ khí nhẹ có vai trò của nó. Ngược lại, chỉ duy nhất các phương tiện chiến tranh tối tân như tàu chiến (gồm cả tàu ngầm), máy bay chiến đấu hay tên lửa mới có khả năng bảo vệ hải phận quốc gia. Nói cách khác, giao cho dân binh nhiệm vụ bảo vệ chủ quyền quốc gia trên biển không gì khác hơn là đẩy họ vào chỗ chết!

    BẢY LÀ, lập Dân quân, Tự vệ biển để bảo vệ sinh mạng của ngư dân, bảo vệ chủ quyền quốc gia trên biển là làm mất uy tín của quân đội. Thực vậy, làm sao người dân có thể hiểu nổi một quân đội dày truyền thống “vì nhân dân quên mình” lại có thể làm điều ngược lại là cổ võ trên thực tế người dân xông vào chỗ chết thay cho mình như trên đã phân tích! Thông cảm hơn là những quan điểm cho rằng lập dân quân, du kích biển chỉ là giải pháp tình thế hay bất đắc dĩ trong bối cảnh quân đội vẫn chưa định hình được chiến lược phòng thủ bền vững hay quân đội còn phải dành sức để chống “diễn biến hoà bình” và “tự diễn biến hoà bình” được xác định là nhiệm vụ chính trị đặc biệt quan trọng, nhất là trong bối cảnh Đại hội Đảng XI đang đến gần như tuyên bố của nhiều tướng lĩnh… Bất luận thế nào thì việc lập Dân quân, Tự vệ biển trong bối cảnh tàu nước ngoài tung hoành đe dọa sinh mạng và tài sản của ngư dân ngay trong hải phận quốc gia chắc chắn không chỉ làm sút giảm nghiêm trọng lòng tin của nhân dân vào quân đội gắn với thể chế chính trị hiện hành mà còn dẫn đến hiểm họa mất chủ quyền quốc gia thực sự khi nước ngoài lấy đó làm dấu hiệu suy yếu của quốc phòng VN để lấn tới!

    Với trình bày trên, nhằm mục đích bảo vệ một cách bền vững Tổ quốc VN nói chung, chủ quyền biển của VN và sinh mạng của ngư dân nói riêng, tôi, Cù Huy Hà Vũ, khẩn cấp kiến nghị với Quốc hội:

    1. Không tổ chức Dân quân, Tự vệ biển;

    2. Không đầu tư dàn trải cho an ninh–quốc phòng mà tập trung hiện đại hóa hải quân và cảnh sát biển (kiên quyết xoá bỏ những tập đoàn kinh tế Nhà nước lỗ hoặc không hiệu quả để có thêm nguồn vốn thực hiện mục tiêu này);

    3. Định hướng chiến lược phòng thủ biển trên căn bản liên minh quân sự với cường quốc trên biển.

    Trân trọng,

    Tiến sĩ Luật CÙ HUY HÀ VŨ

    Email: havulaw@yahoo.com

    http://bauxitevietnam.info

   

    “Dưới gầm trời này, chẳng có đất nào không là đất của thiên tử” – Ngạn ngữ Trung Hoa.

    Mật Lệnh Của Anh Ba

    Chuyện kể quanh bàn nhậu: Năm 1977, anh Ba ra lệnh cho BCH TƯĐ: “Phải gấp rút lên phương án sản xuất để đến năm 1980, mỗi nhà đều có một tủ lạnh”. Ngay sau đó, anh Ba lại ra lệnh: “Phải có kế hoạch sản xuất thêm cho mỗi nhà một tivi”. Đầu năm 1979, anh Ba đích thân hối hả đến xí nghiệp Nghĩa Tận, hạ mật lệnh: “Đóng gấp cho nhân dân mỗi người một áo quan! Ưu tiên hàng đầu là bộ phận nhân dân ở Tây Nam và Chính Bắc”.

    Ba thập kỷ sau, gần cuối năm 2009, rừng đã kiệt mà áo quan vẫn chưa đóng đủ. Cháu anh Ba bèn tính kế khác: Phát động Dân Quân Tự Vệ Biển.

    Từ Nước Đôi Tới Tay Đôi

    Ngày 24-1-2007, Ban chấp hành Trung ương đảng đã ra Nghị quyết về “Chiến lược biển VN đến năm 2020”. Theo đó, “Đến năm 2020 phải phấn đấu để nước ta trở thành một quốc gia mạnh về biển, giàu lên từ biển, bảo vệ vững chắc chủ quyền, quyền chủ quyền quốc gia trên biển. Phấn đấu đến năm 2020, kinh tế biển đóng góp khoảng 53-55% GDP, 55-60% kim ngạch xuất khẩu của cả nước”.

    Tháng 4-2007, người Phát ngôn Bộ Ngoại giao TQ yêu cầu VN đình chỉ việc phân lô, gọi thầu và hợp tác với Tập đoàn Dầu khí BP của Anh trong tiến trình xây dựng đường ống khí đốt ở Trường Sa. Người Phát ngôn Bộ Ngoại giao VN long trọng trả lời: “VN có đầy đủ bằng chứng lịch sử và cơ sở pháp lý để khẳng định chủ quyền của mình đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa”.

    Cuối năm 2007, Quốc vụ viện TQ ban hành quyết định thành lập huyện Tam Sa, bao gồm cả Hoàng Sa và Trường Sa của ta. Thanh niên sinh viên Việt Nam biểu tình phản đối trước sứ quán và lãnh sự quán TQ tại VN. Lựa chọn ứng xử của đảng và nhà nước ta là huy động công an các thứ ra giải tán/đàn áp/bắt nguội sinh viên/thanh niên/dân oan/bloggers.

    Tháng 4-2008, nhà nước CHXH CNVN tổ chức trọng thị và an toàn cuộc rước đuốc Olympic Bắc Kinh bằng một khung cảnh Sài Gòn rực cờ TQ, bất kể bản đồ TQ trên bích chương Thế vận hội 2008 bao gồm cả 2 quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa của ta. Món quà Thế vận hội nhà nước ta trao tặng Bắc Kinh (để chuộc tội sinh viên biểu tình trước sứ quán TQ mấy tháng trước đó?) là bản án “thiếu thuế” của blogger Điếu Cày.

    Tháng 7-2008, TQ xác nhận đã chính thức yêu cầu Cty Exxon Mobil của Mỹ phải ngừng khai thác dầu với Việt Nam ngoài biển Đông, vì lý do TQ coi đó là vi phạm lãnh hải của TQ. Phản ứng câm lặng của VN đã khiến Exxon Mobil quyết định cuốn gói.

    Ngày 7-5-2009, TQ trưng bản đồ 9 vạch hình lưỡi bò và tuyên bố trước Liên hợp quốc: “Trung Quốc có chủ quyền không thể tranh cãi đối với các đảo ở biển Nam Trung Hoa”. Phát ngôn viên bộ Ngoại giao của ta vẫn tiếp tục ấp úng/cà lăm trong các buổi họp báo thường kỳ (tại Hà Nội): “VN có đầy đủ bằng chứng lịch sử và cơ sở pháp lý để khẳng định chủ quyền của mình đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa”.

    Giữa tháng 5-2009, Trung Quốc ra thông báo từ 12g ngày 16-5-2009 đến 12g ngày 1-8-2009 tất cả các tàu cá VN đều không được vào vùng biển từ 12 độ vĩ Bắc trở lên để đánh bắt cá.

    Ngày 4-6-2009, Thứ trưởng Bộ Ngoại giao Hồ Xuân Sơn đã giao thiệp với đại sứ TQ Tôn Quốc Tường, “đề nghị phía TQ không có các hoạt động cản trở hoạt động bình thường của ngư dân VN tại ngư trường truyền thống của VN”.

    Ngày 11-6-2009, Chủ tịch Hội Nghề cá VN Nguyễn Việt Thắng đã lên mặt báo để động viên ngư dân hãy yên tâm đánh bắt, và kiến nghị Ch. phủ ta phản đối lệnh cấm của TQ.

    Giữa tháng 6-2009, hải quân TQ đã bắt giữ và công khai đòi tiền chuộc (tổng cộng 210 ngàn nhân dân tệ) đối với 37 ngư dân huyện đảo Lý Sơn, Quảng Ngãi, khi họ đang thực hiện hoạt động đánh bắt bình thường ở khu vực quần đảo Hoàng Sa của ta, với lý do “xâm phạm lãnh hải Trung Quốc”. Đòi tiền chuộc chính là hành vi/thủ đoạn của khủng bố/hải tặc/giặc cướp. Đảng và nhà nước ta phản ứng ra sao? Ông Nguyên (ở Úc), một độc giả của RFA, nêu thắc mắc: “Trên thế giới này có nhà nước nào nói là độc lập tự chủ, mà lại khuyên ngư dân của mình là khi đi biển thì phải thường nên liên lạc và tự bảo vệ cho nhau, và khi có gì xảy ra thì phải mau mau cứu lấy nhau…” ?

    Giữa tháng 7-2009, tái hiện tình hình Tàu “lạ” lại thường xuyên xuất hiện với vận tốc cực nhanh, đâm chìm tàu cá của ngư dân Quảng Ngãi, khiến nhiều người bị thương. Trước đó, suốt từ tháng 5, tháng 6, là các vụ tàu “lạ” đâm chìm tàu cá của ta. Những thông tin lược kết các bài trên báo về hiện tượng tàu “lạ” có thể chỉ còn lại bản lưu.

    Cũng trong tháng 7-2009, TQ phong tỏa ngư trường, ngăn chận ngư dân VN đánh bắt trên vùng biển lưỡi bò. Theo người phát ngôn bộ Ngoại giao TQ Tần Cương: “Việc cấm đánh bắt cá ở khu vực biển Nam Trung Hoa là một biện pháp hành chính thường lệ và hợp lý của Trung Quốc”. Chủ nhiệm Ủy ban Quốc phòng An ninh QH khóa XII Lê Quang Bình đã long trọng nhấn mạnh: “Những người dân đi đánh bắt cá trên biển phải biết được mình hoạt động trên vùng biển nào”!

    Ngày 28-9-2009, 7 chiếc tàu đánh cá của hơn 200 ngư dân Quảng Ngãi chạy vào trú bão tại đảo Trụ Cẩu, thuộc quần đảo Hoàng Sa, bị hải quân TQ bắn đuổi đi. Hai ngày sau, tan bão, họ lại bị 1 chiến hạm TQ mang ám số 1312 ngăn chận, lục soát, cướp bóc, đánh đập dã man. Phản ứng của chính quyền CHXHCNVN ra sao? Hội Nghề cá Việt Nam đã ra văn bản kịch liệt phản đối và yêu cầu Chính phủ Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa chỉ đạo các lực lượng hải quân TQ chấm dứt ngay và không lặp lại các hành động ngăn cản, cướp phá tài sản, đánh đập ngư dân Việt Nam khi họ vào đảo để tránh, trú bão.

    Đầu tháng 10-2009, Đại sứ VN tại Bắc Kinh Nguyễn Văn Thơ đánh giá cao ngày Quốc khánh TQ trên đài phát thanh quốc tế TQ (China Radio International-CRI): “Đây là niềm tự hào của nhân dân Trung Hoa, cũng là niềm tự hào của các nước châu Á trong đó có Việt Nam…”.

    Giữa tháng 10-2009, Thứ trưởng Bộ Ngoại giao Đoàn Xuân Hưng trả lời phỏng vấn đài CRI: “Quan hệ giữa hai nước chúng ta hiện nay đang ở trong giai đoạn quan hệ tốt đẹp nhất trong lịch sử quan hệ chúng ta”.

    Cuối tháng 10-2009, trả lời câu hỏi của VietNamNet về việc đẩy mạnh các hoạt động dân sự tại các đảo thuộc chủ quyền Việt Nam, Phó đô đốc Tư lệnh quân chủng hải quân nhân dân VN Nguyễn Văn Hiến, nói: “Đây là quyết định chính xác, đúng đắn của Đảng và Nhà nước, bởi chủ quyền đến đâu, chúng ta bảo vệ quân sự đến đó”.

    Cụm từ khóa của chủ trương này là: Dùng Hoạt Động Dân Sự Để Bảo Vệ Quân Sự.

    Vẫn cuối tháng 10-2009, thông qua kỳ họp QH, đảng CSVN và nhà nước CHXHCNVN ban hành chủ trương “Lập dân quân tự vệ biển để giữ chủ quyền biển đảo”. Chủ nhiệm UB Quốc phòng-An ninh QH khóa XII Lê Quang Bình nhấn mạnh quyết tâm “phát triển tốt hơn lực lượng dân quân, tự vệ biển, làm nòng cốt bảo vệ người dân trên biển”.

    Cụm từ khóa của chủ trương này là: Lực Lượng Nòng Cốt Bảo Vệ Người Dân Trên Biển.

    Chọn Lựa Ứng Xử Bạo Động

    Thử bước đầu tìm hiểu động cơ nảy sinh chủ trương ứng xử bạo động nói trên?

    Một trong những kết luật rất đáng quan tâm của Hội thảo về Biển Đông do Học viện Ngoại giao tổ chức ngày 17-3-2009 là: “TQ làm rất tốt công tác nghiên cứu, quảng bá, chuẩn bị dư luận, đây là ‘cuộc chiến không cân sức’ của VN”, cho dù các địa danh Tây Sa và Nam Sa chỉ xuất hiện từ năm 1909 trên các tài liệu của Trung Quốc. Ngược lại, ta từng xác định chủ quyền trên Hoàng Sa và Trường Sa từ nhiều thế kỷ trước, nhưng cho tới nay vẫn chưa có nổi một chiến lược biển toàn diện và một bộ luật chủ quyền (vì mãi lo làm luật ổn định?).

    – Ta không đủ văn bản/dữ kiện nghiên cứu về biển đảo như TQ, cho nên lo ngại kết quả vụ việc tranh chấp có hiệu năng không cao chăng? Rõ là phải tính mánh khác!

    Theo GS Ramses Amer, đại học Stockholm: “Ngay cả khi đã ra tòa án quốc tế và có phán quyết, theo lý thuyết, nếu một bên từ chối thi hành phán quyết của tòa, vấn đề có thể được chuyển lên cho Hội đồng Bảo an LHQ xử lý. Với xung đột biển Đông, vụ việc sẽ đi vào bế tắc bởi TQ với tư cách thành viên thường trực HĐBA sẽ dùng quyền phủ quyết”… Còn AESAN? Hãy nhớ rằng “Quan hệ của họ với Trung Quốc quan trọng hơn với Việt Nam”. Và TQ vẫn cố bẻ đũa từng chiếc, để tạo ảnh hưởng song phương (để có nhiều ưu thế) hơn là đa phương.

    – Ta không thấy có nhiều ánh sáng ở cuối đường hầm quốc tế hóa vụ việc như mình mong đợi chăng? Rõ là phải tính mánh khác!

    Theo Wikipedia: “Phương châm 16 chữ vàng là Láng giềng hữu nghị-Hợp tác toàn diện-Ổn định lâu dài-Hướng tới tương lai, do chính lãnh đạo Trung Quốc đưa ra, xác định tư tưởng chỉ đạo và khung tổng thể phát triển quan hệ hai nước Việt–Trung trong thế kỷ mới, đánh dấu quan hệ Trung-Việt đã bước vào giai đoạn phát triển mới”… “cũng như đẩy nhanh hơn tiến độ triển khai các Thỏa thuận, Hiệp định hợp tác giữa hai nước, và trao đổi về các vấn đề quốc tế và khu vực mà hai bên cùng quan tâm”.

    – Lãnh đạo ta bị TQ trói cả tay lẫn chân, bịt cả mắt lẫn miệng, bằng 16 chữ vàng và nhiều ngân phiếu của ngân hàng Thụy Sĩ rồi chăng? Rõ là phải tính mánh khác!

    Phát biểu chỉ đạo tại Hội nghị Công an toàn quốc hôm 22-12-2008, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đã yêu cầu ngành công an trong năm 2009 phải chủ động “không để xảy ra biểu tình, bạo loạn, khủng bố”.

    – Ta không dư dôi bộ đội và công an để lo mặt biển của Tổ quốc (trong lúc mặt nạ của lãnh đạo đang trên đà rơi gia tốc) chăng? Rõ là phải tính mánh khác!

    Vẫn theo lời Chủ nhiệm UB Quốc phòng-An ninh QH khóa XII, nguyên Trưởng ban Dân Nguyện thuộc Uỷ ban thường vụ QH khóa XI Lê Quang Bình: “Năm 2010 là năm nhiều sự kiện chính trị quan trọng của đất nước: ĐH Đảng các cấp tiến tới ĐH Đảng toàn quốc, kỷ niệm các ngày lễ lớn. Hiện nay, các thế lực thù địch đang lợi dụng cơ hội này tăng cường chống phá, làm suy yếu sự lãnh đạo của Đảng, vô hiệu hóa sự quản lý của nhà nước… Hai là vấn đề biển Đông đang có diễn biến phức tạp. Do đó, cần phải tăng cường khả năng bảo vệ chủ quyền và lợi ích của Việt Nam ở biển Đông, nhất là lợi ích của người dân đang hằng ngày hoạt động đánh bắt cá trên biển”.

    – Thế là rõ: Quân đội và công an là lực lượng nòng cốt cần dồn sức tập trung vào nhiệm vụ bảo vệ đảng và mục tiêu ổn định chính trị trên đất liền. Còn dân quân tự vệ biển là lực lượng nòng cốt bảo vệ người dân và chủ quyền đất nước trên biển.

    Đảng ta đã từng chọn chủ nghĩa và lịch sử cho dân tộc. Nay, chỉ chọn thêm giải pháp!

    Vẫn ngoài mặt hòa hoãn nước đôi. Còn đằng sau đánh lén tay đôi. “Tiền Lễ Hậu Binh”. Vừa êm với giặc. Vừa mị được dân. Chết dân nhưng còn đảng. Tại sao không?

    Cốt Lõi Của Giải Pháp?

    Đây là phiên bản tân trang của chiến lược dân công/du kích thời đánh Tây/chống Mỹ. Tên gọi chính thức là “Chiến Tranh Nhân Dân”, với cội nguồn tuyên truyền kích động cơ bản là lòng căm thù của nhân dân đặt trên những bản tin/chuyện kể không có thật. Anh hùng thiếu nhi Lê Văn Tám của ta, không cần vào bộ đội, cũng từng làm đuốc sống đốt rụi kho xăng/đạn Thị Nghè. AK47 của dân quân tự vệ ta đã từng bắn B52 của địch rơi như vãi trấu. Út Tịch nhà ta đã chẳng từng (tay không mang bầu tám tháng vào cướp đồn) đánh tới còn cái lai quần, cũng đánh đó sao?

    Chuyện xưa đã thế. Chuyện nay phải hơn thế: Tất cả công an và bộ đội (hải/lục/không quân) của ta đều nhất loạt biến thành anh hùng Núp (bok Núp/all Núp), nhằm bảo vệ tuyệt đối nền an ninh/ổn định chính trị cho cả nước. Còn nhân dân sẽ “tự phát” nhận lãnh sứ mệnh lịch sử là tự bảo vệ lấy sinh mạng, sinh kế, gia đình, đất nước, và cả chủ quyền thiêng liêng của quốc gia.

    Nước ta từng được đảng ta mô tả là nổi tiếng về tiền rừng bạc biển. Tiều phu (và lâm tặc) ta không lên rừng đốn cây nhặt củi thì chủ quyền rừng thuộc về ai? Ngư dân ta không ra biển đánh cá và đánh giặc thì chủ quyền biển sẽ thuộc về ai? Nay mai sẽ tới phiên bọn trẻ mục đồng thả diều lại vinh quang nhận lãnh trách nhiệm bảo vệ chủ quyền không phận nước nhà nữa, không chừng! Ta đã chẳng từng bảo “Dân đi trước – làng nước theo sau” đấy phỏng? Ta đã chẳng từng có Dân Phòng/ Dân Vệ là gì? Ta đã chẳng từng reo hò “Vũ khí tối tân không bằng toàn dân ra trận”, hay, “Thóc không thiếu một cân, dân không thiếu một đứa”… đó sao?

    – Nhất định thế! Dân không thiếu một đứa! Về cơ bản, thế là xong.

    Còn, cụ thể ra, giải pháp này sẽ bao gồm nhiều hạng mục thực hiện:

    1- Dựng chòi canh biển cho xã đảo và ngư trường

    Mục tiêu rõ ràng: Nhất định phải phát hiện ra từng thằng giặc biển. Phải tự nguyện xây dựng chòi canh biển như ta đã từng di dân khai/phá các vùng kinh tế mới hồi thế kỷ trước. Phải tự nguyện chia ca thức/ngủ để canh gác hòa bình trên biển.

    Hậu cần giản dị: Thực phẩm đã sẵn có hải sản các thứ tại chỗ. Báo chí lề phải đừng dại dột/cảm tính/láu cá mà phát động các phong trào mang ánh sáng ra chòi canh biển. Ta cần núp vào bóng tối để phát hiện địch (như MIG của ta núp vào mây để bắn tỉa B52 xưa kia), nên không thể thắp sáng để địch phát hiện (đi không dấu, nấu không khói, nói không ồn).

    Tuyên truyền chắc cú: Lịch sử ta đã có những Khúc tráng ca nhà giàn, nay, sẽ tăng cường thêm những Khúc tráng ca về chòi canh biển.

    2- Trang bị vũ khí cho ngư dân: Một khi đã xác quyết “Chúng ta nhất định giành chiến thắng!”, thì nguyên tắc cốt lõi là “Cần nhiều dân không cần nhiều súng”. Mỗi ngư dân một khẩu súng là lý tưởng, nhưng thực tế ra, mỗi thuyền thúng một khẩu súng cũng đã quá thừa để giữ chủ quyền trên biển !

    VN ta có tổng cộng 28 tỉnh ven biển gắn với quốc phòng, an ninh biển, đảo. Theo thống kê của Bộ tư lệnh Bộ đội biên phòng, VN ta hiện có gần 9.000 tàu/thuyền đánh cá với hơn 63.000 người hoạt động trên biển (tương đương với 6 sư đoàn bộ binh). Đông nhất là Vũng Tàu với gần 3.000 tàu thuyền (hơn 13.000 người), Quảng Ngãi gần 1.600 tàu thuyền (hơn 12.000 người). Trong số gần một vạn ngư thuyền đó, số tàu có công suất máy nhỏ hơn 90 mã lực chiếm tới 84% tổng số tàu lắp máy trong toàn quốc.

    – Chốt lại, tối đa là chỉ cần trang bị sáu vạn súng ống cho ngư dân. So với 1 con SU hay 1 tàu ngầm mà đảng và nhà nước đang đặt hàng, thì ngần đó súng ống chỉ là …số lẻ.

    3- Phủ sóng khẩu hiệu cho toàn dân:

    “Nhiệt liệt chào mừng Ngư Dân – lực lượng nòng cốt bảo vệ chủ quyền biển đảo VN”; “Tất cả vì chủ quyền thiêng liêng – Tất cả vì biển Đông máu thịt”; “Ngư dân Việt quyết giữ chủ quyền biển đảo Việt”; “Nâng pháp lệnh Dân Quân Tự Vệ Biển lên thành luật là một bước tiến tích cực để hoàn tất sự nghiệp công nghiệp hóa-hiện đại hóa đất nước”; “Thực hiện tốt Luật Dân Quân Tự Vệ Biển là tích cực góp phần vào việc xây dựng sự nghiệp công nghiệp hóa-hiện đại hóa đất nước”; “Tích cực chủ động bảo vệ biển đảo, sẵn sàng phát hiện địch quân kịp thời và có hiệu quả”; “Vũ khí chỉ là phù du – Tinh thần mới là sức mạnh”; “Ngư dân quyết tử cho biển đảo quyết sinh”; “Canh ngày không đủ, tranh thủ gác đêm”; “Ngư dân VN quyết hoàn thành xuất sắc sứ mạng bảo vệ chủ quyền biển đảo”; “Dân ở chòi vinh quang như Bác ở hang”; “Không có gì sướng bằng Tay súng-Tay dầm”; “Thà mất mạng không để mất lưới”; “Đi biển hào hùng hơn đi lính”; “Cá ta đánh bắt – Giặc ta phát hiện”; “Ngư dân VN kiên quyết phát hiện, ngăn chặn và đẩy lùi bọn giặc cướp chủ quyền biển đảo”; “Ngư dân phải canh gác chủ quyền biển đảo như gìn giữ con ngươi của chính mình”; “Công an gắn liền với đường phố – Quân đội gắn liền với doanh trại – Ngư dân gắn liền với chòi canh”; “Ngư dân yếu thì biển đảo mất – Ngư dân mạnh thì biển đảo còn”; “Ngư dân quyết tâm thực hiện có hiệu quả Chiến lược Dân Quân Tự Vệ Biển vì sự gìn giữ chủ quyền biển đảo thiêng liêng của Tổ quốc VN”; “Còn ngư dân là còn chủ quyền biển đảo”; “Di dân ra biển đảo là tích cực thực hiện định hướng về yêu nước”; “Ngư dân VN quyết tâm giương cao ngọn cờ Độc lập Dân tộc gắn liền với Chủ nghĩa Xã hội trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ chủ quyền đất nước”; “Tuổi trẻ VN sống, lao động, học tập, chiến đấu, đánh cá và đánh giặc theo gương sáng các lão ngư dân xông pha giữ gìn chủ quyền biển đảo nước nhà”; “Một chòi ngã xuống, ngàn chòi mọc lên”; “Quyết tâm thực hiện xuất sắc Đại đoàn kết Ngư dân vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh, và Bảo vệ Toàn vẹn Chủ quyền Đất nước”; “Toàn dân tích cực hưởng ứng Ngày Ngư dân Giữ biển”; “Xây dựng Hội Nghề Cá VN vững mạnh là trực tiếp góp phần bảo vệ chủ quyển biển đảo VN”; “Toàn dân quyết tâm xây dựng lực lượng nòng cốt ngư dân bảo vệ chủ quyền biển đảo VN”; “Ngư dân VN quyết tâm ra sức rèn đức, luyện tài, xung kích, sáng tạo… trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ chủ quyền biển đảo thiêng liêng của Tổ quốc”…

    4- Chuyển loa phường cả nước ra các chòi canh biển để địch vận: Phát nhạc Tàu, đọc xã luận tiếng Tàu, liên tục hô vang khẩu hiệu tiếng Tàu:

    “Đi lính là chết vô ích”; “16 chữ vàng muôn năm/vạn tuế!”; “Dùng vũ lực là đi trái lề văn minh nhân loại!”; “Ăn gian là nhục! Ăn hiếp là hèn!”; “Hảo hán không xài đại liên”; “Phá chòi canh là thiếu tinh thần xây dựng”;“Dùng tàu ngầm là thiếu tinh thần minh bạch”; “Bắn đại bác là thiếu tinh thần thượng võ”; “Ủi sập chòi, đâm chìm ghe… là thiếu tinh thần hữu hảo”; “Láng giềng cưỡng hiếp láng giềng là ngang ngược xóa sạch phương châm 4 tốt”; “Giết ngư dân Việt cũng bằng chém cha tổ phụ A.Q. của chúng mày” …

    5- Nhiệm vụ của Tuyên Giáo TW:

    Cốt lõi là bịt mồm phản biện. Nhưng, cụ thể sẽ bao gồm nhiều mũi nhọn hoạt động:

    Một là, sau khi nâng pháp lệnh lên thành luật “Dân quân tự vệ biển–Lực lượng nòng cốt bảo vệ chủ quyền thiêng liêng trên biển của Tổ quốc”, phải khẩn nghiên cứu để đưa luật này vào Hiến Pháp 2010. Ghi luôn cả khẩu hiệu khuyến khích di dân ra biển đảo nữa, cho chắc bắp.

    Hai là tổ chức hội thảo liên tục về chủ đề “Ngư dân và Nghĩa vụ bảo vệ chủ quyền biển đảo”. Liên tục đưa ra các khuyến nghị/phân tích/kết luận về tính đúng đắn của chủ đề và được đông đảo dư luận đồng tình.

    Ba là khẩn đúc kết kinh nghiệm trong tranh chấp ở vùng biển Tây Nam vào những năm 80 của thế kỷ trước, khẩn soạn thảo/kiểm tra/biên tập lại toàn bộ tài liệu/cẩm nang hỏi đáp Những điều ngư dân cần biết trong hoạt động thuỷ sản trên trang mạng cpv.org.vn, sao cho thích nghi với tình thế mới/tiêu chí mới là: giặc bớt giận, dân thôi kêu. Đồng thời gấp rút nghiên cứu dự án Dạy tiếng Trung cho Lực lượng Nòng cốt Gìn giữ Chủ quyền Biển đảo Thiêng liêng của Tổ quốc.

    Bốn là nghiên cứu/đề xuất/tổ chức/tuyển chọn nhân sự vào những cơ chế trực thuộc TW dùng để điều hành/chỉ huy/kiểm tra các đơn vị dân quân tự vệ biển, đặc biệt là để kiểm kê vũ khí đạn dược và chế tài việc lạm dụng vũ khí cho mục đích cá nhân hoặc gây thiệt hại cho tài sản XHCN.

    Năm là nghiên cứu/đề xuất ra các loại huy chương/huân chương/kỷ niệm chương và các hình thức khen thưởng cho ngư dân xả thân bảo vệ chủ quyền biển đảo thiêng liêng của Tổ quốc.

    Sáu là quy hoạch/tổ chức “chòi canh mẫu trên biển” để tập huấn và quay phim phóng sự.

    Bảy là phát động thi đua liên tục về tìm hiểu biển đảo và đặt vè động viên phong trào Ngư dân bảo vệ chủ quyền biển đảo.

    Tám là: Đưa biển, đảo vào môn giáo dục quốc phòng, song song với các dự án Đưa sân golf ra đảo xa.

    Chín là tổ chức trọng thị và an toàn, sau đó, tuyên truyền rộng rãi về những chuyến tham quan bất ngờ và chớp nhoáng của lãnh đạo các thứ, theo gương nhà thơ Trần Đăng Khoa từng kể chuyện về những lần tướng Giáp Văn Cương bí mật đột nhập lên đảo thăm lính.

    6- Nghĩa vụ của Thông Tin-Truyền Thông:

    Chính yếu là tụng ca chính sách, nhân rộng mô thức Lã Thanh-Kiu trên cả nước.

    Đóng nút Facebook thành Fake-book xong rồi lần lượt tới YouTube, Flickr… và các mạng liên kết xã hội còn lại.

    Khai trương tờ báo in/báo online “An Ninh Đại Dương” trên mạng CAND.com.vn, và tờ báo trực tuyến “Ngư Trường Trù Phú” thuộc mạng Công Thương mot.gov.vn.

    Thực hiện bộ phim nhiều tập “Tầm Nhìn Xuyên Sóng Cả” để tuyên dương nếp sinh hoạt của ngư dân trên các chòi canh biển chung quanh những “cái giọt máu dưới ngầu ngầu bọt sóng” (như nhà thơ Trần Đăng Khoa từng mô tả các đảo chìm).

    Phục hồi phong trào “Trong Thơ Có (lưới) Thép” – Mỗi thi nhân là một nhà quân sự/nhà hàng hải/nhà thiên văn/nhà khí tượng.

    Đẩy mạnh chiến dịch phổ thơ thành nhạc theo chủ đề “Ngư Dân Anh Hùng và Vận Nước Nổi Trôi”, hoặc, vắn tắt là “Ngư Dân và Vận Nước”.

    Triển lãm ký họa/nhiếp ảnh/điêu khắc về chủ đề “Dáng Đứng Chòi Canh Tạc Vào Thế Kỷ”.

    Phóng tác thành sách những anh hùng/liệt sĩ “Yết Kiêu Thời Đại”.

    Đặt hàng/triển khai những loạt phóng sự/bút ký tương tự như đoàn tàu không số chở vũ khí chi viện cho chiến trường miền Nam thời trước.

    Tổ chức những chuyến nữ học sinh/sinh viên ra khơi thăm biển đảo. Tổ chức dịch vụ Du Lịch Chủ Quyền Biển Đảo VN theo mô thức du lịch sinh thái trong bờ. Tổ chức thi hoa hậu dân quân tự vệ biển…

    Khắc Phục Mọi Khó Khăn!

    Tạm thời liệt kê những khó khăn cần khắc phục trước mắt, theo dạng hỏi-đáp:

    Làm sao cho nhân dân, đặc biệt là ngư dân, hoàn toàn ủng hộ chính sách bảo vệ chủ quyền biển đảo?

    – Phải giáo dục nhân dân cho tới khi quán triệt về quan điểm/chủ trương Quốc Phòng Toàn Dân của đảng ta. Luật Dân quân tự vệ Biển chính là để hiện thực hóa chiến lược quốc phòng toàn dân, tận dụng sức dân (thay sức lính) để bảo vệ tổ quốc. Nói cách khác: Ở đâu có dân, ở đó có lực lượng vũ trang quần chúng, làm cho cả đất nước Việt Nam thành trận địa “thiên la địa võng” bao vây quân địch, kể cả ngay giữa trùng khơi.

    Tàu cá của ta có súng có thể bị tàu nước khác nghi nhầm là cướp biển (kiểu Somali)?

    – Không đáng lo. Chủ nhiệm UB Quốc phòng-An ninh QH khóa XII Lê Quang Bình đã tiên liệu: “Khi trang bị phải có giấy chứng nhận để đảm bảo cho họ có quyền giữ vũ khí mà tránh nhầm lẫn là cướp biển”. Có khi còn phải ghi mẫu giấy chứng nhận này vào bộ nguyên tắc ứng xử biển Đông cho mọi bên đều nhận diện cho rõ nữa cơ! Nếu “Trung với đảng” là phải đánh tan mọi nghi vấn về đảng cướp đêm/cướp ngày, thì, nguyên tắc “Hiếu với dân” không cho phép chúng ta để cho địch nghi nhầm ngư dân ta là cướp sông/cướp biển!

    Tổ chức đội ngũ nòng cốt bảo vệ chủ quyền biển ra sao?

    – Đó là tiểu đội, trung đội hay đại đội do mỗi huyện quyết định tùy thuộc vào tình hình cụ thể. Nếu đã là cấp đại đội thì phải có ban chỉ huy, có chỉ huy trưởng, chỉ huy phó, chính trị viên… Có các tổ, các đội. Ví dụ, mỗi đội tàu có một tổ vừa lo đánh cá, vừa lo bảo vệ. Có sự phân chia và phối hợp. Ví dụ, trong mỗi vùng biển, mỗi tổ đánh cá ở một khu vực tọa độ nhất định. Khi bị tấn công, tổ đó vừa liên hệ với trong bờ, vừa có phối hợp với tổ khác để bảo vệ.

    Làm sao ngư dân sống được trong điều kiện “Lều bạt chung chiêng giữa nước giữa trời/ Đến một cái gai cũng không sống được”?

    – Thi sĩ thần đồng Trần Đăng Khoa đã cường điệu trong thơ ca thế thôi, chứ trên thực tế, cứ ngoái nhìn vào đội ngũ sửa lấp đường Tr. Sơn thời đánh Mỹ trước đây, thì sẽ thấy ngư dân Tr. Sa ta thời nay có dư khả năng khắc phục những điều kiện sống khắc nghiệt nhất, kể cả trên thuyền cá hay trên chòi canh biển. “Khó vạn lần dân liệu cũng xong” mà lị!

    Thiếu tướng Bùi Sỹ Trinh, Chính ủy Cảnh sát biển (Bộ Quốc phòng), từng nhận định: “Hiện tượng ngư dân Việt Nam sang vùng biển của các nước đánh bắt hải sản và bị các lực lượng nước ngoài bắt, phạt tiền không giảm. Vẫn còn hiện tượng tranh chấp ngư trường, trộm cắp ngư lưới cụ trong vùng đánh cá chung Vịnh Bắc Bộ và các vùng biển chồng lấn giữa VN và các nước lân cận…”. Làm sao chấm dứt hiện tượng này?

    – Phải giáo dục ngư dân ta thêm nữa thôi, không có cách nào khác.

    Làm sao ngư dân biết chính xác vị trí tàu mình trên biển để tránh xâm nhập vào những vùng biển đang tranh chấp?

    – GS Carl Thayer có nói: “Để trang bị các dụng cụ tối tân như hệ thống định vị cũng như các vũ khí cá nhân đòi hỏi rất nhiều ngân sách. Trong giai đoạn này ít nhất hàng trăm triệu đô la phải bỏ ra cho ngư dân mà điều này tôi tin là rất khó thực hiện”. Carl không thể rõ ta định trang bị loại/hiệu/đời súng nào cho ngư dân! Tuy nhiên, ta vẫn phải giáo dục rốt ráo ngư dân mình thôi. “Yêu cầu đặt ra là phải nắm vững pháp luật Việt Nam, luật pháp quốc tế; tuyên truyền cho ngư dân, các tầng lớp nhân dân nắm chắc đường lối chủ trương của Đảng; đồng thời đấu tranh, phản bác các luận điệu sai trái, xuyên tạc của các thế lực thù địch…”.

    Khi nào thì dân quân tự vệ được phép nổ súng?

    – Dự Luật cho phép dân quân tự vệ, trong đó có dân quân tự vệ biển, được quyền nổ súng trong 3 trường hợp: Trường hợp thứ nhất, có lệnh của Bộ trưởng Quốc phòng, Tổng tham mưu trưởng quân đội nhân dân Việt Nam, Tư lệnh quân khu và tương đương hoặc người chỉ huy các cấp được ủy quyền khi làm nhiệm vụ bảo vệ mục tiêu. Trường hợp thứ hai, khi làm nhiệm vụ bảo vệ mục tiêu, tuần tra bảo vệ biên giới, biển đảo phát hiện được địch ở mặt đất, trên biển hoặc trên không. Trường hợp thứ ba là đang thực hiện nhiệm vụ gìn giữ an ninh trật tự, an toàn xã hội và thực hiện quyền phòng vệ chính đáng.

    Tàu của địch có súng lớn không?

    – Các đoàn tàu Ngư Chính đều là chiến hạm cải trang. Ta không rõ họ được trang bị ra sao vì chưa được giải ngân cho các dự án điệp vụ/nghiên cứu. Chỉ nghe qua lời kể của ngư dân ta là “các tàu lạ có cả súng hai nòng lớn lắm y như là trên xe tăng đó! Nó phủ bạt che hết nhưng súng to lắm!”

    Liệu là một vụ nổ súng tự vệ hay vô ý cướp cò của dân quân tự vệ biển có trở thành lý cớ cho một cuộc chiến tranh quy mô giữa 2 nước không?

    – Đó là một mối lo sâu xa và có cơ sở, tuy nhiên, với đường lối đối ngoại “mềm dẻo” trong cung cách “giao thiệp” của ta, có nhiều khả năng là lãnh đạo bên đối phương sẽ thông cảm cho vị thế bắt buộc/chính đáng phải tự vệ của ngư dân ta. Tư lệnh hải quân của ta “đã đặt thẳng vấn đề với tư cách là những người trên biển với nhau, (rằng) ngư dân của chúng tôi rất nghèo nên các ngài phải đối xử nhân đạo… Tuyệt đối không được bắn, không đánh chìm tàu của dân (nghèo)…”. Họ nói rằng họ cũng rất thông cảm. Bằng không, ta sẽ lặp lại lần nữa, rằng “VN có đầy đủ bằng chứng lịch sử và cơ sở pháp lý …”.

    Tương quan lực lượng trên biển giữa ngư dân ta và hải quân địch thế nào?

    – Đó là một tương quan không cân sức, cho dù là ta chưa biết hết sức mạnh quân sự thật của hải quân “bạn”. Tuy nhiên, đừng quên rằng “Lòng yêu nước nồng nàn là vũ khí” và, “Vũ khí tối tân không bằng toàn dân ra trận”, cứ nhìn vào tương quan quân đội của ta và Mỹ ngày trước, tất sẽ thấy rõ nguyên tắc cốt lõi vẫn là “Cần nhiều dân không cần nhiều súng”. Chính lòng căm thù và tình yêu nước của “Những người dũng cảm trong bóng tối” mới quyết định chiến thắng.

    Ngư dân ta có e ngại việc mang súng lên tàu đánh cá sẽ là mối nguy hiểm không lường cho sinh mạng của họ không?

    – Một ngư dân từng bị hải quân Trung quốc cướp, đánh đập và bắt giam cho biết: “Nói chung bây giờ họ giao súng em cũng không dám đâu, tàu của họ có súng hai nòng lớn lắm nếu có gì thì họ bắn chết”. Tuy nhiên, nhiều phần có thể nhận định này xảy ra là vì ta chưa giáo dục/tuyên truyền/động viên đúng mức ngư dân của mình về chủ quyền thiêng liêng của Tổ quốc đó thôi! Những tác phẩm văn học nghệ thuật của ta về các trận chiến đánh Tây, chống Mỹ, diệt Khờ-me đỏ, và chống trả TQ trước đây đã lột tả/xiển dương/chứng tỏ tinh thần yêu nước của nhân dân ta từng vượt qua tất cả các nỗi sợ. Sau chòi canh, chúng ta sẽ dựng tượng đài trên biển.

    Trước đây ta từng gặp tình trạng Tàu cứu hộ cứu nạn ra biển đứng chờ nạn nhân đi kiếm họ, còn tàu cá phải tự dò tìm các chiếc tàu bạn bị chìm và tự cứu vớt đồng nghiệp, cả người lẫn xác. Lắm khi thuyền thúng phải đi vớt người tàu cá. Ta khắc phục thế nào?

    – Tình trạng xảy ra là vì tàu cứu hộ của VN không được vào vùng biển đó. Vừa rồi Đại tướng Lê Văn Dũng, Bí thư Trung ương Đảng, Ủy viên Thường vụ Quân ủy Trung ương, Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị Quân đội nhân dân Việt Nam đi thăm Cộng hòa nhân dân Trung Hoa để “trao đổi kinh nghiệm, thắt chặt quan hệ, góp phần củng cố và phát triển hơn nữa quan hệ đoàn kết, hữu nghị truyền thống và hợp tác nhiều mặt Việt Nam – Trung Quốc”. Hy vọng từ đó ta sẽ cứu hộ dân ta dễ dàng hơn.

    Trước đây ta cũng đã gặp tình trạng: “Tàu đặc chủng, lẫn máy bay trực thăng nào mà vuợt hàng trăm cây số để cứu anh em trong lúc trời biển cùng hiệp đồng tạo trận cuồng phong? Vĩnh biệt các thủ trưởng. Vĩnh biệt đất liền… Đó là những bức điện cuối cùng mà Sở Chỉ huy Quân chủng nhận được…”. Liệu là trong tương lai có gặp lại tình trạng đó nữa không?

    – Khó biết được, tuy nhiên, chúng ta cũng đã có nhiều lúc nhiều nơi các ghe đánh cá tự cứu hộ cho nhau và đưa các nạn nhân vào bờ. Dân cứu dân thì khỏi phải “vĩnh biệt thủ trưởng!”

    Về “Ngày Ngư Dân Giữ Biển”, Thiếu tướng Võ Trọng Việt, chính ủy Bộ Tư lệnh Biên phòng, ủy viên Ủy ban Quốc phòng-An ninh QH cho rằng: “Nên lấy ngày mà Bác Hồ thăm hải quân (30-3-1959) để nói về biển, để tất cả chúng ta suy nghĩ và hành động, thì sẽ sớm khắc phục được khó khăn hiện nay”, có nên chăng?

    – Bác đã một đi không trở lại, còn tuổi trẻ ngày nay không quan tâm nhiều về lịch sử thời của bác, thậm chí còn nghi ngờ các nhìn nhận của thế hệ trước. Còn hải quân ta thì đã thành một đám đông anh hùng Núp. Ngư dân mới là vai chính. Vai trò nòng cốt gìn giữ chủ quyền đất nước của ngư dân có được là nhờ QH. Vậy nên lấy ngày QH thông qua luật Dân Quân Tự Vệ Biển làm ngày Ngư Dân Giữ Biển là chính danh toàn vẹn….

    Tản Luận Về Hư Chiêu?

    Chiến lược Dân quân TV biển, dù đã trưng qua QH và đã định hướng khắc phục khó khăn như trên, vẫn khiến lắm người hoang mang về các ý niệm “hư chiêu” nảy sinh đây đó:

    Hư chiêu 1: Tàu phù gợi ý cho lãnh đạo ta nâng cấp pháp lệnh thành luật dân quân tự vệ biển để chờ 1 vụ cướp cò làm cớ khai hỏa? Xem ra xác suất không cao, bởi chính TQ cũng không thực sự chủ trương châm ngòi chiến tranh khu vực, đặc biệt là giữa những nhà nước XHCN hiếm hoi còn sót lại hôm nay.

    Hư chiêu 2: Lãnh đạo ta thử nghiệm nước cờ “đánh dứ” để dò xem phản ứng bọn Tàu? Kể cũng khó, bởi phản ứng đó đã có sẵn/chưa thể quên: Từ đầu năm 2005, hải quân TQ đã bắn giết ngư dân Hòa Lộc (Thanh Hóa) rồi kéo xác về Hải Khẩu (đảo Hải Nam). Phát ngôn của Bộ ngoại giao TQ Khổng Tuyền bấy giờ tuyên bố rằng: Cảnh sát biển TQ đã “bắn chết một số người có vũ trang, bắt một tàu và tám người khác cùng vũ khí, đạn dược và ngư cụ”. (Không khác gì nhà nước ta chỉ bắt giam người vi phạm pháp luật chứ không bắt người bất đồng chính kiến!).

    Hư chiêu 3: Lãnh đạo ta vừa mới coi bộ phim Thủy Chiến (thời nhà Minh) của điện ảnh TQ chiếu trên kênh HTV7, và muốn triển khai thành chính sách “Thương bang nuôi Ngư dân hải chiến thay cho triều đình”? Không hẳn, bởi đó là phim TQ thì Bắc Kinh chủ động đã phải nắm vững đối sách hơn ta học lóm.

    Hư chiêu 4: Hà Nội tiến hành một thí điểm trong điện ảnh vẫn gọi là “đóng thay vai chính” (stuntmen) để rút kinh nghiệm cho hải quân VN? Hiệu ứng có thể thấy trước: Lãnh đạo ta thí điểm ngư dân cầm súng thì giặc cũng thí điểm bằng đoàn chiến hạm Ngư Chính để xem chủ trương của ta có thật thế không.

    Hư chiêu 5: Ta thử nghiệm kế sách “Lính lẩn vào Dân-Lấy dân làm Mộc”? Cái khó là ngư dân ta chả dại: Tới lúc xảy ra sự cố, Bắc Kinh đòi phải giải quyết, nhà nước ta buộc phải “xử lý ở mức độ dân sự” các dân quân tự vệ biển về tội “cướp cò, gây thiệt hại trầm trọng…”, cho đẹp lòng các “Trên của Trên”, để giữ chặt ổn định mối giao hảo mọc rễ trên 16 chữ vàng, thì biết lấy ai nuôi vợ con?….

    – Luận gì thì luận. Thực hư gì cũng mặc. Làm cho nó tưởng là ngư dân mình có súng, thì: 1. là nó bùm trước cho chắc cú; 2. là nó kiểm tra khả năng bóp cò của ta xem có thật hải quân giả dạng ngư dân không; 3. là nó khạc đại bác/đại liên thử coi dân quân tự vệ mình “điếc không sợ súng” tới đâu. Đằng nào ngư dân cũng …chết chắc!

    Chủ Quyền = Thế + Lực?

    Thế yếu của VN là chính trị chư hầu. Lực yếu của VN là quân đội co rút. Không mấy ai nghe tin tàu lạ tấn công tàu cá của Phi, phải chăng vì chính phủ Phi ít “mềm dẻo” hơn ta?

    GS.TS Trần Ngọc Thêm nói không sai: “Hãy thừa nhận một điều không phải lúc nào sự lãnh đạo của Đảng cũng đúng. Nhiều vụ việc trong quá khứ đã chứng minh điều đó, như vụ đấu tố, vụ khoán…”. Gần đây, lãnh đạo ta đã quyết định tự kéo tụt cả thế lẫn lực của VN (dẹp biểu tình/rước đuốc Olympic/câm nín trước mọi cưỡng bức… và cả tư túi tiền ngoại bang đấm mõm). Lý do chính yếu: Bắc Kinh không phải thuộc diện thế lực thù địch? Tàu lạ đánh đập/bắn giết/bắt cóc ngư dân đòi tiền chuộc cũng không phải thuộc diện thế lực thù địch?

    Hai năm rõ mười: Lãnh đạo Hà Nội lệ thuộc vào Bắc Kinh. Đường dây nóng chỉ để nhận lệnh thiên triều. Đảng bất lực trước Tàu. Đảng bất lực trên biển. Đảng tự tạo ra tình trạng vô chính phủ. Đảng tự đánh mất thế và lực cần thiết để khẳng định quốc thể và chủ quyền. Đảng chính là giặc nội xâm. Đảng tự ý xác nhận và khuếch đại tính nhược tiểu cho cả dân tộc. Đảng “bán cái”. Đảng không luyện binh nhuệ, đảng chỉ cần dân đông. Đảng quyết định “giao họa cho dân”. Đảng “thí điểm” ngư dân. Đảng làm luật tử hình tập thể ngư dân…

    Dân đánh cá biển – Đảng đánh cá cược?

    Trong một bài phỏng vấn mới đây về trận đánh hỏa công ở Long An thời kháng Pháp, Lão họa sĩ Hoài Nam đã kể lại: “Đó là một trận đánh hồn nhiên. Khoảng năm 1945 khi tôi gia nhập Đội Thiếu niên tiền phong Thủ Thừa – Long An. Lúc này Pháp mượn cớ giải giáp Nhật để chiếm lại nước ta. Tôi bàn với các đội viên bày binh bố trận theo lối “hỏa công Xích Bích” trong Tam Quốc: Kết ghe thuyền lại với nhau, cắm cọc dưới đáy sông, rồi lợi dụng hướng gió, dùng hỏa công đánh tàu Tây trên sông. Kết quả là… thảm hại vì tàu giặc bằng sắt thép, hỏa lực lại mạnh. Bọn tôi người bị bắn, người bị bắt. Tôi trốn được lên Sài Gòn sống vất vưởng…”.

    Hơn nửa thế kỷ sau trận đánh hồn nhiên đó, đảng CSVN lựa chọn cho nhân dân VN một Chiến Lược Hồn Nhiên khác: Lực lượng nòng cốt giữ gìn chủ quyền biển đảo VN là Dân Quân Tự Vệ Biển. Quốc hội ta cũng đang hồn nhiên thông qua. Hồn nhiên xác quyết đường lối Thậm Hèn Với Giặc-Cực Ác Với Dân!

    Mọi chất vấn hay góp ý, nếu có, xin cứ hồn nhiên gửi về:

    Chủ nhiệm UB Quốc phòng-An ninh QH khóa XII Lê Quang Bình

    Số 26 ngõ 34A Trần Phú, phường Điện Biên, quận Ba Đình, Hà Nội.

    20-11-2009. Kính mừng Ngày Nhà Giáo/Chào đón các nhà chòi

    http://dinhtanluc.multiply.com

    Hỏi: Như ông đã biết, VN đang thảo luận về việc xây dựng nhà máy điện hạt nhân với 8 tổ máy tại Ninh Thuận. Từng tham gia thiết kế 4 nhà máy điện hạt nhân (ĐHN) và viết hơn 100 khảo cứu và phúc trình về sự an toàn và giá thành của ĐHN so với các nguồn tạo điện khác, tham gia tẩy uế phóng xạ tại 10 trung tâm nguyên tử khắp nước Mỹ và đánh giá hơn 50 nhà máy hạt nhân của Mỹ, ông có suy nghĩ gì về mong muốn xây dựng nhà máy ĐHN?

    Phùng Liên Đoàn: Điện là rất cần thiết cho phát triển kinh tế, nhưng việc sản xuất điện mất rất nhiều tiền và thời gian. Vì thế, khảo sát và đề xuất cách cung cấp điện cho tương lai là việc quan trọng. Tuy nhiên, việc đệ trình lên Quốc hội một đề án ĐHN lớn 8000 MW, trong khi Quốc hội có rất ít thì giờ và người dân đủ mọi thành phần chưa có cơ hội hiểu biết và đóng góp, là một việc làm có rất nhiều rủi ro sai lầm dẫn đến phí phạm ngân sách quốc gia vốn đã rất eo hẹp. “Mong muốn” xây dựng nhà máy ĐHN để thành một “cường quốc” ĐHN là một việc duy ý chí không có cơ sở vững chắc. Tôi ở nước ngoài nghe nói vài năm trước ta có dự án lớn “điện toán hóa” các cơ quan giáo dục toàn quốc nhưng ngày nay tiền đã tiêu hết nhưng kết quả thì không như dự kiến. Chương trình có ĐHN to lớn để sánh vai với các nước giàu và công nghệ cao thì tốn kém hơn ngàn lần kinh nghiệm đó. Ta không thể tin ngay một số người đã có định kiến sẵn là ta “thừa sức làm” vì đó là duy ý chí. Quốc hội nên yêu cầu chính phủ nghiên cứu kỹ lưỡng hơn với điều kiện có sự phản biện của người dân, nhất là giới trí thức có am hiểu về khoa học, kinh tế, xã hội, và quốc phòng liên quan đến ĐHN và tương lai của đất nước. Ta nên nhớ rằng người làm cho chính phủ được trả lương, còn người dân thì không, vì thế ta nên rất trân trọng người có lòng với quốc gia đưa ra phản biện.

    Hỏi: Với việc xây dựng nhà máy điện hạt nhân, những rủi ro có thể gặp phải là gì? Trong trường hợp Việt Nam, rủi ro nào đáng phải lưu tâm nhất?

    Phùng Liên Đoàn: Tôi đã có một bài viết về 15 rủi ro của ĐHN, và tôi xin gửi lại đây để quí vị theo rõi kỹ hơn là lời tôi nói. Rủi ro thì nhiều lắm. Khi tôi nghiên cứu về các rủi ro này thì phải dùng tới ba phương pháp gồm: (a) “cách nào?” (event tree analysis), (b) “xác suất bao nhiêu?” (fault tree analysis), và (c) “hậu quả ra sao?” (consequence analysis). Chúng tôi nghiên cứu hơn 240,000 cách khác nhau dẫn tới sự cố (dĩ nhiên phải dùng điện toán). Nhưng tôi chỉ tóm tắt các rủi ro này thành 7 rủi ro phóng xạ và kỹ nghệ, 6 rủi ro kinh tế, và 2 rủi ro quốc phòng.

    Trong trường hợp VN, tôi nghĩ rủi ro lớn nhất là ta sẽ mắc nợ triền miên mà người dân lại không có điện theo như dự kiến. Viêc này có xác suất khá cao – cao bao nhiêu thì ta phải dùng các phương pháp nói trên khảo sát. Nhưng thật ra ta đủ hiểu biết để phỏng đoán các xác suất. Ví dụ, khả năng ta hiểu chưa kỹ các lời chào bán của người bán hàng ĐHN là cao; khả năng ta suy tính sai vì duy ý chí là cao; khả năng ta làm sai vì thiếu hiểu biết là cao; khả năng ta có nhiều kiện tụng, như Phần Lan hiện nay, với các công ty ngoại quốc khi nhà máy đang xây là cao. Còn như khả năng chiến tranh với các nước láng giềng thì ta cứ nhìn vào sự tàn phá các công trình và nhà cửa của ta ở Lạng Sơn trong chiến tranh chớp nhoáng 1979 thì rõ. Người ta đã nói nếu ta không học lịch sử thì lịch sử sẽ tái diễn.

    Hỏi: Từ kinh nghiệm của nước Mỹ, theo ông, chúng ta có thể tránh được các rủi ro đó không, và bằng cách nào?

    Phùng Liên Đoàn: Ta không cần chỉ theo kinh nghiệm của Mỹ, mà phải theo kinh nghiệm của mọi nước trên thế giới và cả kinh nghiệm của Việt Nam.

    * Rủi ro phóng xạ của nhà máy ĐHN là rất nhỏ, chưa bằng một phần nghìn của việc ta đi xe cộ ở Hà Nội. Cách đây vài năm, tại Hà Nội cũng có một sự cố phóng xạ trong một viện khảo cứu mà không chết ai và không làm ai bị đau ốm. Nhưng ở mọi nơi người ta sợ “an toàn ĐHN và sự cố phóng xạ” như sợ ma; mà từ xưa đến nay, có thể chỉ có vài người bị ma giết vì do họ sợ hãi đứng tim.

    * Kinh nghiệm của Mỹ là “đừng làm sai, tính sai, mua sai, điều hành sai” vì như vậy là mất trắng 5-10 tỉ USD như chơi xóc đĩa.

    * Kinh nghiệm của Nga là “đừng duy ý chí, ham to lớn và nhanh chóng mà quyết định không có suy nghĩ cẩn thận tới hạnh phúc của người dân”. Bởi vì các sự cố phóng xạ lớn nhất, ảnh hưởng tới nhiều người nhất, làm độc cho nhiều đất đai nhất, tốn kém cho quốc gia nhiều nhất đều xảy ra ở Nga Xôviết.

    * Kinh nghiệm của Thụy Điển, Ý và Đức là không nên nghe tuyên truyền quá lố về năng lượng tái tạo mà cấm ĐHN, bởi vì các năng lượng tái tạo (năng lượng mặt trời dưới mọi hình thức như thủy điện, gió, sóng, quang điện, nhiệt điện, củi cỏ…) đều đắt tiền và cũng có nhiều rủi ro. Ngày nay, Ý và Thụy Điển đã thay đổi luật cấm ĐHN và Đức thì cũng rục rịch như vậy.

    * Kinh nghiệm của Phi Luật Tân là quyết định độc đoán của người quyền lực coi thường trí thức đã khiến người dân phải trả nợ dài dài cả ngay sau khi nhà độc tài đã qua đời.

    * Kinh nghiệm của VN là “nói thế nhưng không phải là thế”, bởi vì ít có công trình lớn nhỏ nào mà có sự minh bạch về tiền bạc, đấu thầu, kết thúc hoàn hảo về kỹ thuật và tài chính 100% như thiết kế. Nhiều nước tiên tiến ngày nay còn có trường hợp kết thúc giỏi hơn và rẻ hơn thiết kế. Ai cũng biết ở đâu có tiền thì có hối lạm, thế giới cũng vậy và VN cũng vậy. Có điều các nước pháp trị có luật lệ chặt chẽ, áp dụng nhanh chóng và không tùy tiện, thành ra một con sâu hối lạm không làm hư hại cả chương trình. Tôi mong rằng tất cả những người có liên hệ tới chương trình ĐHN của Việt Nam trong việc lập chính sách, đi tham quan, ký giao kèo, xây cất, kiểm sát… đều kê khai tài sản và ký văn bản không có “mâu thuẫn lợi ích” như chính phủ đã có chính sách từ vài năm nay. Nói như vậy không có nghĩa là tôi vô lễ nghi ngờ họ, nhưng tôi cho rằng nếu họ cung cúc tận tụy trong việc nghiên cứu và làm chính sách quan trọng cho quốc gia thì họ sẽ rất tự hào khi minh bạch về vấn đề này. Và như vậy người dân sẽ tin họ.

    Hỏi: Việc một quốc gia chưa từng có kinh nghiệm trong ngành năng lượng hạt nhân, liệu có khả thi khi chúng ta dự kiến xây dựng và hoàn thiện 8 lò đồng thời từ nay đến 2020?

    Phùng Liên Đoàn: Có chương trình lớn như vậy là rất “xôm”, rất hãnh diện khi đọc một diễn văn trước một cử tọa ngoại quốc mà nước nào cũng giàu và nhiều kinh nghiệm về ĐHN hơn ta. Nhiều công ty nguyên tử đang mong muốn có việc tại một quốc gia họ coi là “ổn định” và “luật pháp không khó khăn nếu quen biết với lãnh đạo”. Họ vui vẻ nhảy vô ve vãn lãnh đạo ta, mời mọc trí thức ta, dẫn trí thức ta đi xem các công trình trên thế giới, và khéo léo đưa ta đến quyết định là “hoàn toàn khả thi!”. Nhưng ta phải nhìn vào ngân sách, vào đội ngũ thầy thợ, vào hạ tầng cơ sở, vào các công trình ta đang làm như nhìn vào một tấm gương, thì ta biết có “khả thi” chưa, và “khả thi tới mức độ nào”.

    Tôi nghĩ, sự thật diễn ra sẽ không phải là ta có thể xây và điều hành 8 nhà máy trong hơn chục năm. Ta sẽ phải làm hạ tầng cơ sở và xây một hay hai lò trước. Việc này sẽ có nhiều sự cố công nghệ, tăng giá thiết bị và kiện tụng làm rỗng túi quốc gia. Nhà máy thứ 3+4, 5+6, 7+8 sẽ phải lùi lại hoặc hủy bỏ chứ không dễ dàng như dự kiến. Đây là kinh nghiệm vào những năm 1970 của công ty chính phủ tại tiểu bang Washington phía Tây Bắc nước Mỹ (Washington Public Power Supply System – WPPSS), muốn có một hệ thống vĩ đại gồm 5 nhà máy ĐHN với công suất 6000 MW (nhỏ hơn Việt Nam tính xây 8000 MW). WPPSS đi vay nợ 8.3 tỉ USD, nhưng chỉ xây được một lò rồi bị phá sản vì giá nhà máy ĐHN tăng lên nhiều hơn dự kiến.

    Còn việc điều hành có khả thi không thì ta phải học hỏi dần dần. Cũng như khi ta mới sử dụng máy bay Boeing lớn, ta phải thuê phi công ngoại quốc và thuê bảo trì ở Hong Kong hay Singapore. Nhà máy ĐHN đầu tiên sẽ có rất nhiều công nhân ngoại quốc, và chuyên viên ta sẽ là phụ cho họ để học hỏi kinh nghiệm, dù cho nhiều người của ta có thâm niên thợ hàn, thợ sắt, thợ bê tông, thợ điện… hoặc ôm bằng thạc sĩ, tiến sĩ. Việc thuê công nhân ngoại quốc có lương gấp 5 gấp 10 lương của công nhân ta (mà do ngân sách của ta trả) cũng sẽ gây bất mãn mà hậu quả rất khó đo lường. Vì thế, việc “khả thi” phải hiểu theo nhiều phương diện khác nhau.

    Hỏi: Thực ra, trong chiến lược phát triển năng lượng hạt nhân của Việt Nam, một trong những mục tiêu xuyên suốt là thông qua xây dựng nhà máy điện hạt nhân để nâng tiềm lực khoa học công nghệ quốc gia, là cái cớ để đẩy các ngành công nghệ, viễn thông, tự động hóa… của Việt Nam phát triển. Theo ông, Việt Nam có thể hiện thực hóa được mục tiêu này hay không? Cách làm như thế nào? (Kinh nghiệm từ thực tế ở các nhà máy điện hạt nhân mà ông từng tham gia).

    Phùng Liên Đoàn: Viễn kiến này nói thì dễ nhưng thực hiện thì rất khó. Nói như vậy là chỉ để thêm hoa hòe hoa sói cho mục đích thúc đẩy Quốc hội chuẩn y mong muốn của giới thích xây nhà máy ĐHN. Chắc cũng như việc điện toán hóa các cơ sở giáo dục để thúc đẩy công nghệ tin học, tự động hóa, và thông tin nhạy bén trong giáo dục của ta.

    Tôi có thiển ý là ta có thể nâng cao không những tiềm lực mà cả năng lực thực tế của khoa học công nghệ quốc gia về mọi phương diện bằng phương pháp rất Việt Nam, nhân bản hơn, thực tế hơn, rẻ tiền hơn, nhanh hơn, và dễ xin viện trợ hoặc vay tiền nhẹ lãi hơn, như sau:

    1. Dùng vài phần trăm tiền nhà máy ĐHN để mắc nối lại hệ thống phân phối điện chằng chịt ở Hà Nội, Sài Gòn, Hải Phòng, Đà Nẵng và toàn thể các thành phố. Dùng dây điện có điện trở thấp (nghĩa là to hơn, tốn tiền hơn) và khuyến khích như vậy trong cả triệu căn nhà. Hiện ta mất mát điện khoảng 11% vì hiệu ứng Ohm (nhiều hơn nếu tính sự mất điện trong cả triệu nhà vì dây điện quá nhỏ), trong khi các nước Âu Châu và Mỹ chỉ mất khoảng 6% và Israel chỉ mất khoảng 3%. Với phương pháp này ta cũng tránh được nhiều nạn cháy chết người và thiệt hại tài sản lớn. Ta cũng tạo được nhiều công việc cho người dân.

    2. Dùng vài phần trăm tiền nhà máy ĐHN để mua bóng đèn neon (loại neon mới không cần phải hình ống) rồi bán rẻ cho người dân. Việc này sẽ tiết kiệm khá nhiều điện trong vòng một năm và người dân sẽ nhẹ gánh hơn khi giá điện liên tục gia tăng.

    3. Dùng vài phần trăm tiền nhà máy ĐHN giúp các công sở và nhà tư có máy điều hòa dùng cửa sổ có hai lớp kính và bịt kín các lỗ hổng để máy làm lạnh không khí dùng ít điện thôi mà không ảnh hưởng tới khí hậu mát mẻ. Chỉ mua mới các máy lạnh có dùng “ống dẫn nhiệt” (heat pipe) do một người Việt là Đinh Khánh chế tạo (Heat Pipe Technology, Inc) để lấy hơi nước trong không khí ra trước việc làm lạnh không khí, và như vậy tốn ít điện hơn. Các công tác này sẽ giúp tạo rất nhiều dịch vụ kinh tế và công việc cho nhiều người.

    4. Dùng vài phần trăm tiền nhà máy ĐHN để khuyến khích và đặt giải thưởng cho cán bộ và công nhân các nhà máy đốt than học hỏi cách điều hành với năng suất 90%-95%. Đầu tư thiết bị tẩy SOx và hút bụi trước khi cho khói tuôn ra ống khói. Việc này cũng khuyến khích tinh thần công nhân và làm tốt cho sức khỏe của người dân sống gần nhà máy.

    5. Dùng vài phần trăm tiền nhà máy ĐHN để sửa sang các đập nước, huấn luyện người điều hành về dự toán thời tiết, huấn luyện họ cộng tác với nhau, vét sâu hồ chứa nước, tu bổ phương pháp ngăn ngừa, điều hành lũ lụt và giúp đỡ người dân có biện pháp phòng vệ nước lũ ở hạ nguồn. Đồng thời tăng gia trồng rừng trên thượng nguồn. Việc này sẽ tránh được những thiệt hại xả lũ năm 2009 và gây thêm hạnh phúc cho người dân sống gần đập nước.

    6. Dùng vài phần trăm tiền nhà máy ĐHN nghiên cứu việc lập các hồ dự trữ điện tại các đập nước (phương pháp này gọi là pumped storage) để vừa tránh sự cố lũ lụt, vừa làm tăng lợi ích giữa ngày và đêm của các đập nước.

    7. Dùng vài phần trăm tiền nhà máy ĐHN để thăm dò và phát triển khí đốt bằng phương pháp khoan ngang ở nhiều độ sâu, với mục đích tìm nhiều hơi khí như mới phát triển vài năm nay tại Mỹ.

    8. Dùng vài phần trăm tiền nhà máy ĐHN giúp từng địa phương tìm cách tạo điện và nhiên liệu ngay ở địa phương của mình. Nếu làm nhỏ ở địa phương thì mạng lưới điện sẽ bền vững hơn và đường dây 500 KV Bắc Nam có công dụng hơn. Nhưng ta nên có phương pháp thống nhất chia sẻ kiến thức và nêu cao tinh thần minh bạch để các lỗi lầm do tính tùy tiện được giảm thiểu. Ta nên khuyến khích người dân đóng góp ý kiến theo tinh thần của Pháp lệnh Dân chủ mà Quốc hội đã ban hành ngày 20-4-2007.

    9. Dùng vài phần trăm tiền nhà máy ĐHN giúp người dân dùng bếp ít tốn than củi giống như ở Trung Quốc, và các quạt gió nhỏ để thắp sáng ban đêm. Tôi nghĩ, tuy trên thế giới chưa thấy nói, nhưng trí thức của ta có thể thí nghiệm dùng các “chong chóng nhỏ nhưng quay suốt ngày đêm cộng với một dynamo (giống xe đạp) rồi trữ điện vào một bình điện (giống như bình điện xe hơi)” và như vậy người dân quê có triển vọng nấu cơm bằng gió! Thế giới chưa làm vì họ dùng rất nhiều điện, trong khi người nghèo của ta sẽ sử dụng tốt khi chỉ có một bình điện nhỏ “trời cho” mỗi ngày. Kỹ nghệ “chong chóng điện” sẽ rất Việt Nam và lợi cho kinh tế Việt Nam.

    10. Dùng vài phần trăm tiền nhà máy ĐHN để có các phương pháp và thiết bị thực hiện chính sách dùng càng nhiều điện thì giá điện càng cao; dùng điện ban ngày thì đắt hơn dùng điện ban đêm. Như vậy là điều hòa tốt việc sản xuất điện không lên xuống quá mức, khuyến khích không phung phí điện và người giàu dùng nhiều điện thì phải trả nhiều hơn người nghèo. Chắc Việt Nam đã có chính sách này nhưng tôi không có dữ kiện.

    Trí thức Việt Nam có thể suy nghĩ theo kiểu “để dành một đồng có nghĩa là kiếm thêm được một đồng” để tính được rằng các phương pháp trên và nhiều ý kiến khác sẽ giúp Việt Nam không cần thêm 8000 MW ĐHN vào những năm 2020-2030 mà lại chỉ tốn kém bằng 30–50% tiền đầu tư vào ĐHN. Đây là một thách đố với khoa học và trí tuệ Việt Nam mà tôi tin rằng ta có thể làm được ngày nay nếu chính phủ muốn có sự đóng góp của trí thức trong nước cũng như ngoài nước. Sự kiện này sẽ thúc đẩy công nghệ và kinh tế của ta tăng trưởng bền vững, do đó làm tăng nội lực và sự tự tin của quốc gia. Và đó là rất Việt Nam chứ không phải là đua đòi cái xu hướng, cái vĩ đại của các nước giàu hơn ta. Yếu tố quan trọng là chính phủ chỉ nên làm chính sách, còn mọi chi tiết thì nên để kinh tế thị trường điều hành thì mới thực hiện được mục đích thông suốt là thúc đẩy khoa học, công nghệ, kinh tế, và xã hội để kiến tạo hạnh phúc cho người dân. Yếu tố thanh liêm minh bạch có kiểm chứng phải luôn luôn đi đôi với mọi công tác.

    Theo kinh nghiệm của nhiều bạn của tôi làm việc với Ngân hàng Quốc tế (World Bank – WB), Quỹ Tiền tệ Quốc tế (International Monetary Fund – IMF), Ngân hàng Phát triển Á châu (Asian Development Bank – ADB) và Chương trình Phát triển Liên Hiệp quốc (United Nations Development Pro-gram – UNDP) thì một chương trình như trên sẽ có hiệu quả hơn là xây nhà máy ĐHN và do đó dễ vay tiền hơn.

    http://bauxitevietnam.inf

 

THƯ NGỎ GỬI QUÍ Vị ĐẠI BIỂU QUỐC HỘI

VÀ LÃNH ĐẠO CHÍNH PHỦ

VIỆT NAM

Phùng Liên Đoàn,

116 Milan Way, Oak Ridge,

 

Tennessee, USA

Tel.: 865-483-0666. Email: doanlphung@gmail.com

    Ngày 24 tháng 11, năm 2009

    Thưa Quí vị:

    Tôi là Phùng Liên Đoàn, 70 tuổi, đang già ở Mỹ và sẽ chết ở Mỹ. Tôi đã đã làm việc trong 45 năm qua trong ngành nguyên tử và môi trường. Tôi đã sống ở Mỹ từ năm 1958, nhưng được ăn học cả ở miền Bắc và miền Nam Việt Nam, cùng là có vợ gốc gác miền Trung. Tôi đã tham dự bầu cử tổng thống Mỹ 9 lần và đại biểu Quốc hội Mỹ 19 lần.

    Được biết Việt Nam có chương trình điện hạt nhân Ninh Thuận, tôi có theo dõi và đã đóng góp vài tham luận. Tôi không có mâu thuẫn lợi ích gì về dự án này và tôi không có dịch vụ nào ngoài việc làm từ thiện tại Việt Nam.

    Vì biểu quyết của Quốc hội rất quan trọng cho việc sử dụng ngân sách và tương lai của quốc gia, tôi mạo muội gửi các ý kiến sau:

    1- Báo Cáo Đầu Tư, như tôi được biết qua sách báo, chưa đánh giá đúng những hậu quả kinh tế, tài chính, và quốc phòng của dự án điện hạt nhân Ninh Thuận. Quí vị nên trì hoãn chấp thuận cho tới khi mọi thành phần trí thức Việt Nam có phản biện đúng mức vào vấn đề này rất quan trọng cho 87 triệu người dân.

    2- Theo tôi, vì Việt Nam không có ý định làm bom nguyên tử, điện hạt nhân cũng chỉ là một cách làm điện. Nhưng nó rất tốn kém, thiết kế rất lâu và xây cất rất khó. Ta sẽ khó dùng được trí tuệ Việt Nam vì phải mua hầu hết nhân sự và vật liệu cao cấp của nước ngoài. Nó lại tiềm ẩn rất nhiều rủi ro kiện tụng quốc tế cùng là mất trắng tiền đầu tư khi có sự cố.

    3- Với chương trình hiện tại, nếu quí vị bấm nút chấp thuận, thì ta sẽ bước vào việc sửa soạn cho Mốc 2 tốn kém nhiều chục triệu USD rất vô bổ cho người dân. Nếu ta đi thêm tới Mốc 3 thì ta có thể mắc nợ 35 tỉ USD vào năm 2025 mà con cháu ta sẽ phải gánh chịu. Đồng thời, giá điện, nếu sản xuất được, sẽ tăng gấp ba giá điện hiện nay.

    4- Điện hạt nhân sẽ không gây thêm hãnh diện gì cho quốc gia. Các nước giàu có hơn ta như Mã Lai, Tân Gia Ba, Đan Mạch, Na Uy, Israel… chưa có điện hạt nhân mà họ vẫn được kính nể trên thế giới. Tổn phí của việc theo đuổi điện hạt nhân có thể dùng kích thích khoa học công nghệ Việt Nam cho thực tiễn với nhu cầu của Việt Nam. Hãnh diện quốc gia có thể tạo lập nhanh chóng hơn và có thể nhìn thấy, sờ thấy bằng những chương trình rất dễ thực hiện với trí tuệ và vật lực sẵn có. Ví dụ, ta có thể thực hiện văn hóa và kỷ luật xe cộ, văn hóa và kỷ luật làm sạch đường xá sông rạch, dự án không quan liêu giúp thầy cô sửa sang trường học, giúp sinh viên có chỗ ăn ở tốt hơn, xây thêm nhà thương, làm thêm giường cho người bệnh, giúp ngư dân, và giúp nạn nhân bão lụt tái lập nếp sống.

    5- Với 50% số tiền nhà máy điện hạt nhân đòi hỏi, trí thức Việt Nam, nếu không phải là quốc doanh, có thể xây 4000 MW điện dùng tài nguyên của Việt Nam thay vì nhiên liệu hạt nhân phải nhập khẩu, phát kiến được những ngành nghề mới hợp với các điều kiện của Việt Nam thay vì đua đòi với các nước giàu có, kích thích khoa học công nghệ áp dụng vào đời sống, và tạo được nhiều triệu công ăn việc làm cho người dân.

    Tôi hi vọng quí vị sẽ có quyết định định làm người dân hồ hởi.

    Kính thư,

    Phùng Liên Đoàn

    Tổng Giám đốc Công ty PAI Corporation. Chủ tịch Trung tâm Khuyến khích Tự lập. Giải thưởng UN-HABITAT vể công việc từ thiện tại Việt Nam

    http://bauxitevietnam.info/c/19201.html

Đấu tranh hoà bình, bất bạo động.

Vạch trần mặt thật

Hồ Chí Minh.

Giải thể chế độ Cộng sản độc tài.

    “Nhà nước của dân, do dân và vì dân” là câu khẩu hiệu được giăng khắp các han